Căn cứ hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án theo luật mới

Căn cứ hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án được xác định theo Điều 72 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024), còn quyền khởi kiện thuộc về người mua được tài sản và Chấp hành viên theo Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025.Nếu Quý khách đang có tài sản bị đưa ra đấu giá hoặc vừa trúng đấu giá theo thủ tục thi hành án dân sự nhưng phát hiện sai phạm, hãy gửi thông báo đấu giá và hợp đồng qua Zalo 0939 846 973 để luật sư Luật Long Phan PMT đánh giá sơ bộ hướng xử lý.

Căn cứ hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án theo luật mới: thỏa thuận, hợp đồng vô hiệu, thông đồng dìm giá
Kết quả đấu giá tài sản thi hành án có thể bị hủy khi có thỏa thuận hủy, hợp đồng bị tuyên vô hiệu hoặc có thông đồng, dìm giá.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Kết quả đấu giá chỉ bị hủy trong các trường hợp luật định tại Điều 72 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024), không thể hủy chỉ vì giá bán thấp hơn mong đợi.
  • Chỉ người mua được tài sản đấu giá và Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả đấu giá, theo khoản 2 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025.
  • Người khởi kiện phải có căn cứ chứng minh vi phạm trong quá trình đấu giá, theo khoản 2 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025.
  • Việc hủy theo khoản 2 và khoản 3 Điều 72 được giải quyết theo thủ tục rút gọn, theo khoản 2 Điều 7 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024).

Nội Dung Bài Viết

Hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án hiện do văn bản nào điều chỉnh

Việc hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án chịu sự điều chỉnh của hai luật. Luật Đấu giá tài sản quy định căn cứ hủy, còn Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định quyền khởi kiện và cách xử lý tài sản sau khi hủy. Hiểu đúng ranh giới này giúp tránh nhầm lẫn.

Luật Thi hành án dân sự 2025 thay thế Luật năm 2008 từ ngày 01/7/2026

Luật Thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, theo khoản 1 Điều 115 Luật này. Đồng thời, Luật Thi hành án dân sự 2008 cùng các lần sửa đổi hết hiệu lực kể từ cùng ngày, theo khoản 3 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự 2025.

Với việc thi hành án chưa kết thúc trước ngày 01/7/2026, khoản 3 Điều 116 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định áp dụng luật mới để tiếp tục thi hành. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 116 cho phép giữ nguyên các thủ tục đã thực hiện đúng Luật năm 2008 trước thời điểm này, nên không phải làm lại.

Điều này kéo theo một hệ quả thực tế. Cuộc đấu giá được ký hợp đồng dịch vụ trước 01/7/2026 vẫn có thể gắn với quyết định kê biên và thủ tục theo luật cũ, còn tranh chấp phát sinh sau thời điểm này lại dẫn chiếu quy định mới. Hồ sơ cần được phân tách theo từng mốc thời gian.

Mối quan hệ giữa Luật Thi hành án dân sự và Luật Đấu giá tài sản

Khoản 1 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định việc hủy kết quả đấu giá tài sản được thực hiện theo pháp luật về đấu giá tài sản. Nếu kết quả bị hủy, việc xử lý tài sản để thi hành án tiếp tục theo Luật Thi hành án dân sự.

Cách phân công này có ý nghĩa trực tiếp với người liên quan. Muốn biết kết quả đấu giá có bị hủy được hay không, phải đọc Luật Đấu giá tài sản. Muốn biết ai được khởi kiện và tài sản sau đó được xử lý ra sao, phải đọc Luật Thi hành án dân sự 2025. Khoản 5 Điều 83 cũng dẫn chiếu trình tự, thủ tục đấu giá về luật chuyên ngành.

