Yêu cầu thi hành án trở lại lại theo luật mới: Điều kiện, thủ tục

Yêu cầu thi hành án trở lại là quyền của người được thi hành án phát sinh sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu vì người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều doanh nghiệp và cá nhân lo ngại rằng khoảng thời gian hồ sơ bị gửi lại sẽ làm mất quyền lợi, đặc biệt khi Luật Thi hành án dân sự 2025 bổ sung hẳn một cơ chế mới về việc gửi lại yêu cầu thi hành án, quy định về thời hiệu và thủ tục thi hành án dân sự để đương sự chủ động bảo vệ quyền lợi của mình.

Thi hành án trở lại theo Luật Thi hành án dân sự khi người phải thi hành án có điều kiện.
Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án trở lại khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án khi hết 02 năm kể từ ngày có quyết định chưa có điều kiện thi hành và đã xác minh lại mà không có thông tin mới.
  • Đương sự vẫn giữ quyền yêu cầu thi hành án trở lại ngay khi phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành, không bị giới hạn bởi việc hồ sơ đã bị gửi lại.
  • Thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định chung là 05 năm, nhưng khoảng thời gian hồ sơ bị gửi lại không bị tính vào thời hiệu này.
  • Việc không lưu giữ văn bản gửi lại yêu cầu thi hành án có thể khiến đương sự gặp khó khăn khi làm thủ tục yêu cầu thi hành án trở lại.

Khi nào cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án?

Cơ quan thi hành án dân sự chỉ gửi lại yêu cầu thi hành án sau khi đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, đã thực hiện xác minh định kỳ theo đúng quy trình nhưng vẫn không phát hiện điều kiện thi hành mới của người phải thi hành án trong thời hạn luật định. Đây là bước bắt buộc phải hoàn tất trước khi phát sinh quyền yêu cầu thi hành án trở lại.

Trước khi Luật Thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực, cơ quan thi hành án dân sự phải duy trì việc theo dõi, xác minh định kỳ đối với những hồ sơ chưa có điều kiện thi hành trong thời gian không xác định, gây tồn đọng và phân tán nguồn lực. Quy định mới về gửi lại yêu cầu được xây dựng nhằm giải quyết thực trạng này mà vẫn bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án.

Điều kiện xác minh và thời hạn 02 năm chưa có điều kiện thi hành

Điều kiện gửi lại yêu cầu thi hành án được xác định khi hết 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, đồng thời đã thực hiện việc xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 nhưng không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Như vậy, đây là hai điều kiện được đặt ra đồng thời; không phải chỉ cần hết thời hạn 02 năm là đủ căn cứ gửi lại yêu cầu.

Theo khoản 1 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ xác định người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành.

Sau khi có quyết định này, theo khoản 3 Điều 38, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án ít nhất 06 tháng một lần đối với trường hợp thông thường. Đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới thì phải xác minh ít nhất 01 năm một lần.

Khoản 4 Điều 38 quy định, hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo khoản 3 nhưng không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án.

Đáng lưu ý, việc xác minh không chỉ được thực hiện theo chu kỳ định kỳ. Khi đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông tin. Nếu xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu thi hành án đã được gửi lại theo khoản 4 Điều 38.

Do đó, người được thi hành án nên chủ động cung cấp kịp thời thông tin, tài liệu về tài sản, thu nhập hoặc các điều kiện khác có thể bảo đảm việc thi hành án của người phải thi hành án. Việc cung cấp thông tin mới giúp cơ quan thi hành án có căn cứ xác minh và xử lý theo quy định, thay vì chỉ chờ kết quả xác minh định kỳ.

Hệ quả pháp lý của việc gửi lại yêu cầu thi hành án đối với đương sự

Việc gửi lại yêu cầu thi hành án không làm mất quyền yêu cầu thi hành án trở lại của đương sự. Khoản 4 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành; đồng thời có quyền yêu cầu Văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo Điều 31 của Luật này.

Đối với trường hợp cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu, Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP quy định cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản về việc gửi lại yêu cầu cho người đã yêu cầu. Yêu cầu thi hành án và tài liệu kèm theo phải được sao chụp và lưu trong hồ sơ thi hành án. Khi đương sự yêu cầu thi hành án trở lại, đương sự phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành. Nếu có căn cứ xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành theo quy định.

Về thời hiệu, Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm trong trường hợp thông thường. Tuy nhiên, không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo khoản 4 Điều 38.

Do đó, người được thi hành án nên chủ động theo dõi tình trạng tài sản, thu nhập và các thông tin liên quan đến điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Khi có thông tin cho thấy người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành, đương sự nên kịp thời cung cấp tài liệu chứng minh cho cơ quan thi hành án dân sự và thực hiện thủ tục yêu cầu thi hành án trở lại theo quy định.

