Nhiều người vi phạm trên một thửa đất: Cách xác định số tiền phải nộp

Nhiều người vi phạm trên một thửa đất là tình huống phát sinh không ít vướng mắc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt, đặc biệt về cách tách bạch tiền phạt và số lợi bất hợp pháp giữa các chủ thể cùng vi phạm. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều khách hàng bị tính gộp toàn bộ số lợi bất hợp pháp cho một người thay vì chia đều theo đúng quy định, dẫn đến số tiền phải nộp cao hơn thực tế và phát sinh khiếu nại kéo dài liên quan đến thủ tục hành chính đất đai. Bài viết dưới đây phân tích các khoản tiền phải nộp, nguyên tắc chia đều số lợi bất hợp pháp và cách xử lý khi bị xác định sai.

Nhiều người vi phạm trên một thửa đất và cách xác định số tiền phải nộp.
Tiền phạt được xác định riêng cho từng người, còn số lợi bất hợp pháp được chia đều giữa các chủ thể cùng vi phạm.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Khi nhiều người vi phạm trên một thửa đất, số lợi bất hợp pháp phải nộp được chia đều cho các chủ thể cùng vi phạm, theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP).
  • Tiền phạt vi phạm hành chính không chia đều mà mỗi người chịu trách nhiệm riêng về hành vi của mình, theo điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung 2020).
  • Khoản tiền người vi phạm đã nộp vào ngân sách nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm được khấu trừ khi xác định số lợi bất hợp pháp phải nộp, theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 281/2026/NĐ-CP).
  • Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 02 năm kể từ ngày 01/7/2025, theo điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung 2025).

Nội Dung Bài Viết

Nhiều người vi phạm trên một thửa đất là trường hợp nào?

Một nhóm hộ gia đình cùng nhận chuyển nhượng một thửa đất nông nghiệp rồi cùng nhau san lấp, xây dựng nhà xưởng mà không chuyển mục đích sử dụng đất. Khi đoàn kiểm tra lập biên bản, cơ quan có thẩm quyền xác định đây là hành vi vi phạm hành chính do nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện trên một thửa đất, buộc quyết định xử phạt phải tách riêng tiền phạt của từng người và chia đều phần số lợi bất hợp pháp thu được.

Về mặt pháp lý, tình trạng này phát sinh khi từ hai tổ chức, cá nhân trở lên cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính đất đai trên cùng một thửa đất, ví dụ cùng lấn chiếm, cùng sử dụng sai mục đích hoặc cùng đứng tên trong giao dịch chuyển nhượng không đủ điều kiện. Đây là quy định mới được bổ sung tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP so với Nghị định 91/2019/NĐ-CP trước đây.

Số tiền phải nộp gồm những khoản nào?

Khi có nhiều chủ thể cùng vi phạm trên một thửa đất, số tiền phải nộp gồm hai khoản khác bản chất: tiền phạt vi phạm hành chính và số lợi bất hợp pháp thu được từ việc sử dụng đất sau vi phạm. Hai khoản này áp dụng nguyên tắc xác định hoàn toàn khác nhau nên không thể gộp chung khi tính toán.

Căn cứ Điều 5 và Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP , tiền phạt được xác định theo khung phạt của từng hành vi vi phạm cụ thể tại Chương II Nghị định này, trong khi số lợi bất hợp pháp được xác định theo công thức riêng dựa trên diện tích, giá đất và thời gian vi phạm. Việc tách bạch đúng hai khoản này ngay từ đầu là bước quan trọng để kiểm tra tính chính xác của quyết định xử phạt.

Phạt tiền: mỗi người chịu trách nhiệm về hành vi của mình

Theo điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14), nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó. Quy định này có nghĩa là tiền phạt không được chia đều cho các bên mà mỗi cá nhân, tổ chức phải chịu mức phạt riêng theo đúng khung phạt quy định tại Điều 5 Nghị định 123/2024/NĐ-CP cho hành vi mà người đó đã thực hiện.

