Văn phòng thi hành án không được cưỡng chế là vướng mắc mà Luật Long Phan PMT thường gặp khi hỗ trợ khách hàng lựa chọn cơ chế thi hành án dân sự tư nhân. Đây không phải lỗ hổng pháp lý mà là giới hạn thẩm quyền do Luật Thi hành án dân sự 2025 (Luật số 106/2025/QH15) đặt ra đối với Thừa hành viên. Bài viết phân tích căn cứ pháp lý, thủ tục chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước và quyền của người yêu cầu thi hành án trong tình huống này.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên không được áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
- Khi cần cưỡng chế, người yêu cầu thi hành án có quyền đề nghị chấm dứt hợp đồng dịch vụ để chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước, theo điểm d khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
- Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ trong 02 ngày làm việc; cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án mới trong 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, theo khoản 6 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
- Kết quả thi hành án đã thực hiện đúng quy định trước khi chuyển giao vẫn được công nhận và sử dụng, theo khoản 6 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Khi nào phát sinh nhu cầu cưỡng chế thi hành án?
Nhu cầu cưỡng chế phát sinh khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định. Đây là thời điểm người yêu cầu thi hành án cần xác định đúng cơ chế xử lý, vì văn phòng thi hành án dân sự không có thẩm quyền tự mình cưỡng chế trong trường hợp này.
Người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thi hành
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Thi hành án dân sự 2025, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án. Đây là nguyên tắc chung áp dụng cho toàn bộ hoạt động thi hành án dân sự, không phân biệt việc thi hành do cơ quan nhà nước hay văn phòng thi hành án dân sự tổ chức.
Trên thực tế, sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án và Thừa hành viên đã xác minh xác định người phải thi hành án có tài sản, thu nhập nhưng cố tình không thực hiện nghĩa vụ, người yêu cầu thi hành án buộc phải tính đến phương án cưỡng chế. Đây chính là lúc giới hạn thẩm quyền của văn phòng thi hành án dân sự bộc lộ rõ, vì Thừa hành viên không được trực tiếp áp dụng bất kỳ biện pháp cưỡng chế nào đối với tài sản của người phải thi hành án.
Phân biệt công việc Thừa hành viên được làm và công việc chỉ cơ quan thi hành án dân sự nhà nước được thực hiện
Ranh giới thẩm quyền giữa Thừa hành viên và Chấp hành viên nhà nước là nội dung then chốt để hiểu đúng vì sao văn phòng thi hành án không được cưỡng chế. Bảng dưới đây đối chiếu các nhóm công việc theo Điều 30 và khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
| Nhóm công việc | Thừa hành viên (văn phòng thi hành án dân sự) | Chấp hành viên (cơ quan thi hành án dân sự nhà nước) |
| Tổ chức thi hành vụ việc, xác minh điều kiện thi hành án | Được thực hiện theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2025 | Được thực hiện theo quy định chung của Luật này |
| Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; lập vi bằng theo yêu cầu | Được thực hiện theo điểm c, điểm d khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2025 | Không thuộc nhiệm vụ đặc thù này |
| Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án | Không được thực hiện theo khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025 | Được thực hiện theo quy định tại Chương III Luật Thi hành án dân sự 2025 |
| Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án | Không được thực hiện theo khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025 | Được thực hiện theo quy định tại Chương III Luật Thi hành án dân sự 2025 |
Theo thực tiễn xử lý hồ sơ, đây là điểm nhiều khách hàng nhầm lẫn nhất: Thừa hành viên hoàn toàn có quyền xác minh tài sản, tống đạt văn bản như Chấp hành viên nhà nước, nhưng khi hồ sơ đến bước cần kê biên, phong tỏa tài khoản hay cưỡng chế giao tài sản thì văn phòng thi hành án dân sự buộc phải dừng lại đúng luật, không thể tự ý mở rộng thẩm quyền của mình.
Thủ tục chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước để cưỡng chế
Khi văn phòng thi hành án không được cưỡng chế, người yêu cầu thi hành án phải làm thủ tục chấm dứt hợp đồng dịch vụ để chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước. Quy trình này được thực hiện theo khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025 với các mốc thời hạn cụ thể.
