Hướng xử lý tài sản chung của người phải thi hành án

Xử lý tài sản chung của người phải thi hành án là tình huống Luật Long Phan PMT thường xuyên tiếp nhận trong lĩnh vực thi hành án dân sự, đặc biệt khi tài sản duy nhất có giá trị của người nợ lại đứng tên chung với vợ, chồng hoặc người khác. Nhiều người được thi hành án lo lắng rằng chỉ cần tài sản đứng tên chung là cơ quan thi hành án “bó tay”, trong khi thực tế pháp luật đã có cơ chế xác định phần sở hữu để cưỡng chế đúng phạm vi nghĩa vụ. Bài viết dưới đây phân tích căn cứ pháp lý hiện hành, quy trình xử lý tài sản chung của người phải thi hành án khi bên nợ né tránh, và những điểm mới quan trọng vừa có hiệu lực từ Luật Thi hành án dân sự 2025.

Xử lý tài sản chung của người phải thi hành án theo phạm vi phần sở hữu và trình tự pháp luật.
Tài sản chung được xử lý theo phần sở hữu của người phải thi hành án sau khi phần quyền đã được xác định.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Tài sản chung của người phải thi hành án chỉ bị cưỡng chế trong phạm vi phần sở hữu tương ứng của người đó, theo khoản 2 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025.
  • Cơ quan thi hành án dân sự không còn được tự ý xác định tỷ lệ phần sở hữu trong tài sản chung mà bắt buộc phải qua thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết, theo khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025.
  • Tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở chỉ bị kê biên khi tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc theo đề nghị của người phải thi hành án, theo Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP.
  • Hành vi tẩu tán tài sản chung để né tránh nghĩa vụ có thể bị xử phạt hành chính đến 20.000.000 đồng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Tài sản chung trong thi hành án dân sự được xác định như thế nào?

Tài sản chung để xử lý tài sản chung của người phải thi hành án là phần tài sản mà người này cùng đứng tên, cùng góp vốn hoặc cùng có quyền sử dụng với một hoặc nhiều chủ thể khác, bao gồm tài sản chung vợ chồng và tài sản chung với người ngoài quan hệ hôn nhân như hộ gia đình, đồng sở hữu hoặc góp vốn kinh doanh.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc quy định khác của pháp luật. Về bản chất pháp lý, Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 xác định đây là sở hữu chung hợp nhất, khác với sở hữu chung theo phần quy định tại Điều 207 và Điều 209 Bộ luật Dân sự 2015 áp dụng cho tài sản chung với người ngoài vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng

Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do hai bên tạo ra, thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định vợ chồng cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ chung về tài sản, đây là căn cứ để cơ quan thi hành án xem xét xử lý tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng là người phải thi hành án.

>>> Xem thêm: Hướng Dẫn Chi Tiết Xử Lý Tài Sản Chung Vợ Chồng Trong Doanh Nghiệp Khi Ly Hôn

Tài sản chung với người khác (hộ gia đình, đồng sở hữu, góp vốn kinh doanh)

Trường hợp người phải thi hành án cùng sở hữu tài sản với hộ gia đình, đồng sở hữu viên hoặc thành viên góp vốn kinh doanh, việc xác định phần quyền được thực hiện theo Điều 207 và Điều 209 Bộ luật Dân sự 2015 về sở hữu chung theo phần. Khác với tài sản chung vợ chồng thường mặc định là phần bằng nhau nếu không có thỏa thuận, sở hữu chung theo phần đòi hỏi xác định rõ tỷ lệ đóng góp của từng chủ sở hữu trước khi cơ quan thi hành án có thể cưỡng chế đúng phần của người phải thi hành án.

Điều kiện kê biên, xử lý tài sản chung để thi hành án

Cơ quan thi hành án dân sự chỉ được kê biên tài sản chung khi tài sản riêng của người phải thi hành án không đủ để bảo đảm nghĩa vụ hoặc khi có đề nghị của chính người phải thi hành án, và phải ưu tiên xử lý các loại tài sản khác trước khi động đến quyền sử dụng đất, nhà ở thuộc sở hữu chung.