Trên thực tế, cơ quan xử phạt có thể lập một biên bản chung nhưng phải ban hành quyết định xử phạt ghi rõ mức phạt tiền riêng của từng cá nhân, tổ chức. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm, theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

Số lợi bất hợp pháp: khoản bị chia đều giữa các bên cùng vi phạm

Khác với tiền phạt, số lợi bất hợp pháp là khoản tiền duy nhất áp dụng nguyên tắc chia đều khi có nhiều chủ thể cùng vi phạm trên cùng thửa đất. Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP), số lợi bất hợp pháp là số lợi được tính thành tiền do tổ chức, cá nhân có được từ việc sử dụng đất sau vi phạm, phải nộp vào ngân sách nhà nước.

Quy định cùng điều khoản nêu rõ: trường hợp hành vi vi phạm do nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện trên một thửa đất thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được chia đều cho các tổ chức, cá nhân cùng vi phạm. Đây là nội dung mới được bổ sung so với Nghị định 91/2019/NĐ-CP trước đây, giúp cơ quan xử phạt có căn cứ cụ thể để phân chia khoản tiền này thay vì tự ý gộp cho một người chịu trách nhiệm toàn bộ.

Xem thêm: Bị xử phạt vi phạm hành chính về đất đai cần làm gì?

Nguyên tắc chia đều số lợi bất hợp pháp khi nhiều người cùng vi phạm trên một thửa đất

Nguyên tắc chia đều áp dụng thống nhất bất kể mức độ tham gia thực tế của từng người, miễn là các bên cùng bị xác định là đồng chủ thể vi phạm. Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP), tổng số lợi bất hợp pháp được tính ra trước theo công thức tương ứng với từng nhóm hành vi, sau đó mới chia đều theo đầu người cho số lượng tổ chức, cá nhân cùng vi phạm, không phân biệt diện tích sử dụng hay tỷ lệ đóng góp, trừ trường hợp có tài liệu, chứng cứ xác định rõ tỷ lệ khác.

Cách khấu trừ khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước

Khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 281/2026/NĐ-CP) bổ sung quy định quan trọng: trường hợp người vi phạm đã nộp các khoản tiền vào ngân sách nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được khấu trừ đi các khoản tiền đã nộp đó. Quy định khấu trừ này áp dụng trước khi thực hiện việc chia đều cho các chủ thể cùng vi phạm trên một thửa đất.

Đối với nhóm hành vi chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện, điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định cụ thể hơn: nếu người vi phạm đã nộp một phần tiền vào ngân sách nhà nước từ giao dịch đó thì số lợi bất hợp pháp được xác định bằng số tiền tính theo công thức của nhóm hành vi này trừ đi số tiền đã nộp. Việc kiểm tra đầy đủ chứng từ nộp tiền trước khi cơ quan xử phạt chia đều số lợi bất hợp pháp là bước cần thiết để tránh bị tính trùng nghĩa vụ tài chính.

Ví dụ minh họa cách tính và chia số lợi bất hợp pháp

Ví dụ minh họa dưới đây giúp hình dung cách áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP trong trường hợp ba cá nhân cùng sử dụng sai mục đích trên một thửa đất, với số liệu chỉ mang tính chất minh họa cho công thức tính toán.

Nội dung Số liệu minh họa
Số người cùng vi phạm trên một thửa đất 03 cá nhân
Tổng số lợi bất hợp pháp tính theo công thức tại điểm a khoản 2 Điều 6 900.000.000 đồng
Khoản tiền một cá nhân đã nộp vào ngân sách trước đó (được khấu trừ) 60.000.000 đồng
Số lợi bất hợp pháp còn phải nộp sau khấu trừ 840.000.000 đồng
Số lợi bất hợp pháp chia đều cho mỗi người (840.000.000 : 3) 280.000.000 đồng
Tiền phạt vi phạm hành chính Xác định riêng cho từng người theo hành vi cụ thể, không chia đều

Qua ví dụ trên, số lợi bất hợp pháp sau khi khấu trừ khoản đã nộp được chia đều cho ba người, trong khi tiền phạt vẫn do cơ quan xử phạt xác định riêng cho từng cá nhân căn cứ vào mức độ, tính chất hành vi của người đó theo Điều 5 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

Nguyên tắc chia đều số lợi bất hợp pháp giữa các chủ thể cùng vi phạm đất đai.
Tổng số lợi bất hợp pháp được xác định, khấu trừ khoản đã nộp rồi phân chia giữa các chủ thể cùng vi phạm.