Căn cứ chấm dứt hợp đồng dịch vụ với văn phòng thi hành án dân sự
Theo điểm d khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025, việc thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt khi người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt việc thi hành án để chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Đây là căn cứ chấm dứt hợp đồng do chính người yêu cầu thi hành án chủ động thực hiện, khác với các căn cứ chấm dứt khác trong khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025 (như thỏa thuận chấm dứt giữa các bên, hoặc trường hợp việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành). Người yêu cầu cần lập văn bản đề nghị rõ ràng, nêu cụ thể lý do cần áp dụng biện pháp cưỡng chế mà văn phòng thi hành án dân sự không có thẩm quyền thực hiện.
Trình tự, thời hạn thu hồi quyết định và bàn giao hồ sơ
Trình tự chuyển hồ sơ được thực hiện theo các bước sau, căn cứ khoản 6 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025:
- Người yêu cầu và văn phòng thi hành án dân sự thanh lý hợp đồng dịch vụ trên cơ sở văn bản đề nghị chấm dứt để chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp cưỡng chế.
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; việc giao, nhận hồ sơ được lập thành biên bản.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025.
Luật Thi hành án dân sự 2025 cũng quy định một ngoại lệ đáng chú ý tại khoản 6 Điều 31: việc thu hồi và chuyển hồ sơ không thực hiện nếu người yêu cầu không đồng ý. Trong thực tiễn xử lý hồ sơ, khách hàng cần cân nhắc kỹ trước khi đề nghị chấm dứt hợp đồng, vì nếu sau đó không đồng ý chuyển hồ sơ thì tiến độ thi hành án có thể bị kéo dài thêm mà không rõ hướng xử lý tiếp theo. Luật Long Phan PMT khuyến nghị khách hàng xác định dứt khoát phương án trước khi gửi văn bản đề nghị chấm dứt.
Trách nhiệm thông báo Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự cùng địa bàn
Theo khoản 7 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng dịch vụ, văn phòng thi hành án dân sự phải thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và cơ quan thi hành án dân sự cùng địa bàn tỉnh, thành phố. Đây là nghĩa vụ độc lập với việc chuyển hồ sơ tại khoản 6, nhằm bảo đảm hoạt động kiểm sát và phối hợp giữa các cơ quan liên quan được thực hiện đầy đủ.
Người yêu cầu thi hành án nên chủ động theo dõi việc thông báo này, vì đây cũng là căn cứ để xác định thời điểm cơ quan thi hành án dân sự bắt đầu có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý hồ sơ theo đúng thời hạn luật định.
Giá trị pháp lý của phần việc văn phòng thi hành án dân sự đã thực hiện trước khi chuyển giao
Theo khoản 6 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025, kết quả thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định của pháp luật được công nhận và sử dụng; văn phòng thi hành án dân sự chịu trách nhiệm đối với các thủ tục đã thực hiện. Quy định này bảo đảm các bước xác minh tài sản, tống đạt văn bản mà Thừa hành viên đã hoàn thành không bị làm lại từ đầu khi hồ sơ chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước.
Đây là điểm có lợi cho người yêu cầu thi hành án, vì Chấp hành viên tiếp nhận hồ sơ có quyền sử dụng ngay kết quả xác minh điều kiện thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên đã thực hiện để tổ chức thi hành án tiếp theo, thay vì phải xác minh lại toàn bộ từ đầu.
>>> Xem thêm: Thi hành án thương mại khi doanh nghiệp tẩu tán

Quyền của người yêu cầu thi hành án khi văn phòng không cưỡng chế được
Người yêu cầu thi hành án không ở thế bị động khi văn phòng thi hành án dân sự không thể cưỡng chế. Luật Thi hành án dân sự 2025 trao cho người được thi hành án ba nhóm quyền cụ thể để chủ động xử lý tình huống này, quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Quyền lựa chọn cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự
Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025, người được thi hành án có quyền lựa chọn cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự để yêu cầu thi hành án. Quyền lựa chọn này áp dụng ngay từ đầu vụ việc và cũng là cơ sở để người yêu cầu quyết định chuyển hướng sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước khi cần cưỡng chế.
Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án
Theo điểm e khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025, người được thi hành án có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025. Đây là quyền cốt lõi làm cơ sở để người yêu cầu chủ động đề nghị chấm dứt hợp đồng với văn phòng thi hành án dân sự nhằm chuyển sang cơ quan có đủ thẩm quyền cưỡng chế.
Quyền khiếu nại nếu việc chuyển giao hồ sơ chậm trễ so với thời hạn luật định
Theo điểm m khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025, người được thi hành án có quyền khiếu nại, tố cáo về thi hành án. Đối chiếu với thời hạn 02 ngày làm việc thu hồi, chuyển hồ sơ và thời hạn 05 ngày làm việc ra quyết định thi hành án mới quy định tại khoản 6 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025, nếu Trưởng văn phòng thi hành án dân sự hoặc cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ so với các mốc này, người yêu cầu có căn cứ để khiếu nại.
Kinh nghiệm thực tế xử lý hồ sơ khi văn phòng thi hành án không cưỡng chế được
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, Luật Long Phan PMT nhận thấy hai sai lầm phổ biến nhất khiến khách hàng mất thời gian không cần thiết.
- Thứ nhất, nhiều khách hàng ký hợp đồng dịch vụ với văn phòng thi hành án dân sự nhưng không biết mình có quyền chủ động đề nghị chấm dứt hợp đồng để chuyển sang cơ chế cưỡng chế nhà nước, dẫn đến việc chờ đợi kéo dài trong khi văn phòng thi hành án dân sự không thể tiến thêm bước nào.
- Thứ hai, một số khách hàng nhầm lẫn giữa “văn phòng thi hành án dân sự” (tổ chức hành nghề tư nhân của Thừa hành viên) với cơ quan thi hành án dân sự nhà nước ngay từ khi nộp đơn yêu cầu ban đầu, khiến việc xác định đúng thẩm quyền xử lý cưỡng chế về sau bị chậm trễ.
Một điểm khác cũng đáng lưu ý qua thực tiễn xử lý hồ sơ: không phải mọi trường hợp người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đều cần chuyển ngay sang cơ chế cưỡng chế nhà nước. Có những vụ việc chỉ cần Thừa hành viên xác minh lại điều kiện thi hành án và tiếp tục vận động tự nguyện thi hành cũng đạt kết quả, tránh phát sinh thêm chi phí thanh lý hợp đồng không cần thiết.
Rủi ro cần lưu ý khi chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước
Việc chuyển hồ sơ tiềm ẩn một số rủi ro thực tế mà người yêu cầu thi hành án cần chủ động phòng ngừa, đặc biệt liên quan đến tiến độ thu hồi tài sản và chi phí phát sinh khi thanh lý hợp đồng dịch vụ.
Rủi ro chậm trễ ảnh hưởng tiến độ thu hồi tài sản, dòng tiền
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, khoảng thời gian thanh lý hợp đồng, chuyển hồ sơ và chờ cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án mới có thể tạo ra khoảng trống khiến người phải thi hành án có thêm thời gian tẩu tán tài sản. Đây không phải là trường hợp ngoại lệ hiếm gặp mà là tình huống phổ biến trong các vụ việc đòi nợ, tranh chấp hợp đồng thương mại giá trị lớn. Luật Long Phan PMT khuyến nghị khách hàng, ngay khi có dấu hiệu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, nên đồng thời đề nghị Thừa hành viên áp dụng các biện pháp thuộc thẩm quyền như xác minh tài sản, đề nghị phong tỏa thông tin tài khoản trước khi tiến hành thủ tục chấm dứt hợp đồng, nhằm hạn chế khoảng trống thời gian nêu trên.
Rủi ro phát sinh chi phí, thù lao khi thanh lý hợp đồng với văn phòng thi hành án dân sự
Theo khoản 3 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025, người yêu cầu thi hành án và văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận về thù lao, chi phí thi hành án và các chi phí khác (nếu có) trong hợp đồng dịch vụ. Khi chấm dứt hợp đồng trước thời hạn để chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước, các bên cần đối chiếu lại điều khoản thù lao, chi phí đã thỏa thuận để xác định nghĩa vụ thanh toán cho phần công việc Thừa hành viên đã thực hiện, tránh phát sinh tranh chấp về chi phí sau khi hồ sơ đã chuyển giao.