Theo Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự 2025, cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của người phải thi hành án. Đây là nguyên tắc thứ tự ưu tiên nhằm hạn chế ảnh hưởng đến chỗ ở và quyền lợi của những đồng sở hữu không có nghĩa vụ thi hành án.

Trường hợp đã xác định được phần sở hữu riêng

Theo khoản 2 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025, khi tài sản chung đã xác định được phần sở hữu của từng chủ sở hữu, Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án nếu tài sản có thể chia được. Trường hợp tài sản không thể chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị tài sản, Chấp hành viên cưỡng chế toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của họ.

Trường hợp chưa xác định được phần sở hữu

Theo khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025, khi chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, Chấp hành viên phải thông báo cho các bên biết để tự thỏa thuận phân chia hoặc yêu cầu Tòa án xác định. Việc xử lý tài sản trong trường hợp này bắt buộc phải có kết quả thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án, Chấp hành viên không có quyền tự ấn định tỷ lệ phần sở hữu.

Quy trình xử lý tài sản chung khi người phải thi hành án né tránh

Khi người phải thi hành án cố tình không hợp tác, quy trình xử lý tài sản chung của người phải thi hành án phải trải qua bốn bước theo trình tự chặt chẽ, từ xác minh, thông báo, khởi kiện tại Tòa án đến cưỡng chế bán đấu giá phần tài sản tương ứng.

Toàn bộ quy trình dưới đây được thực hiện trên cơ sở khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025 và Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP. Doanh nghiệp, cá nhân là người được thi hành án cần nắm rõ từng bước để phối hợp cung cấp thông tin kịp thời cho Chấp hành viên, tránh để hồ sơ bị kéo dài không cần thiết.

  1. Xác minh, kê biên tài sản chung. Chấp hành viên tiến hành xác minh tài sản, xác định đây là tài sản chung với người khác và lập biên bản kê biên theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
  2. Thông báo cho đồng sở hữu, yêu cầu tự thỏa thuận phân chia. Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời hạn luật định.
  3. Khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu khi hết thời hạn mà không thỏa thuận được hoặc bên nợ né tránh không hợp tác. Theo điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025, hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên có quyền chủ động yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  4. Cưỡng chế, kê biên, bán đấu giá phần tài sản của người phải thi hành án. Sau khi có kết quả xác định phần sở hữu, Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo khoản 2 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025. Trước khi tổ chức bán đấu giá lần đầu, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản, theo Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Quy trình xử lý tài sản chung khi người phải thi hành án né tránh nghĩa vụ.
Quy trình xử lý đi từ xác minh tài sản đến xác định phần sở hữu và áp dụng biện pháp cưỡng chế.

Điểm mới từ 01/7/2026: Luật hóa trực tiếp việc xác định phần sở hữu tài sản chung

Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án dân sự 2025 chính thức thay thế toàn bộ Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014), đưa nguyên tắc “không cho phép Chấp hành viên tự chia tài sản chung” lên tầm luật thay vì chỉ nằm ở nghị định như trước đây.

Trước đây, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP từng cho phép Chấp hành viên tự xác định phần sở hữu của vợ, chồng (thường theo tỷ lệ 1/2) mà không cần qua thủ tục tố tụng. Cơ chế này đã bị bãi bỏ từ ngày 01/01/2025 theo Nghị định 152/2024/NĐ-CP. Đến nay, khi Luật Thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực, nguyên tắc bắt buộc thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu được quy định trực tiếp tại khoản 1 Điều 39 của Luật này, đồng thời Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể thứ tự ưu tiên xử lý tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở. Việc luật hóa này giúp thống nhất áp dụng trên toàn quốc, hạn chế tình trạng mỗi Chấp hành viên áp dụng một cách khác nhau như trước đây.