Yêu cầu thi hành án trở lại có bị giới hạn thời hiệu không?

Trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án thì không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án. Đây là quy định mới đáng chú ý của Luật Thi hành án dân sự 2025, tạo cơ sở để đương sự tiếp tục yêu cầu tổ chức thi hành án khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành trở lại.

Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025, thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ. Tuy nhiên, Luật quy định riêng rằng không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo khoản 4 Điều 38.

Do đó, khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định của Luật.

Thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định chung là bao lâu?

Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025, thời hiệu yêu cầu thi hành án về nguyên tắc là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ.

Trong trường hợp người yêu cầu chứng minh được việc không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng thì khoảng thời gian xảy ra các sự kiện này không tính vào thời hiệu.

Hết thời hiệu mà không thuộc trường hợp được loại trừ thời gian tính vào thời hiệu, cơ quan thi hành án dân sự có thể từ chối yêu cầu thi hành án theo điểm d khoản 4 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025.

>>> Xem thêm: Có được yêu cầu thi hành án khi hết hiệu lực thi hành án dân sự

Vì sao thời gian gửi lại yêu cầu không tính vào thời hiệu?

Thời gian kể từ khi cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu đến khi đương sự thực hiện quyền yêu cầu thi hành án trở lại không được tính vào thời hiệu 05 năm, vì trong khoảng thời gian này đương sự không có khả năng thúc đẩy việc thi hành án do người phải thi hành án chưa có tài sản.

Đây là cơ chế bảo vệ quyền lợi tương tự nguyên tắc không tính vào thời hiệu đối với trường hợp có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng vốn đã tồn tại trong pháp luật thi hành án dân sự qua nhiều thời kỳ. Luật Thi hành án dân sự 2025 kế thừa và mở rộng nguyên tắc này sang trường hợp gửi lại yêu cầu, nhằm bảo đảm đương sự không bị thiệt hại chỉ vì cơ quan nhà nước tạm dừng theo dõi hồ sơ theo quy trình luật định.

Thời hiệu yêu cầu thi hành án trở lại và trường hợp không tính thời hiệu theo quy định mới.
Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định thời hiệu chung 05 năm nhưng có trường hợp không tính thời hiệu.

Thủ tục yêu cầu thi hành án trở lại thực hiện như thế nào?

Sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án, khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành, đương sự có quyền yêu cầu thi hành án trở lại. Theo Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, việc yêu cầu thi hành án trở lại được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 và Điều 9 Nghị định này.

Điểm khác biệt là đương sự cần cung cấp thêm tài liệu chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành mới. Đương sự có thể lựa chọn nộp yêu cầu đến cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự tùy theo vụ việc.

Quy trình thực hiện thông thường gồm các bước sau:

  1. Rà soát văn bản gửi lại yêu cầu thi hành án đã nhận trước đó để xác định đúng quyết định chưa có điều kiện thi hành đang áp dụng cho vụ việc.
  2. Thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành mới (thông tin về thu nhập, tài sản, giao dịch phát sinh).
  3. Soạn đơn yêu cầu thi hành án trở lại theo đúng nội dung quy định, nêu rõ căn cứ phát sinh điều kiện thi hành mới.
  4. Nộp đơn yêu cầu kèm tài liệu đến cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  5. Cơ quan có thẩm quyền xem xét và tổ chức thi hành.

Người yêu cầu thi hành án cần tiếp tục phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu về tài sản và điều kiện thi hành của người phải thi hành án nếu cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị khi yêu cầu thi hành án trở lại

Hồ sơ yêu cầu thi hành án trở lại cần tập trung vào việc xác định nghĩa vụ còn phải thi hành và điều kiện thi hành mới của người phải thi hành án. Theo khoản 2 Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, sau khi đã gửi lại yêu cầu, đương sự phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

Thành phần hồ sơ yêu cầu thi hành án trở lại thường bao gồm:

  • Đơn yêu cầu thi hành án trở lại, nêu rõ nội dung theo quy định về đơn yêu cầu thi hành án tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025.
  • Văn bản gửi lại yêu cầu thi hành án trước đó (nếu còn lưu giữ).
  • Bản án, quyết định làm căn cứ thi hành án (bản sao nếu cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu bổ sung).
  • Tài liệu, chứng cứ chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành mới, ví dụ thông tin về tài sản, thu nhập, tài khoản mới phát sinh.
  • Giấy tờ chứng minh tư cách người yêu cầu (căn cước công dân, giấy ủy quyền hợp lệ nếu ủy quyền cho người khác thực hiện).

Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận yêu cầu thi hành án trở lại

Theo khoản 4 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo Điều 34 của Luật này, hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo Điều 31 của Luật này.