Công thức xác định tổng số lợi bất hợp pháp trước khi chia

Trước khi chia đều cho các chủ thể cùng vi phạm trên một thửa đất, cơ quan xử phạt phải xác định đúng tổng số lợi bất hợp pháp theo công thức tương ứng với từng nhóm hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Sai công thức áp dụng ở bước này sẽ kéo theo sai toàn bộ số tiền mỗi người phải nộp sau khi chia.

Ba yếu tố quyết định kết quả của mọi công thức là diện tích đất vi phạm, giá đất áp dụng và số năm vi phạm, đều được xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Khi các bên tham gia vào thửa đất trong các giai đoạn thời gian khác nhau, việc xác định đúng số năm vi phạm của từng người trước khi cộng vào tổng số lợi bất hợp pháp càng cần được rà soát kỹ.

Đối với hành vi sử dụng đất sai mục đích

Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, áp dụng cho các hành vi sử dụng đất sai mục đích quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11 và 12 Nghị định này, số lợi bất hợp pháp được xác định bằng chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất theo loại đất sau vi phạm và giá trị quyền sử dụng đất theo loại đất trước vi phạm, nhân với số năm vi phạm. Mỗi giá trị quyền sử dụng đất được tính bằng diện tích đất vi phạm nhân với giá đất theo bảng giá đất tại thời điểm lập biên bản.

Đây là nhóm hành vi phổ biến nhất trong các vụ nhiều chủ thể cùng vi phạm mà Luật Long Phan PMT tiếp nhận, đặc biệt khi nhóm hộ gia đình cùng chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp mà không xin phép cơ quan có thẩm quyền.

>>> Xem thêm: Mức xử phạt hành vi sử dụng đất trồng lúa vào mục đích không được cho phép

Đối với hành vi lấn đất, chiếm đất

Theo điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, áp dụng cho hành vi lấn đất hoặc chiếm đất quy định tại Điều 13 Nghị định này, số lợi bất hợp pháp được tính trực tiếp trên giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đã lấn, chiếm, bằng diện tích đất vi phạm nhân với giá đất theo bảng giá đất và số năm vi phạm, không so sánh chênh lệch như nhóm sử dụng đất sai mục đích.

Trường hợp diện tích đất lấn, chiếm chưa sử dụng vào mục đích nào có trong bảng giá đất, cơ quan có thẩm quyền xác định số lợi bất hợp pháp trên cơ sở thực tế vụ việc, chứng cứ và tài liệu hiện có. Đối với các vụ thuộc nhóm hành vi này có nhiều chủ thể cùng vi phạm, người bị xử phạt nên yêu cầu cơ quan xử phạt nêu rõ căn cứ xác định giá đất áp dụng cho phần diện tích chưa có giá cụ thể, vì đây là điểm dễ phát sinh sai lệch khi tính tổng số lợi bất hợp pháp trước khi chia.

Đối với hành vi chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn quyền sử dụng đất không đủ điều kiện

Theo điểm c và điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, số lợi bất hợp pháp đối với hành vi chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện được xác định bằng giá trị chuyển nhượng, góp vốn thực tế theo hợp đồng đã ký, nhưng không thấp hơn giá trị tính theo bảng giá đất tại thời điểm lập biên bản; số năm vi phạm tính từ thời điểm ký hợp đồng đến thời điểm lập biên bản. Đối với hành vi cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất không đủ điều kiện, số lợi bất hợp pháp được xác định bằng giá trị cho thuê thực tế theo hợp đồng trong thời gian đã cho thuê, nhưng không thấp hơn giá trị tính theo đơn giá thuê đất trả tiền hằng năm tại thời điểm lập biên bản.

Nhóm hành vi này thường phát sinh tình huống nhiều chủ thể cùng vi phạm khi cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng cùng bị xác định vi phạm, do đất chưa đủ điều kiện chuyển nhượng theo Luật Đất đai 2024. Với hợp đồng có nhiều bên nhận chuyển nhượng cùng đứng tên, doanh nghiệp nên rà soát tỷ lệ góp vốn hoặc tỷ lệ nhận chuyển nhượng thực tế trước khi chấp nhận cách chia đều, vì đây là căn cứ để đề nghị chia theo tỷ lệ thực tế thay vì chia đều theo đầu người.