Ý nghĩa thực tiễn đối với người được thi hành án là quy trình xử lý tài sản chung của người phải thi hành án khi bên nợ né tránh vẫn phải đi qua bước thỏa thuận hoặc khởi kiện tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, không có đường tắt hành chính nào rút ngắn được giai đoạn này. Đây chính là kẽ hở về mặt thời gian mà bên nợ thường lợi dụng để trì hoãn nghĩa vụ, sẽ được phân tích cụ thể ở phần tiếp theo.

>>> Xem thêm: Thi hành án đối với tài sản là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án

Các thủ đoạn né tránh nghĩa vụ trả nợ thường gặp khi có tài sản chung

Bên có nghĩa vụ thường lợi dụng khoảng thời gian chờ thỏa thuận hoặc chờ Tòa án giải quyết để thực hiện các giao dịch nhằm tẩu tán tài sản hoặc cố tình không hợp tác, khiến việc xử lý tài sản chung của người phải thi hành án bị kéo dài.

Chuyển nhượng, tặng cho giả tạo tài sản chung cho người thân

Một thủ đoạn phổ biến là người phải thi hành án lập hợp đồng chuyển nhượng hoặc tặng cho tài sản chung cho người thân ngay sau khi biết có khả năng bị khởi kiện, nhằm che giấu tài sản khỏi phạm vi thi hành án. Theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu. Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hậu quả pháp lý là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trong thực tiễn xử lý các vụ việc tương tự, người được thi hành án nên chủ động thu thập chứng cứ về thời điểm giao dịch, mối quan hệ nhân thân giữa các bên và khả năng tài chính thực tế của bên nhận chuyển nhượng ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường, vì đây là những yếu tố then chốt để Tòa án xem xét tuyên giao dịch vô hiệu.

>>> Xem thêm: Tẩu tán tài sản thi hành án: Hướng dẫn ngăn chặn và xử lý

Cố tình không có mặt, không hợp tác ký văn bản thỏa thuận phân chia hoặc trốn tránh nhận thông báo của Chấp hành viên

Một thủ đoạn khác là người phải thi hành án hoặc đồng sở hữu cố tình vắng mặt, không ký nhận thông báo hoặc từ chối tham gia thỏa thuận phân chia tài sản chung nhằm kéo dài thời gian. Theo Điều 67 và Điều 68 Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm như phong tỏa tài khoản, tài sản gửi giữ hoặc tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản mà không cần báo trước cho đương sự, nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán trong lúc chờ xác định phần sở hữu.

Với trường hợp này, doanh nghiệp và cá nhân là người được thi hành án nên đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm ngay từ giai đoạn xác minh, thay vì chờ đến khi tài sản đã bị chuyển dịch mới yêu cầu xử lý, vì biện pháp bảo đảm áp dụng càng sớm thì khả năng bảo toàn tài sản càng cao.

Chế tài xử lý hành vi né tránh, tẩu tán tài sản chung để trốn thi hành án

Hành vi tẩu tán tài sản chung hoặc cố tình cản trở việc kê biên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra cho quá trình thi hành án.

Xử phạt vi phạm hành chính

Theo điểm a khoản 5 và điểm a khoản 8 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự, hành vi tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, kèm biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.

Truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về Tội không chấp hành án, người có điều kiện mà không chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm theo khoản 1; khung hình phạt tăng nặng từ 02 năm đến 05 năm áp dụng khi chống lại Chấp hành viên hoặc có hành vi tẩu tán tài sản theo khoản 2; ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo khoản 3.

>>> Xem thêm: Hành vi không thi hành án hành chính bị truy cứu trách nhiệm hình sự 

Quyền của vợ, chồng hoặc đồng sở hữu không phải thi hành án

Người không có nghĩa vụ thi hành án nhưng có tài sản chung với người phải thi hành án vẫn được pháp luật bảo vệ quyền lợi thông qua quyền yêu cầu Tòa án phân chia và quyền được ưu tiên mua lại phần tài sản trước khi tài sản bị đưa ra bán đấu giá công khai.