Bốn căn cứ hủy kết quả đấu giá tài sản theo Điều 72 Luật Đấu giá tài sản

Kết quả đấu giá bị hủy khi thuộc một trong bốn nhóm căn cứ: các bên thỏa thuận hủy, hợp đồng bị tuyên vô hiệu, hợp đồng dịch vụ đấu giá bị hủy bỏ, hoặc có hành vi thông đồng, dìm giá. Căn cứ là Điều 72 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024).

Bảng tổng hợp bốn căn cứ hủy kết quả đấu giá

Bảng dưới đây giúp người đọc đối chiếu nhanh tình huống của mình với từng căn cứ. Cột cuối cho biết cách giải quyết, vì không phải căn cứ nào cũng cần Tòa án tuyên bố hủy.

Khoản Điều 72 Nội dung căn cứ Cách xử lý chủ yếu
Khoản 1 Các bên thỏa thuận hủy kết quả đấu giá hoặc hủy hợp đồng mua bán, trừ trường hợp gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên có liên quan
Khoản 2 Hợp đồng dịch vụ đấu giá hoặc hợp đồng mua bán bị Tòa án tuyên vô hiệu khi người trúng đấu giá vi phạm điểm b khoản 5 Điều 9 Khởi kiện tại Tòa án, giải quyết theo thủ tục rút gọn
Khoản 3 Hợp đồng dịch vụ đấu giá bị hủy bỏ theo khoản 6 Điều 33 Người có tài sản đấu giá hủy bỏ hợp đồng; tranh chấp giải quyết theo thủ tục rút gọn
Khoản 4 Thông đồng, móc nối, dìm giá làm sai lệch thông tin tài sản, hồ sơ hoặc kết quả đấu giá, hoặc theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính Quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Thỏa thuận hủy kết quả đấu giá và giới hạn của thỏa thuận

Khoản 1 Điều 72 cho phép hủy kết quả theo thỏa thuận giữa người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá và người trúng đấu giá. Thỏa thuận không được gây thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Trong thi hành án, tài sản đem bán thuộc nghĩa vụ của người phải thi hành án và liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người được thi hành án. Theo thực tiễn áp dụng, một thỏa thuận hủy chỉ có giá trị khi không làm ảnh hưởng đến các chủ thể này và phải được thực hiện thông qua Chấp hành viên.

Hợp đồng bị tuyên vô hiệu và hợp đồng dịch vụ đấu giá bị hủy bỏ

Khoản 2 Điều 72 áp dụng khi Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng dịch vụ đấu giá hoặc hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, trong trường hợp người trúng đấu giá có hành vi vi phạm điểm b khoản 5 Điều 9. Điểm này cấm thông đồng, móc nối để dìm giá, nâng giá, làm sai lệch kết quả.

Khoản 3 Điều 72 áp dụng khi người có tài sản đấu giá hủy bỏ hợp đồng dịch vụ theo khoản 6 Điều 33 Luật Đấu giá tài sản 2016. Các căn cứ hủy bỏ gồm:

  • Tổ chức không có chức năng đấu giá mà tiến hành cuộc đấu giá, hoặc người không phải đấu giá viên mà điều hành phiên đấu giá.
  • Tổ chức đấu giá cố tình cho người không đủ điều kiện tham gia đấu giá và trúng đấu giá.
  • Tổ chức đấu giá không niêm yết, không thông báo công khai hoặc thực hiện sai quy định về hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá.
  • Tổ chức đấu giá thông đồng, móc nối với người tham gia đấu giá làm sai lệch thông tin hoặc kết quả.
  • Tổ chức cuộc đấu giá không đúng hình thức, phương thức theo Quy chế cuộc đấu giá dẫn đến sai lệch kết quả.

Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024) đã thay một số cụm từ tại khoản này, ví dụ chuyển “điều hành cuộc đấu giá” thành “điều hành phiên đấu giá”. Người đọc nên dùng bản đã sửa đổi khi trích dẫn.