Xác định đúng chủ thể phải liên đới nộp số lợi bất hợp pháp

Việc xác định đúng ai là chủ thể cùng vi phạm quyết định trực tiếp số người được đưa vào công thức chia đều số lợi bất hợp pháp tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP . Xác định thiếu hoặc thừa một chủ thể đều làm sai kết quả cuối cùng mà mỗi người phải nộp. Nguyên tắc chung là chỉ những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm thể hiện qua biên bản vi phạm hành chính hoặc tài liệu, chứng cứ thu thập được mới thuộc diện chia đều; người chỉ liên quan gián tiếp đến thửa đất không đương nhiên bị đưa vào diện liên đới.

Trường hợp đồng sử dụng đất, hộ gia đình cùng đứng tên

Đối với thửa đất do hộ gia đình sử dụng chung hoặc do nhiều cá nhân đồng sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi hành vi vi phạm được xác định là do cả hộ hoặc cả nhóm đồng sử dụng cùng thực hiện, số lợi bất hợp pháp được chia đều cho từng thành viên có tên trong biên bản vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP .

Nếu chỉ một số thành viên trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm trong khi các thành viên còn lại không tham gia hoặc phản đối, hộ gia đình nên chủ động cung cấp tài liệu chứng minh vai trò thực tế của từng thành viên khi làm việc với đoàn kiểm tra, làm căn cứ loại trừ thành viên không vi phạm khỏi diện chia đều.

Trường hợp bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng cùng vi phạm

Khi cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng cùng bị xác định vi phạm do giao dịch không đủ điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, cả hai bên đều thuộc diện cùng vi phạm trên một thửa đất và số lợi bất hợp pháp được chia đều giữa hai bên theo khoản 1 Điều 6 Nghị định này.

Trường hợp bên chuyển nhượng là tổ chức đã giải thể, phá sản hoặc cá nhân đã chết không có người thừa kế, không xác định được địa chỉ tại thời điểm phát hiện vi phạm, bên nhận chuyển nhượng không bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Đây là ngoại lệ doanh nghiệp cần lưu ý khi giao dịch với bên chuyển nhượng có dấu hiệu ngừng hoạt động, vì nghĩa vụ tài chính khi đó dồn hoàn toàn về phía bên nhận chuyển nhượng, không còn được chia đều.

Kinh nghiệm thực tế khi xử lý các vụ chia số lợi bất hợp pháp giữa nhiều người vi phạm

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đất đai có nhiều chủ thể cùng vi phạm, một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là cơ quan xử phạt tính gộp toàn bộ số lợi bất hợp pháp cho một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thay vì chia đều cho tất cả những người có tên trong biên bản. Cách tính gộp này thường xảy ra khi hồ sơ không ghi rõ vai trò của từng người, khiến cơ quan xử phạt mặc định quy trách nhiệm cho chủ sử dụng đất theo giấy tờ pháp lý.

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, một điểm khác cơ quan có thẩm quyền thường xác định sai là diện tích và thời gian vi phạm riêng của từng người khi họ tham gia sử dụng đất vào các thời điểm khác nhau. Người tham gia sau, dù chỉ sử dụng diện tích còn lại trong thời gian ngắn hơn, vẫn có thể bị tính chung số năm vi phạm với người tham gia từ đầu, khiến phần số lợi bất hợp pháp phân bổ cho người này bị tính cao hơn thực tế trước khi chia đều theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

Rủi ro cần lưu ý khi bị xác định sai số tiền phải nộp

Việc bị xác định sai số tiền phải nộp khi nhiều người vi phạm trên một thửa đất không tự động được điều chỉnh nếu người bị xử phạt không chủ động phát hiện và khiếu nại đúng thời hạn. Dưới đây là các nhóm rủi ro thường gặp trên thực tế.

Rủi ro bị tính gộp toàn bộ số lợi thay vì chia đều

Khi quyết định xử phạt không thể hiện rõ căn cứ chia đều theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP mà chỉ ghi một mức số lợi bất hợp pháp chung, người bị xử phạt có nguy cơ phải gánh toàn bộ nghĩa vụ tài chính thay cho những người cùng vi phạm khác. Đây là rủi ro nghiêm trọng nhất vì số tiền chênh lệch có thể lên đến nhiều lần so với phần đáng lẽ phải nộp nếu được chia đều đúng quy định.

