Luật Long Phan PMT nhận thấy tẩu tán tài sản thi hành án là tình trạng phổ biến trong giai đoạn giữa khi bản án có hiệu lực và thời điểm cơ quan thi hành án dân sự thụ lý việc thi hành án. Đây là hành vi xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của người được thi hành án và có thể kéo dài đáng kể thủ tục tố tụng lẫn quá trình thi hành án trên thực tế. Bài viết dưới đây phân tích dấu hiệu nhận biết, căn cứ pháp lý và hướng xử lý cụ thể khi phát hiện tài sản thi hành án bị tẩu tán.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Người được thi hành án có quyền yêu cầu Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án như phong tỏa tài khoản, tạm dừng đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản mà không cần chờ hết thời hạn tự nguyện thi hành án.
- Giao dịch tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu do giả tạo, buộc các bên hoàn trả lại tài sản đã chuyển nhượng.
- Hành vi tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đến 20.000.000 đồng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
- Việc thu thập chứng cứ chứng minh mục đích tẩu tán tài sản cần thực hiện càng sớm càng tốt ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường, vì thời gian trì hoãn có thể khiến tài sản bị chuyển dịch tiếp sang bên thứ ba khác.
Dấu hiệu nhận biết hành vi tẩu tán tài sản thi hành án
Nhận biết sớm hành vi tẩu tán tài sản dựa vào ba yếu tố: thời điểm xác lập giao dịch, mối quan hệ giữa các bên giao dịch và tính bất thường của giá trị chuyển nhượng so với giá trị thị trường thực tế.
Một khách hàng của Luật Long Phan PMT từng phản ánh trường hợp bên phải thi hành án, ngay sau khi bản án phúc thẩm tuyên buộc thanh toán khoản nợ hơn 3 tỷ đồng có hiệu lực, đã lập tức chuyển nhượng căn nhà duy nhất đứng tên mình cho em ruột với giá ghi trên hợp đồng chỉ bằng một phần ba giá thị trường. Lúc này, bên được thi hành án phải chứng minh mối quan hệ nhân thân giữa các bên giao dịch và sự bất hợp lý về giá để có căn cứ yêu cầu Tòa án xem xét. Tình huống này minh họa rõ nét dạng thức tẩu tán tài sản phổ biến nhất trên thực tế thi hành án dân sự.
Theo thực tiễn áp dụng, việc xác định một giao dịch có phải nhằm mục đích tẩu tán tài sản hay không phụ thuộc vào tổng hòa nhiều yếu tố, không chỉ dựa vào một dấu hiệu riêng lẻ. Người được thi hành án nên chủ động rà soát lịch sử giao dịch tài sản của bên phải thi hành án ngay từ giai đoạn khởi kiện, thay vì chờ đến khi bản án có hiệu lực mới bắt đầu xác minh.
Giao dịch xác lập sau khi bản án có hiệu lực nhưng không phục vụ thi hành án
Giao dịch chuyển nhượng, tặng cho tài sản được xác lập ngay sau thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trong khi bên phải thi hành án không chứng minh được mục đích sử dụng số tiền thu được để thực hiện nghĩa vụ, là dấu hiệu đáng lưu ý nhất. Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Thi hành án dân sự 2025, người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; việc cố tình định đoạt tài sản trong giai đoạn này làm mất khả năng cưỡng chế của cơ quan thi hành án.
Không phải mọi giao dịch xác lập sau khi bản án có hiệu lực đều bị coi là tẩu tán tài sản. Trường hợp bên phải thi hành án chứng minh được giao dịch phục vụ mục đích chính đáng, hợp lý, ví dụ bán tài sản để lấy tiền thi hành án hoặc giao dịch đã xác lập từ trước khi phát sinh nghĩa vụ, thì cần đánh giá lại tính chất của giao dịch trước khi khẳng định có hành vi tẩu tán.