Ngoài ra, Nghị định 151/2026/NĐ-CP quy định trường hợp việc thi hành án trước đó đã được gửi lại yêu cầu theo khoản 4 Điều 38 thì người yêu cầu được yêu cầu một Văn phòng thi hành án dân sự hoặc một cơ quan thi hành án dân sự khác có thẩm quyền tổ chức thi hành. Do đó, việc lựa chọn cơ quan thi hành án dân sự hay Văn phòng thi hành án dân sự cần được thực hiện trên cơ sở đối chiếu thẩm quyền tổ chức thi hành của từng chủ thể và phạm vi bản án, quyết định, thay vì chỉ căn cứ vào nhu cầu xử lý nhanh hay chậm.

>>> Xem thêm: Thẩm quyền thi hành án dân sự – Cơ quan nào thực hiện?

Thủ tục yêu cầu thi hành án trở lại gồm rà soát hồ sơ, thu thập chứng cứ và nộp đơn.
Quy trình thực hiện tập trung vào việc chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành mới

Doanh nghiệp, cá nhân cần lưu ý gì để bảo vệ quyền yêu cầu thi hành án trở lại?

Mặc dù Luật Thi hành án dân sự 2025 ghi nhận quyền yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu, người được thi hành án vẫn nên chủ động theo dõi tình trạng thi hành án, cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành của người phải thi hành án và lưu giữ đầy đủ tài liệu liên quan. Việc chủ động này giúp cơ quan thi hành án có cơ sở kịp thời xác minh, đồng thời giúp đương sự thuận lợi hơn khi thực hiện yêu cầu thi hành án trở lại.

Chủ động theo dõi thời hạn xác minh và mốc 02 năm

Đương sự nên nắm rõ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và các mốc xác minh lại theo quy định để kịp thời cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Người được thi hành án nên:

  • Ghi nhận ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và các mốc xác minh định kỳ theo quy định;
  • Chủ động thu thập, cung cấp cho Chấp hành viên thông tin, tài liệu mới về tài sản, thu nhập, quyền tài sản hoặc các điều kiện khác có thể bảo đảm việc thi hành án;
  • Khi phát hiện thông tin mới về điều kiện thi hành án, cung cấp kịp thời cho cơ quan thi hành án dân sự để Chấp hành viên có căn cứ xác minh theo quy định;
  • Theo dõi tình trạng giải quyết hồ sơ và lưu giữ các văn bản, thông báo do cơ quan thi hành án dân sự ban hành liên quan đến việc chưa có điều kiện thi hành và việc gửi lại yêu cầu.

Theo Luật Thi hành án dân sự 2025, khi nhận được thông tin mới về điều kiện thi hành án do đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh trong thời hạn luật định. Trong khi đó, việc gửi lại yêu cầu chỉ được thực hiện khi hết 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định nhưng không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Do đó, việc đương sự cung cấp thông tin mới không nên được hiểu là đương nhiên ngăn việc gửi lại yêu cầu; ý nghĩa của việc cung cấp thông tin là tạo căn cứ để cơ quan thi hành án xác minh và xử lý nếu xác định người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành.

Kịp thời cung cấp tài liệu khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành

Sau khi yêu cầu thi hành án đã được gửi lại, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành, đương sự có quyền yêu cầu thi hành án trở lại. Khi thực hiện quyền này, đương sự phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành. Nếu có căn cứ xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành theo quy định.

Do đó, doanh nghiệp và cá nhân nên lưu giữ các tài liệu có thể chứng minh sự thay đổi về điều kiện thi hành án, chẳng hạn:

  • Thông tin về quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc tài sản khác của người phải thi hành án;
  • Thông tin về hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp, phần vốn góp hoặc cổ phần mà người phải thi hành án sở hữu;
  • Thông tin về thu nhập, tài khoản hoặc các khoản phải thu;
  • Tài liệu thể hiện người phải thi hành án phát sinh giao dịch hoặc có tài sản mới;
  • Các tài liệu khác có thể chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ yêu cầu thi hành án trở lại

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc về yêu cầu thi hành án trở lại với các công việc sau:

  •  Rà soát toàn bộ hồ sơ thi hành án, đối chiếu quyết định chưa có điều kiện thi hành và văn bản gửi lại yêu cầu (nếu có).
  • Xác minh điều kiện thi hành án mới của người phải thi hành án thông qua các kênh hợp pháp.
  • Soạn thảo đơn yêu cầu thi hành án trở lại và chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo.
  • Tư vấn lựa chọn giữa cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự phù hợp với từng vụ việc.
  • Làm việc trực tiếp với cơ quan, văn phòng thi hành án dân sự trong suốt quá trình tổ chức thi hành án trở lại.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

>>> Xem thêm: Nhanh chóng đòi lại tài sản với thủ tục, hồ sơ yêu cầu thi hành án dân sự chuẩn

Câu hỏi thường gặp về yêu cầu thi hành án trở lại theo luật thi hành án dân sự 2025

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tìm hiểu về quyền yêu cầu thi hành án trở lại. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025 và thực tiễn tư vấn của Luật Long Phan PMT.