Rủi ro xác định sai diện tích, thời gian vi phạm của từng người

Ngay cả khi cơ quan xử phạt đã áp dụng nguyên tắc chia đều, việc xác định sai diện tích hoặc thời gian vi phạm chung của cả nhóm trước khi chia vẫn khiến tổng số lợi bất hợp pháp bị tính cao hơn thực tế theo công thức tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, kéo theo phần mỗi người phải nộp sau khi chia đều cũng bị tính cao hơn đúng mức.

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đất đai đã tăng lên 02 năm từ 01/7/2025

Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Luật số 88/2025/QH15), thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 02 năm, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, thay vì 01 năm như quy định trước đó. Với các vụ việc có hành vi vi phạm kéo dài qua nhiều thời kỳ pháp luật, người bị xử phạt nên chủ động rà soát mốc thời gian bắt đầu và kết thúc hành vi vi phạm để đối chiếu với thời hiệu hiện hành, vì đây là căn cứ có thể sử dụng để phản đối quyết định xử phạt nếu thời hiệu đã hết tại thời điểm lập biên bản.

Quyền khiếu nại quyết định xử phạt nếu cách chia không đúng

Người bị xử phạt có quyền khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi có căn cứ cho rằng cách xác định hoặc cách chia số lợi bất hợp pháp không đúng quy định, theo Luật Khiếu nại 2011 và Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung 2020, 2025). Việc thực hiện quyền khiếu nại đúng thời hạn là điều kiện tiên quyết để được xem xét lại số tiền phải nộp trước khi quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành hoàn toàn.

Thủ tục khiếu nại khi không đồng ý với số tiền bị yêu cầu nộp

Khi có căn cứ cho rằng cách xác định hoặc cách chia số tiền phải nộp giữa những người vi phạm trên một thửa đất không đúng quy định, người bị xử phạt cần thực hiện thủ tục khiếu nại theo trình tự sau:

  1. Nộp đơn khiếu nại lần đầu đến chính người đã ra quyết định xử phạt trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định xử phạt, theo Điều 7 và Điều 9 Luật Khiếu nại 2011.
  2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thụ lý và ra quyết định giải quyết trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011.
  3. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu, hoặc hết thời hạn nêu trên mà khiếu nại không được giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lần hai trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định giải quyết lần đầu hoặc kể từ ngày hết thời hạn giải quyết lần đầu, theo Điều 33 Luật Khiếu nại 2011.
  4. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ra quyết định giải quyết trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, theo Điều 37 Luật Khiếu nại 2011.
  5. Trong suốt quá trình khiếu nại, người bị xử phạt vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, kể cả phần số lợi bất hợp pháp, trừ trường hợp người giải quyết khiếu nại xét thấy việc thi hành sẽ gây hậu quả khó khắc phục và ra quyết định tạm đình chỉ thi hành theo khoản 3 Điều 15 và khoản 1 Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung 2020).
Thủ tục khiếu nại số tiền bị yêu cầu nộp khi xử phạt vi phạm hành chính đất đai.
Người bị xử phạt có thể khiếu nại khi có căn cứ cho rằng cách xác định hoặc phân chia số tiền không đúng.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ xác định và bảo vệ quyền lợi khi nhiều người cùng vi phạm trên một thửa đất

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc nhiều người vi phạm trên một thửa đất với các công việc sau:

  • Rà soát biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt và tài liệu liên quan đến thửa đất vi phạm.
  • Kiểm tra nội dung xác định nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện hành vi vi phạm trên một thửa đất.
  • Đánh giá căn cứ xác định từng cá nhân, tổ chức có thuộc diện cùng vi phạm hay không.
  • Rà soát nguồn gốc sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ pháp lý của thửa đất.
  • Xác định hành vi vi phạm cụ thể như sử dụng đất sai mục đích, lấn đất, chiếm đất, chuyển nhượng, cho thuê hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện.
  • Đánh giá việc áp dụng đúng nguyên tắc tiền phạt và số lợi bất hợp pháp trong cùng một vụ việc.
  • Kiểm tra trường hợp tiền phạt bị xác định chung cho nhiều người thay vì xác định riêng từng chủ thể.
  • Rà soát việc áp dụng nguyên tắc mỗi người chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình.
  • Kiểm tra mức phạt tiền áp dụng đối với từng cá nhân, tổ chức theo hành vi vi phạm cụ thể.
  • Đánh giá trường hợp tổ chức bị áp dụng mức phạt bằng hai lần cá nhân có cùng hành vi vi phạm.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về nhiều người vi phạm trên một thửa đất: Cách xác định số tiền phải nộp

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi có nhiều chủ thể cùng vi phạm trên một thửa đất. Các câu trả lời dựa trên quy định của Nghị định 123/2024/NĐ-CP, Nghị định 281/2026/NĐ-CP và Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 hiện đang có hiệu lực.