Dịch vụ luật sư tư vấn và hỗ trợ thi hành án dân sự tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc văn phòng thi hành án không được cưỡng chế với các công việc sau:
- Tư vấn quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Rà soát bản án, quyết định có hiệu lực và xác định phạm vi nghĩa vụ cần tổ chức thi hành.
- Tư vấn lựa chọn giữa cơ quan thi hành án dân sự nhà nước và văn phòng thi hành án dân sự trong từng trường hợp.
- Rà soát hồ sơ thi hành án, kết quả xác minh tài sản và hợp đồng dịch vụ đã ký với văn phòng thi hành án dân sự.
- Tư vấn phương án xử lý khi người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.
- Soạn thảo văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định.
- Soạn thảo văn bản đề nghị chấm dứt hợp đồng dịch vụ và chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự nhà nước khi cần cưỡng chế.
- Theo dõi việc thu hồi quyết định, bàn giao hồ sơ và ra quyết định thi hành án mới theo thời hạn luật định.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về văn phòng thi hành án không được cưỡng chế: hướng xử lý chi tiết
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi văn phòng thi hành án không được cưỡng chế. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025.
1. Thời hạn văn phòng thi hành án dân sự phải chuyển hồ sơ sang cơ quan thi hành án dân sự là bao lâu?
Theo khoản 6 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng. Sau khi nhận đủ hồ sơ, cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án mới trong 05 ngày làm việc.
2. Ai chịu trách nhiệm nếu văn phòng thi hành án dân sự chậm chuyển giao hồ sơ?
Việc chậm chuyển giao so với thời hạn tại khoản 6 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025 là căn cứ để người được thi hành án khiếu nại theo quyền quy định tại điểm m khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025. Mức độ trách nhiệm cụ thể của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự cần được xem xét theo từng vụ việc.
3. Phí, thù lao đã trả cho văn phòng thi hành án dân sự có được hoàn lại khi chấm dứt hợp đồng không?
Theo khoản 3 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025, thù lao và chi phí thi hành án do các bên thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ. Việc hoàn trả một phần thù lao khi chấm dứt hợp đồng trước hạn phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận cụ thể giữa người yêu cầu và văn phòng thi hành án dân sự.
4. Kết quả xác minh tài sản do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện có được sử dụng tiếp không?
Có. Theo khoản 6 Điều 31 và khoản 8 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025, kết quả thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định được công nhận và sử dụng; Chấp hành viên có thể sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do Thừa hành viên đã thực hiện để tiếp tục tổ chức thi hành án.
5. Có bắt buộc phải chuyển hồ sơ về cơ quan thi hành án dân sự nơi bản án được tuyên hay có thể chọn nơi khác?
Việc xác định cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ khi chuyển giao từ văn phòng thi hành án dân sự thực hiện theo quy định về thẩm quyền thi hành án tại Điều 32 Luật Thi hành án dân sự 2025, tương ứng với nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở đã tổ chức thi hành án trước đó. Từng trường hợp cụ thể cần đối chiếu với bản án, quyết định để xác định chính xác cơ quan có thẩm quyền.
Kết luận
Văn phòng thi hành án không được cưỡng chế là giới hạn thẩm quyền rõ ràng theo Luật Thi hành án dân sự 2025, nhưng không đồng nghĩa với việc người yêu cầu thi hành án phải chấp nhận bế tắc. Việc chủ động đề nghị chấm dứt hợp đồng dịch vụ, theo dõi sát thời hạn chuyển hồ sơ và tận dụng kết quả xác minh đã có sẽ giúp rút ngắn thời gian chuyển sang cơ chế cưỡng chế nhà nước. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và thực hiện thủ tục chuyển giao đúng quy định. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Thi hành án dân sự 2025
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Biện pháp bảo đảm thi hành án, Biện pháp cưỡng chế thi hành án, chấm dứt hợp đồng dịch vụ, chuyển giao hồ sơ thi hành án, chuyển hồ sơ thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự, Cưỡng chế thi hành án, Khiếu nại thi hành án, người được thi hành án, thi hành án tư nhân, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục thi hành án dân sự, Thừa hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, xác minh điều kiện thi hành án

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.