Thông đồng, móc nối, dìm giá và quyết định xử phạt

Khoản 4 Điều 72 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2024) hủy kết quả theo quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi có căn cứ tại khoản 6 Điều 33, hoặc khi các chủ thể liên quan có hành vi thông đồng, móc nối, dìm giá. Hành vi phải làm sai lệch thông tin tài sản, hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá.

Điều 70 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024) cho thấy người vi phạm khoản 5 Điều 9 có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, và phải bồi thường nếu gây thiệt hại.

Đây là nhóm căn cứ khó chứng minh nhất vì thông đồng thường diễn ra kín. Chứng cứ có giá trị thường là hồ sơ đăng ký, lịch sử trả giá trên hệ thống, quan hệ giữa những người tham gia và diễn biến bất thường của phiên đấu giá.

Ai có quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án?

Theo khoản 2 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025, chỉ người mua được tài sản đấu giá và Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả đấu giá, nếu có căn cứ chứng minh vi phạm trong quá trình đấu giá theo quy định của Chính phủ.

Hai chủ thể được khởi kiện theo Điều 85

Quy định này giữ cách tiếp cận của Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014), vốn cũng giới hạn quyền khởi kiện cho người mua được tài sản và Chấp hành viên. Theo thực tiễn áp dụng, giới hạn này nhằm hạn chế việc khởi kiện để kéo dài thời gian thi hành án.

Hai chủ thể có vai trò khác nhau. Người mua được tài sản khởi kiện khi muốn bảo vệ quyền sở hữu hoặc đòi lại tiền do cuộc đấu giá có sai phạm. Chấp hành viên khởi kiện khi phát hiện vi phạm làm ảnh hưởng đến việc thi hành án và cần xử lý lại tài sản.

Người được thi hành án và người phải thi hành án làm gì khi phát hiện vi phạm

Khoản 2 Điều 85 không nêu đương sự, tức người được thi hành án và người phải thi hành án, trong danh sách người khởi kiện. Theo thực tiễn áp dụng, họ thường sử dụng quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Chấp hành viên theo Điều 96 Luật Thi hành án dân sự 2025.

Hai con đường này khác nhau về bản chất. Khiếu nại nhằm xem xét tính hợp pháp của quyết định, hành vi thi hành án, còn khởi kiện nhằm giải quyết tranh chấp về kết quả đấu giá. Bảng dưới đây so sánh các điểm chính.

Tiêu chí Khiếu nại về thi hành án Khởi kiện về kết quả đấu giá
Căn cứ Điều 96 Luật Thi hành án dân sự 2025 Khoản 2 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025
Chủ thể Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị ảnh hưởng trực tiếp Người mua được tài sản đấu giá, Chấp hành viên
Đối tượng Quyết định, hành vi của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên Kết quả đấu giá và quan hệ mua bán tài sản đấu giá
Cơ quan giải quyết Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án Tòa án có thẩm quyền
Thời hạn Thời hiệu 15, 10 hoặc 30 ngày tùy loại quyết định, hành vi Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Khoản 2 Điều 96 Luật Thi hành án dân sự 2025 chia thời hiệu khiếu nại lần đầu thành ba nhóm: 15 ngày với quyết định, hành vi trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế; 10 ngày với biện pháp bảo đảm; 30 ngày với biện pháp cưỡng chế và sau đó.

Người phải thi hành án thường bỏ lỡ thời hiệu khiếu nại vì chờ đến khi tài sản đã được bán mới phản ứng. Nên theo dõi sát các thông báo của Chấp hành viên và gửi khiếu nại ngay khi phát hiện sai sót về thẩm định giá, thông báo hoặc quy trình đấu giá.

Ai được khởi kiện hủy kết quả đấu giá thi hành án: người mua được tài sản, đương sự, chấp hành viên
Người mua được tài sản đấu giá và đương sự được khởi kiện, nhưng phải có căn cứ chứng minh vi phạm.

Tòa án nào có thẩm quyền và giải quyết theo thủ tục nào?

Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản thuộc thẩm quyền của Tòa án theo khoản 13 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm các tranh chấp tại Điều 26, theo Điều 35 Bộ luật này (sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15).

Xác định Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ

Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thẩm quyền theo lãnh thổ. Điểm a khoản 1 giao cho Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở. Điểm c khoản 1 quy định riêng: đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền.

Theo thực tiễn áp dụng, việc tranh chấp về kết quả đấu giá bất động sản có thuộc điểm c hay không đôi khi có cách hiểu khác nhau, vì đối tượng tranh chấp có thể là kết quả đấu giá chứ không phải quyền sử dụng đất. Cách an toàn là nộp đơn tại Tòa án nơi có bất động sản và nơi bị đơn cư trú, rồi tham khảo ý kiến luật sư.

Thủ tục rút gọn đối với tranh chấp hủy kết quả đấu giá

Khoản 2 Điều 7 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024) quy định việc hủy kết quả đấu giá theo khoản 2 và khoản 3 Điều 72 được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Khoản 3 Điều 316 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là cơ sở dẫn chiếu.

Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn khi vụ án đáp ứng điều kiện tại Điều 317, gồm tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, tài liệu chứng cứ đầy đủ, các đương sự có địa chỉ rõ ràng. Nếu phát sinh tình tiết mới cần thẩm định giá hoặc giám định, Tòa án chuyển sang thủ tục thông thường.

Hai điểm cần lưu ý. Thứ nhất, thủ tục rút gọn chỉ áp dụng cho căn cứ ở khoản 2 và khoản 3 Điều 72, không tự động áp dụng cho mọi tranh chấp về kết quả đấu giá. Thứ hai, việc rút gọn chỉ rút ngắn trình tự chứ không giảm yêu cầu về chứng cứ của người khởi kiện.

Hồ sơ và trình tự khởi kiện yêu cầu hủy kết quả đấu giá

Người khởi kiện cần nộp đơn đúng nội dung theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, kèm tài liệu chứng minh vi phạm trong quá trình đấu giá. Hồ sơ càng cụ thể về thời điểm, hành vi và người thực hiện thì càng thuận lợi cho việc thụ lý và giải quyết.

Thành phần hồ sơ cần chuẩn bị

Hồ sơ tối thiểu nên có các tài liệu sau, tùy vai trò của người khởi kiện:

  • Đơn khởi kiện có đủ nội dung chính tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nêu rõ yêu cầu hủy kết quả đấu giá và căn cứ.
  • Giấy tờ chứng minh tư cách người khởi kiện: căn cước, đăng ký doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm Chấp hành viên.
  • Thông báo đấu giá, Quy chế cuộc đấu giá, hợp đồng dịch vụ đấu giá và biên bản đấu giá.
  • Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, chứng từ nộp tiền đặt trước và tiền mua tài sản.
  • Chứng cứ về hành vi vi phạm: lịch sử trả giá, hồ sơ đăng ký tham gia, thông báo công khai, tin nhắn, kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
  • Quyết định kê biên, bản thẩm định giá và quyết định giảm giá của Chấp hành viên nếu liên quan.

Trình tự nộp đơn và thụ lý

Thủ tục khởi kiện thực hiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Các bước chính như sau:

  1. Nộp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo tại Tòa án có thẩm quyền.
  2. Nhận giấy báo nộp tiền tạm ứng án phí, thực hiện trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận giấy báo, theo khoản 2 Điều 195.
  3. Tòa án thụ lý vụ án khi nhận biên lai tạm ứng án phí, theo khoản 3 Điều 195.
  4. Tòa án thông báo thụ lý cho các bên trong 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý, theo khoản 1 Điều 196.
  5. Tòa án xem xét áp dụng thủ tục rút gọn nếu đủ điều kiện, nếu không thì giải quyết theo thủ tục thông thường.
Trình tự khởi kiện hủy kết quả đấu giá: nộp đơn, tạm ứng án phí trong 07 ngày, Tòa án thụ lý
Năm bước khởi kiện: nộp đơn và chứng cứ, nhận giấy báo, nộp tạm ứng án phí trong 07 ngày, Tòa án thụ lý và thông báo.