Giao dịch giả tạo nhằm che giấu tài sản duy nhất
Giao dịch giả tạo thường thể hiện qua việc chuyển nhượng tài sản duy nhất có giá trị cho người thân trong gia đình, sau đó bên phải thi hành án vẫn tiếp tục sử dụng, quản lý tài sản như trước khi chuyển nhượng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Đây là trường hợp ngoại lệ so với nguyên tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt tài sản của chủ sở hữu, vì pháp luật chỉ can thiệp khi có đủ căn cứ chứng minh mục đích trốn tránh nghĩa vụ, không mặc nhiên coi mọi giao dịch với người thân là giả tạo. Người được thi hành án cần thu thập chứng cứ về việc bên chuyển nhượng vẫn thực tế chiếm hữu, sử dụng tài sản để tăng khả năng được Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu.
Căn cứ pháp lý ngăn chặn và xử lý tẩu tán tài sản thi hành án
Pháp luật hiện hành quy định đồng thời bốn nhóm biện pháp để ngăn chặn và xử lý tẩu tán tài sản gồm: biện pháp bảo đảm thi hành án do Chấp hành viên áp dụng, biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án, yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu, và chế tài hành chính, hình sự.
Bốn nhóm biện pháp trên có thể được áp dụng song song, tùy vào giai đoạn tố tụng và mức độ nghiêm trọng của hành vi. Trong giai đoạn Tòa án đang giải quyết vụ án, đương sự ưu tiên sử dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; khi bản án đã có hiệu lực và chuyển sang giai đoạn thi hành án, biện pháp bảo đảm thi hành án do Chấp hành viên áp dụng đóng vai trò trung tâm.
>>> Xem thêm: Giải pháp thi hành án thương mại khi doanh nghiệp tẩu tán tài sản
Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án để ngăn chặn tẩu tán tài sản
Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu của người được thi hành án áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản mà không cần thông báo trước cho người phải thi hành án. Đây là công cụ hiệu quả nhất để chặn đứng hành vi tẩu tán tài sản ngay khi mới phát sinh dấu hiệu.
Theo quy định tại Điều 66 Luật Thi hành án dân sự 2025, người phải thi hành án bị áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án, bao gồm: phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ (Điều 67); tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc thay đổi hiện trạng tài sản (Điều 68); tạm giữ tài sản, giấy tờ (Điều 69); và tạm hoãn xuất cảnh đối với người phải thi hành án (Điều 70). Các ngân hàng, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký tài sản có trách nhiệm phối hợp thực hiện ngay yêu cầu của Chấp hành viên.
Ngay khi nhận được thông báo thi hành án, người được thi hành án nên chủ động cung cấp thông tin về tài sản, tài khoản ngân hàng của người phải thi hành án mà mình nắm được, kèm văn bản đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, để rút ngắn thời gian xử lý và tăng khả năng ngăn chặn kịp thời.
Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án
Trong giai đoạn Tòa án đang giải quyết vụ án, trước khi có bản án, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp để ngăn chặn tẩu tán ngay từ giai đoạn tố tụng, không phải chờ đến khi có bản án mới xử lý.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này. Trong đó Khoản 6 Điều 114 quy định biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp là một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng.
Ngoài ra, Điều 120 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định cụ thể, kê biên tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản; tài sản bị kê biên có thể được thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án.
Từ ngày 01/7/2025, theo Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự cùng thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm được chuyển từ Tòa án nhân dân cấp huyện sang Tòa án nhân dân khu vực theo mô hình tổ chức hai cấp chính quyền. Doanh nghiệp, cá nhân khi nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần xác định đúng Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ nơi đang giải quyết vụ án.
Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp thường phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp có thể phải gánh chịu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, đương sự cần cân nhắc khả năng tài chính khi lựa chọn sử dụng biện pháp này.
Yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch tẩu tán tài sản vô hiệu
Khi tài sản đã bị chuyển nhượng cho bên thứ ba trước khi kịp áp dụng biện pháp ngăn chặn, người được thi hành án có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ, từ đó khôi phục lại tình trạng tài sản ban đầu để phục vụ thi hành án.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu. Hậu quả pháp lý của việc tuyên vô hiệu được quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015: giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Việc chứng minh một giao dịch dân sự là giả tạo trên thực tế gặp nhiều khó khăn, vì các bên tham gia giao dịch thường không để lại chứng cứ trực tiếp thể hiện mục đích tẩu tán. Do đó, người được thi hành án nên tập trung thu thập các chứng cứ gián tiếp như quan hệ nhân thân giữa các bên, thời điểm giao dịch trùng khớp bất thường với diễn biến vụ án, giá chuyển nhượng thấp hơn đáng kể so với giá thị trường, hoặc việc bên chuyển nhượng vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng tài sản sau khi giao dịch.
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi tẩu tán tài sản
Hành vi tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự, độc lập với việc xử lý về mặt dân sự đối với giao dịch tẩu tán.
Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, hành vi tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Kèm theo đó, điểm a khoản 8 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu do thực hiện hành vi vi phạm. Trường hợp tổ chức thực hiện hành vi vi phạm, mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt áp dụng đối với cá nhân theo nguyên tắc xử phạt chung tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
Truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không chấp hành án
Trường hợp người phải thi hành án đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không chấp hành án mà vẫn tiếp tục tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ, hành vi này có thể bị xử lý hình sự với khung hình phạt nghiêm khắc hơn đáng kể so với chế tài hành chính.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Khoản 2 Điều 380 còn quy định khung hình phạt tăng nặng, phạt tù từ 02 năm đến 05 năm, áp dụng đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết như chống lại chấp hành viên hoặc người đang thi hành công vụ, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, hoặc tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Ngoài hình phạt chính, khoản 3 Điều 380 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Dấu hiệu “có điều kiện thi hành án” là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm này, vì cơ quan tố tụng phải chứng minh được người phải thi hành án thực sự có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ nhưng cố tình không thực hiện. Do đó, người được thi hành án nên phối hợp chặt chẽ với Chấp hành viên trong việc xác minh điều kiện thi hành án để làm căn cứ chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra khi có dấu hiệu tội phạm.
>>> Xem thêm: Hướng xử lý khi chủ doanh nghiệp cố tình không thi hành án
Quy trình xử lý khi phát hiển tài sản thi hành án bị tẩu tán
Khi phát hiện dấu hiệu tẩu tán tài sản, người được thi hành án cần hành động theo trình tự ưu tiên tốc độ, vì mỗi ngày trì hoãn đều làm tăng nguy cơ tài sản tiếp tục bị chuyển dịch sang bên thứ ba khác.
Quy trình xử lý thường được thực hiện theo các bước sau:
- Thu thập ngay các thông tin, tài liệu ban đầu về tài sản của người phải thi hành án và dấu hiệu bất thường trong giao dịch (nếu có).
- Gửi văn bản đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo Điều 66 đến Điều 70 Luật Thi hành án dân sự 2025.
- Song song, xác minh xem tài sản đã bị chuyển nhượng cho bên thứ ba hay chưa để quyết định có cần khởi kiện yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu hay không.
- Nếu vụ việc đang trong giai đoạn tố tụng tại Tòa án, nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp theo Điều 111, Điều 120 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Theo dõi kết quả xác minh điều kiện thi hành án của Chấp hành viên để đề nghị xử phạt hành chính hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra khi có căn cứ.
Thu thập chứng cứ chứng minh mục đích tẩu tán
Chứng cứ chứng minh mục đích tẩu tán tài sản đóng vai trò quyết định đến khả năng thành công của yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu hoặc đề nghị xử lý hành chính, hình sự đối với người phải thi hành án.
Người được thi hành án cần chú trọng thu thập các loại chứng cứ sau:
- Văn bản, hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho tài sản thể hiện thời điểm xác lập giao dịch.