1. Tiền phạt vi phạm hành chính có được chia đều giữa những người cùng vi phạm không?

Không. Mỗi người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt riêng đối với hành vi đó. Chỉ số lợi bất hợp pháp mới được áp dụng nguyên tắc chia đều theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP.

2. Nếu một trong những người vi phạm không có khả năng nộp phần của mình thì những người còn lại có phải nộp thay không?

Về nguyên tắc, nghĩa vụ nộp số lợi bất hợp pháp được xác định riêng cho từng người theo phần đã chia đều, không đương nhiên phát sinh nghĩa vụ nộp thay cho người khác. Việc thu hồi phần của người không có khả năng nộp thực hiện theo quy định về cưỡng chế thi hành tại Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.

3. Cách chia đều áp dụng theo đầu người hay theo diện tích sử dụng thực tế của từng người?

Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP , nguyên tắc chung là chia đều theo số lượng tổ chức, cá nhân cùng vi phạm, không phân biệt diện tích sử dụng thực tế. Nếu có tài liệu, chứng cứ xác định tỷ lệ đóng góp khác nhau giữa các bên, người bị xử phạt có thể đề nghị xem xét lại cách phân chia phù hợp với thực tế hồ sơ.

4. Số lợi bất hợp pháp đối với hành vi xảy ra trước ngày Nghị định 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực được tính theo quy định nào?

Nghị định 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 31/8/2026 và sửa đổi khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, bổ sung quy định khấu trừ khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước khi xác định số lợi bất hợp pháp. Việc áp dụng cụ thể cho từng vụ việc phụ thuộc vào thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính và quy định chuyển tiếp của Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

5. Thời hiệu khiếu nại quyết định xử phạt có nội dung chia số lợi bất hợp pháp là bao lâu?

Theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định xử phạt. Trường hợp có trở ngại khách quan như ốm đau, thiên tai khiến không thể khiếu nại đúng thời hạn, khoảng thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

6. Trong thời gian khiếu nại, người bị xử phạt có phải nộp ngay phần số lợi bất hợp pháp của mình không?

Về nguyên tắc, người bị xử phạt vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, bao gồm phần số lợi bất hợp pháp đã được chia, trong thời gian giải quyết khiếu nại, theo khoản 1 Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 67/2020/QH14). Chỉ khi người giải quyết khiếu nại xét thấy việc thi hành sẽ gây hậu quả khó khắc phục và ra quyết định tạm đình chỉ theo khoản 3 Điều 15 của Luật này thì nghĩa vụ chấp hành mới tạm dừng.

Kết luận

Nhiều người vi phạm trên một thửa đất là tình huống đòi hỏi cơ quan xử phạt phải tách bạch rõ tiền phạt riêng của từng người và số lợi bất hợp pháp chia đều giữa các chủ thể cùng vi phạm theo đúng Nghị định 123/2024/NĐ-CP và Nghị định 281/2026/NĐ-CP. Việc chủ động kiểm tra căn cứ chia đều, công thức tính tổng số lợi bất hợp pháp và diện tích, thời gian vi phạm riêng của từng người là yếu tố quyết định để bảo vệ quyền lợi khi bị xử phạt. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tư vấn phương án khiếu nại phù hợp với từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Nghị định 123/2024/NĐ-CP
  • Nghị định 281/2026/NĐ-CP
  • Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020, 2025)
  • Luật Khiếu nại 2011
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , ,

Chuyên Viên Pháp Lý Huỳnh Nhi

Huỳnh Nhi - Chuyên Viên Pháp Lý tại Công ty Luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn về lĩnh vực hành chính và đất đai. Nhiệt huyết với khách hàng, luôn tận tâm để giải quyết các vấn đề mà khách hàng gặp phải.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87