1. Yêu cầu thi hành án trở lại khác gì với yêu cầu thi hành án lần đầu?

Yêu cầu thi hành án trở lại chỉ phát sinh sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu theo khoản 4 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025, trong khi yêu cầu thi hành án lần đầu là bước khởi động toàn bộ quá trình thi hành án. Về nội dung đơn, yêu cầu trở lại cần bổ sung tài liệu chứng minh điều kiện thi hành mới, còn yêu cầu lần đầu chỉ cần bản án, quyết định và thông tin cơ bản của các bên.

2. Sau khi bị gửi lại yêu cầu, đương sự có phải nộp lại toàn bộ hồ sơ không?

Đương sự không bắt buộc phải nộp lại toàn bộ hồ sơ vì tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan thi hành án dân sự lưu giữ theo khoản 4 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025. Đương sự chỉ cần bổ sung đơn yêu cầu thi hành án trở lại kèm tài liệu chứng minh điều kiện thi hành mới của người phải thi hành án.

3. Thời hiệu 05 năm có áp dụng lại từ đầu sau khi yêu cầu thi hành án trở lại không?

Không. Thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định chung là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu theo khoản 4 Điều 38.

4. Nếu người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành thì xử lý thế nào?

Nếu tại thời điểm đương sự yêu cầu thi hành án trở lại mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành, cơ quan thi hành án dân sự có thể tiếp tục ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành theo khoản 1 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025 và thực hiện lại quy trình xác minh định kỳ. Trường hợp sau khi đương sự yêu cầu thi hành án trở lại mà chưa có căn cứ xác định người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành, cơ quan thi hành án dân sự không có căn cứ để tổ chức thi hành theo yêu cầu trở lại chỉ dựa trên việc đương sự nộp đơn. Đương sự nên chuẩn bị tài liệu chứng minh điều kiện thi hành thực sự phát sinh trước khi nộp đơn.

5. Có thể ủy quyền cho luật sư thực hiện yêu cầu thi hành án trở lại không?

Đương sự hoàn toàn có thể ủy quyền cho luật sư thực hiện thủ tục yêu cầu thi hành án trở lại thông qua văn bản ủy quyền hợp pháp kèm theo hồ sơ nộp cho cơ quan thi hành án dân sự. Luật sư được ủy quyền có thể thay mặt đương sự thu thập tài liệu, làm việc với chấp hành viên và theo dõi tiến độ giải quyết.

6. Doanh nghiệp có cần thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự ngay khi phát hiện người phải thi hành án có tài sản mới không?

Doanh nghiệp nên chủ động thông báo ngay khi phát hiện thông tin về tài sản, thu nhập mới của người phải thi hành án, dù pháp luật không ấn định thời hạn bắt buộc cho việc này. Thông báo kịp thời giúp cơ quan thi hành án dân sự có căn cứ tổ chức thi hành án trở lại sớm, hạn chế rủi ro người phải thi hành án tẩu tán tài sản trước khi bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.

Kết luận

Yêu cầu thi hành án trở lại là quyền quan trọng giúp người được thi hành án không mất quyền lợi chỉ vì người phải thi hành án tạm thời chưa có điều kiện thi hành. Theo Luật Thi hành án dân sự 2025, quyền này không bị giới hạn bởi thời hiệu 05 năm thông thường vì khoảng thời gian hồ sơ bị gửi lại được loại trừ khỏi cách tính thời hiệu. Để thực hiện quyền này hiệu quả, đương sự cần chủ động theo dõi điều kiện thi hành của người phải thi hành án và lưu giữ đầy đủ hồ sơ liên quan. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và thực hiện thủ tục yêu cầu thi hành án trở lại đúng quy định; quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Thi hành án dân sự 2025
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Hà Ngọc Tuyền

Luật sư Hà Ngọc Tuyền- thành viên đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh, trưởng Văn phòng luật sư Hà Tuyền, Luật sư cộng sự tại công ty Luật Long Phan PMT. Với kinh nghiệm lâu năm tham gia các vụ án hình sự, Luật sư Hà Ngọc Tuyền đã và đang trực tiếp tham gia tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các vụ án hình sự là một trong những luật sư kỳ cựu, nhận được rất nhiều kỳ vọng của khách hàng.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87