Hậu quả pháp lý khi kết quả đấu giá bị hủy

Khi kết quả đấu giá bị hủy theo khoản 2, 3 và 4 Điều 72, các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả tài sản đã nhận bằng hiện vật hoặc tiền; bên gây thiệt hại phải bồi thường. Căn cứ là khoản 1 Điều 73 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024).

Xử lý tài sản và hoàn trả tiền

Với căn cứ tại khoản 3 và khoản 4 Điều 72, khoản 2 Điều 73 yêu cầu cơ quan phê duyệt hủy quyết định phê duyệt kết quả đấu giá, đồng thời người có tài sản đấu giá hủy bỏ hợp đồng mua bán hoặc yêu cầu Tòa án hủy, tuyên vô hiệu hợp đồng.

Khoản 1 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định tài sản sau khi kết quả bị hủy được xử lý tiếp theo Luật này. Việc bán tài sản lần tiếp theo thực hiện theo Điều 83, từ thẩm định giá, ký hợp đồng dịch vụ đấu giá đến tổ chức đấu giá.

Người trúng đấu giá đã nộp tiền có quyền yêu cầu hoàn trả khoản tiền đó. Tiền đặt trước và tiền mua tài sản không nên được xử lý theo phỏng đoán, mà cần căn cứ vào nguyên nhân hủy và lỗi của từng bên theo quy định của pháp luật.

Bồi thường thiệt hại

Khoản 3 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả đấu giá bị hủy được giải quyết theo pháp luật. Bên có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường.

Thiệt hại thường gặp gồm chi phí thẩm định giá, chi phí tổ chức đấu giá, lãi phát sinh trên khoản tiền đã nộp và chênh lệch giá khi bán lại. Người đề nghị bồi thường cần lưu giữ chứng từ và chứng minh mối quan hệ giữa vi phạm và thiệt hại.

Khoản 7 Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025 còn quy định tổ chức hành nghề đấu giá và đấu giá viên chịu trách nhiệm về việc đấu giá tài sản thi hành án; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Kinh nghiệm thực tế khi xử lý tranh chấp hủy kết quả đấu giá

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, tranh chấp về kết quả đấu giá thường bị kéo dài không phải vì khó về luật mà vì chứng cứ vi phạm rời rạc và người khởi kiện nhầm lẫn giữa khiếu nại và khởi kiện.

Một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là cho rằng giá bán thấp hơn giá thị trường là đủ để hủy kết quả. Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, Tòa án chỉ chấp nhận khi chứng minh được vi phạm cụ thể: niêm yết sai, thông báo thiếu, người tham gia không đủ điều kiện hoặc có dấu hiệu thông đồng.

Một tình huống khác là người phải thi hành án tự nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy khi chưa xác định tư cách. Hồ sơ bị trả lại hoặc yêu cầu bị bác vì khoản 2 Điều 85 chỉ trao quyền cho người mua được tài sản và Chấp hành viên. Trường hợp này nên chuyển sang khiếu nại đúng thời hiệu.

Phía người trúng đấu giá, sai lầm hay gặp là nộp tiền mua tài sản rồi mới phát hiện thông tin tài sản không đúng với thông báo, ví dụ tình trạng pháp lý hoặc hiện trạng thực tế. Khi đó cần xem lại ngay quy chế cuộc đấu giá và các thông báo đã công bố để xác định vi phạm thuộc căn cứ nào.

Hồ sơ nên được chuẩn bị theo trình tự thời gian. Một bảng diễn biến từ ngày kê biên, thẩm định giá, ký hợp đồng dịch vụ, thông báo, phiên đấu giá đến lúc nộp tiền giúp Tòa án nắm nhanh quan hệ pháp luật và thường hỗ trợ việc áp dụng thủ tục rút gọn.