- Thông tin về mối quan hệ nhân thân, huyết thống giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng.
- Tài liệu chứng minh giá chuyển nhượng thấp hơn đáng kể so với giá thị trường tại cùng thời điểm.
- Chứng cứ thể hiện bên chuyển nhượng vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng, cư trú tại tài sản sau khi giao dịch.
Theo thực tiễn xử lý, việc đối chiếu thời điểm giao dịch với các mốc tố tụng quan trọng của vụ án (ngày xét xử, ngày tuyên án, ngày bản án có hiệu lực) là cơ sở lý luận quan trọng để chứng minh mục đích trốn tránh nghĩa vụ theo khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015.
Đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm khẩn cấp
Ngay khi có căn cứ dù chưa đầy đủ về khả năng tẩu tán tài sản, người được thi hành án nên gửi văn bản đề nghị Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án, thay vì chờ thu thập đầy đủ chứng cứ mới hành động.
Theo nhóm quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án tại Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm mà không phải thông báo trước cho người phải thi hành án. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với biện pháp cưỡng chế thi hành án, vốn phải tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ hơn.

Rủi ro pháp lý khi thực hiện hoặc tiếp tay tẩu tán tài sản thi hành án
Không chỉ người phải thi hành án, bên nhận chuyển nhượng tài sản trong giao dịch tẩu tán cũng phải đối mặt với rủi ro pháp lý đáng kể, kể cả khi bên nhận chuyển nhượng không trực tiếp có ý định trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Rủi ro cụ thể bao gồm:
- Người phải thi hành án đối mặt đồng thời với việc bị thu hồi tài sản, xử phạt vi phạm hành chính đến 20.000.000 đồng theo Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 nếu tái phạm sau khi đã bị cưỡng chế hoặc xử phạt hành chính.
- Bên nhận chuyển nhượng tài sản trong giao dịch bị tuyên vô hiệu phải hoàn trả lại tài sản theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, kể cả khi đã thanh toán tiền cho bên chuyển nhượng, và chỉ có thể yêu cầu bên chuyển nhượng hoàn trả lại số tiền đã nhận.
- Trường hợp bên nhận chuyển nhượng biết rõ mục đích tẩu tán của bên chuyển nhượng nhưng vẫn cố tình xác lập giao dịch, có thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại cho người được thi hành án.
Đối với người nhận chuyển nhượng tài sản ngay tình, tức không biết và không có nghĩa vụ phải biết về mục đích tẩu tán của bên chuyển nhượng, pháp luật vẫn có cơ chế bảo vệ nhất định trong một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên việc xác định “ngay tình” hay không luôn cần được đánh giá dựa trên toàn bộ chứng cứ của từng vụ việc cụ thể, không có công thức áp dụng chung. Vì vậy, trước khi nhận chuyển nhượng tài sản có giá trị lớn, đặc biệt từ người đang có tranh chấp, nghĩa vụ tài chính, bên nhận chuyển nhượng nên chủ động xác minh tình trạng pháp lý của tài sản và của bên chuyển nhượng.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ ngăn chặn và xử lý tẩu tán tài sản thi hành án
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến tẩu tán tài sản thi hành án với các công việc sau:
- Rà soát hồ sơ thi hành án, xác minh dấu hiệu tẩu tán tài sản và đánh giá khả năng thu hồi tài sản.
- Soạn thảo văn bản đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định pháp luật hiện hành.
- Soạn đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp trong giai đoạn tố tụng.
- Tư vấn và đại diện khách hàng khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch tẩu tán tài sản vô hiệu.
- Hỗ trợ khách hàng chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra khi có dấu hiệu tội phạm.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về cách ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản thi hành án
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi phát hiện tài sản thi hành án có dấu hiệu bị tẩu tán. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và văn bản pháp luật liên quan.
1. Tẩu tán tài sản thi hành án là gì?
Tẩu tán tài sản thi hành án là hành vi người phải thi hành án chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc che giấu tài sản nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch được xác lập giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì bị coi là vô hiệu. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để xử lý hành vi này trên thực tế.