Theo khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025, đồng sở hữu có quyền chủ động thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, thay vì bị động chờ Chấp hành viên xử lý. Bên cạnh đó, theo Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã được xác định trước khi tổ chức bán đấu giá lần đầu, trong thời hạn 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản; đối với các lần bán tài sản tiếp theo, thời hạn ưu tiên mua rút ngắn còn 03 ngày làm việc trước thời điểm mở cuộc đấu giá.

Quyền của đồng sở hữu không phải thi hành án khi tài sản chung bị xử lý.
Đồng sở hữu không có nghĩa vụ thi hành án vẫn có quyền xác định phần sở hữu và ưu tiên mua tài sản.

Kinh nghiệm xử lý tài sản chung khi bên nợ né tránh tại Long Phan PMT

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, một sai lầm phổ biến mà khách hàng là người được thi hành án thường mắc phải là chờ đợi Chấp hành viên tự xử lý tài sản chung mà không chủ động đề nghị Chấp hành viên khởi kiện xác định phần sở hữu ngay khi hết thời hạn 30 ngày thỏa thuận. Vì Luật Thi hành án dân sự 2025 không còn cho phép cơ chế Chấp hành viên tự chia tài sản chung, hồ sơ nào không có đề nghị chủ động từ người được thi hành án dễ bị chậm trễ do phải chờ Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, kéo dài thêm nhiều tháng so với trước đây.

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, một điểm khác biệt giữa quy định trên giấy và thực tiễn áp dụng là việc cơ quan thi hành án dân sự thường ưu tiên xác minh kỹ tài sản riêng của người phải thi hành án trước khi chấp nhận kê biên tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở, đúng theo nguyên tắc thứ tự ưu tiên tại Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP. Nếu hồ sơ của người được thi hành án không cung cấp đầy đủ thông tin chứng minh người phải thi hành án không còn tài sản riêng nào khác, quá trình xác minh có thể bị kéo dài thêm một khoảng thời gian đáng kể trước khi cơ quan thi hành án chấp nhận chuyển sang xử lý tài sản chung.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ thi hành án tại Luật Long Phan PMT

Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư thi hành án dân sự hỗ trợ người được thi hành án, người phải thi hành án và đồng sở hữu trong các vụ việc xử lý tài sản chung. Luật sư rà soát hồ sơ thi hành án, xác định phần quyền của người phải thi hành án, kiểm tra điều kiện kê biên, hỗ trợ thủ tục thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng trong quá trình cưỡng chế, xử lý tài sản. Nội dung dịch vụ được xây dựng phù hợp với cơ chế xử lý tài sản chung theo Luật Thi hành án dân sự 2025 và quy định hướng dẫn hiện hành. Các công việc luật sư thực hiện gồm:

  • Rà soát bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và hồ sơ thi hành án liên quan.
  • Kiểm tra nghĩa vụ phải thi hành và xác định tài sản có khả năng bảo đảm thi hành án.
  • Xác định tài sản của người phải thi hành án là tài sản riêng hay tài sản chung.
  • Rà soát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và hồ sơ pháp lý của tài sản.
  • Kiểm tra tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình, đồng sở hữu hoặc tài sản góp vốn kinh doanh.
  • Đánh giá căn cứ xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung.
  • Rà soát thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng hoặc giữa các đồng sở hữu.
  • Kiểm tra chứng cứ về nguồn gốc hình thành, đóng góp và quá trình quản lý, sử dụng tài sản.
  • Tư vấn điều kiện để cơ quan thi hành án kê biên và xử lý tài sản chung.
  • Kiểm tra trường hợp tài sản riêng của người phải thi hành án không đủ để thực hiện nghĩa vụ.
  • Rà soát điều kiện xử lý quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu chung.
  • Tư vấn thứ tự ưu tiên xử lý tài sản trước khi kê biên nhà đất thuộc tài sản chung.
  • Kiểm tra việc Chấp hành viên xác minh tài sản riêng của người phải thi hành án.
  • Đánh giá việc xác định phần sở hữu khi tài sản chung đã có căn cứ phân chia.
  • Tư vấn trường hợp tài sản có thể chia được và chỉ xử lý phần thuộc người phải thi hành án.
  • Tư vấn trường hợp tài sản không thể chia hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị tài sản.
  • Kiểm tra việc cưỡng chế toàn bộ tài sản và thanh toán giá trị phần sở hữu cho đồng sở hữu theo quy định.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về hướng xử lý tài sản chung của người phải thi hành án