Các câu hỏi thường gặp về hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án

Dưới đây là những câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tài sản thi hành án được đưa ra đấu giá hoặc khi cuộc đấu giá có dấu hiệu sai phạm. Các câu trả lời dựa trên quy định đã được đối chiếu và cần áp dụng theo hồ sơ cụ thể của từng vụ việc.

1. Ai được khởi kiện yêu cầu hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án?

Người mua được tài sản đấu giá và Chấp hành viên có quyền khởi kiện, theo khoản 2 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025. Người khởi kiện phải có căn cứ chứng minh vi phạm trong quá trình đấu giá. Người được thi hành án và người phải thi hành án thường sử dụng quyền khiếu nại theo Điều 96 Luật này.

2. Giá bán thấp hơn giá thị trường có được hủy kết quả đấu giá không?

Không đủ để hủy chỉ vì lý do này. Điều 72 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024) liệt kê các căn cứ hủy, gồm thỏa thuận, hợp đồng bị vô hiệu hoặc hủy bỏ, thông đồng và dìm giá. Giá thấp chỉ là dấu hiệu cần xác minh, không phải căn cứ độc lập.

3. Tranh chấp về kết quả đấu giá do Tòa án nào giải quyết?

Tranh chấp thuộc thẩm quyền Tòa án theo khoản 13 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm theo Điều 35 Bộ luật này đã được sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15. Việc xác định Tòa án cụ thể theo Điều 39, tùy bị đơn và loại tài sản.

4. Có phải mọi tranh chấp về kết quả đấu giá đều giải quyết theo thủ tục rút gọn không?

Không. Khoản 2 Điều 7 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024) chỉ nêu việc hủy theo khoản 2 và khoản 3 Điều 72. Vụ án còn phải đáp ứng điều kiện tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nếu không, Tòa án giải quyết theo thủ tục thông thường.

5. Kết quả đấu giá bị hủy thì tiền đã nộp được xử lý thế nào?

Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu không trả được bằng hiện vật thì trả bằng tiền, theo khoản 1 Điều 73 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024). Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

6. Thi hành án chưa xong trước 01/7/2026 thì áp dụng luật nào?

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự 2025 để tiếp tục thi hành, theo khoản 3 Điều 116 Luật này. Thủ tục đã thực hiện đúng Luật năm 2008 trước ngày 01/7/2026 không phải làm lại theo khoản 4 Điều 116. Hồ sơ nên được rà soát theo từng mốc thời gian.

Kết luận

Căn cứ hủy kết quả đấu giá tài sản thi hành án nằm ở Điều 72 Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024), còn quyền khởi kiện thuộc về người mua được tài sản và Chấp hành viên theo Điều 85 Luật Thi hành án dân sự 2025. Mỗi vai trò có hướng xử lý riêng: người mua khởi kiện đúng căn cứ, đương sự khiếu nại đúng thời hiệu, Chấp hành viên xử lý lại tài sản khi kết quả bị hủy. Luật Long Phan PMT sẵn sàng rà soát hồ sơ đấu giá và đồng hành qua hotline 1900636387. Để tìm hiểu thêm về xác định căn cứ hủy và hướng khiếu nại, khởi kiện phù hợp, tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư thi hành án dân sự

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Thi hành án dân sự 2025
  • Luật Đấu giá tài sản 2016 (sửa đổi, bổ sung 2023, 2024)
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025)
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Nguyễn Văn Quynh

Luật sư Nguyễn Văn Quynh là thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là một chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm với thâm niên hoạt động lâu năm trong nghề luật tại Việt Nam. Ông được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư vào ngày 17/03/2008. Hiện nay, Luật sư Nguyễn Văn Quynh đang giữ vai trò là Trưởng Văn phòng Luật sư Bình Tân.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87