2. Phát hiện tài sản bị tẩu tán thì cần liên hệ ai trước?
Người được thi hành án nên liên hệ ngay với Chấp hành viên đang thụ lý vụ việc để đề nghị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo Điều 66 đến Điều 70 Luật Thi hành án dân sự 2025. Trường hợp vụ án vẫn đang trong giai đoạn tố tụng tại Tòa án, có thể đồng thời nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Việc liên hệ càng sớm càng tăng khả năng ngăn chặn tài sản tiếp tục bị chuyển dịch.
3. Giao dịch tẩu tán tài sản đã hoàn tất, còn cách nào thu hồi tài sản không?
Người được thi hành án vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu do giả tạo theo khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu, các bên trong giao dịch phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015. Việc chứng minh mục đích giả tạo của giao dịch đòi hỏi chứng cứ cụ thể, do đó khách hàng nên phối hợp với luật sư để xây dựng hồ sơ chứng cứ phù hợp.
4. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi tẩu tán tài sản thi hành án là bao nhiêu?
Theo điểm a khoản 5 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, hành vi tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân. Người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu theo điểm a khoản 8 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Trường hợp tổ chức vi phạm, mức phạt tiền áp dụng gấp 02 lần mức phạt đối với cá nhân.
5. Tẩu tán tài sản thi hành án có bị xử lý hình sự không?
Hành vi tẩu tán tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), nếu người phải thi hành án đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Khung hình phạt cơ bản là phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm theo khoản 1 Điều 380; trường hợp có tình tiết tẩu tán tài sản, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc chống lại chấp hành viên, khung hình phạt tăng lên từ 02 năm đến 05 năm theo khoản 2 Điều 380.
6. Bên nhận chuyển nhượng tài sản tẩu tán có phải chịu trách nhiệm gì không?
Bên nhận chuyển nhượng tài sản trong giao dịch bị tuyên vô hiệu phải hoàn trả lại tài sản theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, đồng thời chỉ có quyền yêu cầu bên chuyển nhượng hoàn trả lại số tiền đã thanh toán. Nếu có căn cứ chứng minh bên nhận chuyển nhượng biết rõ mục đích tẩu tán nhưng vẫn cố tình xác lập giao dịch, bên này có thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh cho người được thi hành án.
7. Có thể yêu cầu Tòa án kê biên tài sản ngay khi vụ án chưa xét xử xong không?
Được. Theo khoản 1 Điều 111 và Điều 120 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp ngay trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có căn cứ cho thấy người giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản. Từ ngày 01/7/2025, thẩm quyền giải quyết yêu cầu này tại cấp sơ thẩm thuộc về Tòa án nhân dân khu vực theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Kết luận
Tẩu tán tài sản thi hành án là hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại trực tiếp đến quyền lợi của người được thi hành án, nhưng pháp luật hiện hành đã trang bị đầy đủ công cụ để ngăn chặn và xử lý. Việc phát hiện sớm dấu hiệu tẩu tán, thu thập chứng cứ kịp thời và lựa chọn đúng biện pháp pháp lý là yếu tố quyết định khả năng thu hồi tài sản trên thực tế. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn và theo đuổi vụ việc đến khi tài sản được xử lý đúng quy định. Quý khách cần tư vấn cụ thể hãy liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Thi hành án dân sự 2025
- Bộ luật Dân sự 2015
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
- Nghị định 82/2020/NĐ-CP
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Biện pháp bảo đảm thi hành án, cưỡng chế thi hành án dân sự, Giao dịch giả tạo, Kê biên tài sản, khởi kiện giao dịch giả tạo, không chấp hành án, Ngăn chặn tẩu tán tài sản, phong tỏa tài khoản thi hành án, thu hồi tài sản thi hành án, Xử lý tài sản thi hành án

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.