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi cần xử lý tài sản chung của người phải thi hành án. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025 và văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành.

1. Tài sản đứng tên chung với vợ hoặc chồng có bị kê biên thi hành án không?

Có. Theo khoản 2 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên chỉ được cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án sau khi đã xác định được tỷ lệ phần sở hữu. Nếu tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở thì việc kê biên chỉ thực hiện khi tài sản riêng không đủ để thi hành án, theo Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP.

2. Chưa xác định được phần sở hữu trong tài sản chung thì xử lý thế nào?

Theo khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên thông báo cho các bên tự thỏa thuận phân chia trong thời hạn 30 ngày. Hết thời hạn mà không thỏa thuận được, Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu theo thủ tục tố tụng dân sự.

3. Vợ hoặc chồng không có nghĩa vụ thi hành án có được ưu tiên mua lại tài sản chung không?

Có. Theo Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định, trong thời hạn 15 ngày đối với bất động sản và 05 ngày làm việc đối với động sản trước khi bán đấu giá lần đầu.

4. Người phải thi hành án tẩu tán tài sản chung cho người thân thì xử lý ra sao?

Người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng, tặng cho vô hiệu theo Điều 124 và Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 nếu chứng minh được đây là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

5. Cố tình tẩu tán tài sản chung để trốn thi hành án có thể bị xử lý hình sự không?

Có thể. Nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn cố tình không chấp hành, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

6. Luật Thi hành án dân sự 2025 có thay đổi gì so với quy định trước đây về tài sản chung?

Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án dân sự 2025 thay thế Luật Thi hành án dân sự 2008 và luật hóa trực tiếp nguyên tắc bắt buộc thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu tại Điều 39, chấm dứt hoàn toàn cơ chế Chấp hành viên tự chia tài sản chung từng tồn tại ở cấp nghị định trước đây.

Kết luận

Xử lý tài sản chung của người phải thi hành án là một quy trình đòi hỏi tuân thủ đúng trình tự pháp luật, từ xác minh, thông báo, thỏa thuận cho đến khởi kiện tại Tòa án khi bên nợ né tránh. Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án dân sự 2025 đã thay đổi căn bản khung pháp lý cho vấn đề này, đòi hỏi người được thi hành án phải chủ động hơn trong việc đề nghị áp dụng biện pháp bảo đảm và theo dõi sát tiến độ giải quyết tại Tòa án. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đề xuất phương án xử lý phù hợp với từng loại tài sản chung cụ thể. Quý khách cần tư vấn chi tiết có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Thi hành án dân sự 2025
  • Nghị định 152/2026/NĐ-CP
  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014
  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Nghị định 82/2020/NĐ-CP
  • Bộ luật Hình sự 2015
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , , , ,

Vũ Viết Năng

Luật sư Vũ Viết Năng nguyên là Chánh án, Thẩm phán TAND huyện Hải Hậu, Nam Định. Hiện là Luật sư Cộng sự của Công ty Luật Long Phan PMT. Luật sư có 35 năm kinh nghiệm trong công tác xét xử, chuyên môn trong các lĩnh vực Hành chính, dân sự, hợp đồng. Luật sư luôn sẵn sàng tư vấn pháp lí miễn phí cho các đối tượng khó khăn và là điểm tựa để thân chủ đặt niềm tin khi đang gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87