Yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại bởi người dưới 14 tuổi là vấn đề pháp lý phức tạp, bởi người dưới 14 tuổi chưa có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp luật. Khi xảy ra hành vi gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác, trách nhiệm bồi thường thường không do chính người gây ra gánh chịu mà thuộc về cha mẹ hoặc người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn chi tiết các bước chuẩn bị và tiến hành khởi kiện yêu cầu bồi thường trong trường hợp đặc thù này.

Xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người dưới 14 tuổi gây ra
Khi trẻ em, người chưa thành niên gây thiệt hại cho người khác thì ai phải bồi thường? Việc xác định chủ thể có nghĩa vụ bồi thường trong trường hợp này không chỉ phụ thuộc vào độ tuổi của người gây thiệt hại mà còn liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ và các bên liên quan khác.
Về nguyên tắc, theo Khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015, người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường thiệt hại thì có thể dùng tài sản riêng (nếu có) của con chưa thành niên để bồi thường phần còn thiếu.
Ngoài ra, đối với người chưa thành niên có người giám hộ thì người giám hộ có thể dùng tài sản của trẻ là người chưa thành niên để bồi thường thiệt hại, nếu trẻ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại thì người giám hộ sẽ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Tuy nhiên, nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không cần bồi thường bằng tài sản của mình theo khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015.
Một số trường hợp khác:
- Trong thời gian trường học trực tiếp quản lý (giờ học, hoạt động do trường tổ chức…): nhà trường phải bồi thường, trừ khi chứng minh không có lỗi trong quản lý thì khi đó cha, mẹ/giám hộ phải bồi thường theo quy định chung (Điều 599 Bộ luật Dân sự 2015);
- Nhiều người cùng gây thiệt hại (ví dụ nhóm trẻ) thì những người đó liên đới bồi thường; nếu không xác định được mức độ lỗi của từng người thì bồi thường bằng nhau (Điều 587 Bộ luật Dân sự 2015).
Tóm lại, việc xác định chủ thể có nghĩa vụ bồi thường khi người chưa thành niên gây thiệt hại đã được pháp luật quy định rất chi tiết. Tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể mà trách nhiệm này sẽ thuộc về cha mẹ, người giám hộ, nhà trường hoặc thậm chí là liên đới giữa nhiều người.
>>> Xem thêm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên
Xác định mức bồi thường và thu thập chứng cứ chứng minh
Sau khi đã xác định được chủ thể chịu trách nhiệm, bước tiếp theo và quan trọng không kém là xác định mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe một cách hợp lý. Để yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại không chỉ cần nắm rõ các khoản chi phí được pháp luật công nhận mà còn phải thực hiện nghĩa vụ thu thập chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Việc xác định mức bồi thường sức khỏe bị xâm phạm phải tuân thủ các quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
- Ngoài ra, người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản chi phí gọi là tổn thất tinh thần theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Ngoài ra, Điều 3 Nghị quyết 02/2022/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định nguyên tắc khi bồi thường thiệt hại như sau:
- “Thiệt hại thực tế” là thiệt hại đã xảy ra được tính thành tiền tại thời điểm giải quyết bồi thường. Thiệt hại phát sinh sau thời điểm giải quyết bồi thường lần đầu được xác định tại thời điểm giải quyết bồi thường lần tiếp theo nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại.
- “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ” là tất cả các thiệt hại thực tế xảy ra đều phải được bồi thường.
- “Thiệt hại phải được bồi thường kịp thời” là thiệt hại phải được bồi thường nhanh chóng nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Lưu ý: Người yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ.
>>>Xem thêm: Xác định mức bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Xác định thẩm quyền tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại bởi người dưới 14 tuổi
Khi phát sinh tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhiều người thường băn khoăn nên nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nào. Việc xác định thẩm quyền Tòa án một cách chính xác, là thủ tục bắt buộc để đảm bảo vụ án được thụ lý.
- Về thẩm quyền của Tòa án: Căn cứ theo khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Kể từ ngày 01/7/2025, hệ thống tòa án nhân dân tại Việt Nam đã không còn Tòa án cấp huyện mà thay vào đó theo khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 quy định Tòa án khu vực sẽ có thẩm quyền xét xử những vụ án tranh chấp tại Điều 26 BLTTDS 2015.
- Về thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định như sau:
- Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú (điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015); hoặc
- Tòa án nhân dân khu vực nơi người khởi kiện cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết theo yêu cầu của người khởi kiện (điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Như vậy, về nguyên tắc Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú sẽ có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người khởi kiện có quyền lựa chọn nộp đơn tại Tòa án khu vực nơi mình cư trú hoặc Tòa án nơi xảy ra thiệt hại.
>>> Xem thêm: Thủ tục khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Hồ sơ khởi kiện yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại bởi người dưới 14 tuổi
Sau khi đã xác định được Tòa án có thẩm quyền, để chính thức khởi kiện vụ án đòi bồi thường thiệt hại, người khởi kiện cần chuẩn bị một bộ hồ sơ khởi kiện đầy đủ và hợp lệ.
Căn cứ khoản 1 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện theo mẫu số 23-DS ban hành kèm Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017. Trong đơn trình bày rõ nội dung, các căn cứ chứng minh hành vi trái pháp luật của người dưới 14 tuổi và đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại gồm các nội dung:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
- Tên, nơi cư trú/trụ sở của bên khởi kiện; người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Hồ sơ kèm theo đơn kiện bao gồm:
- Các giấy tờ nhân thân của người khởi kiện, người bị kiện (nếu có);
- Biên bản của cơ quan có thẩm quyền về vụ việc xâm phạm sức khỏe, giấy chứng thương hoặc kết luận giám định thương tật;
- Các hoá đơn, chứng từ chi phí điều trị, giấy xác nhận thu nhập;
- Hợp đồng lao động, bản lương của người chăm sóc người bị thiệt hại;
- Các chứng cứ chứng minh khác chứng minh thiệt hại về tinh thần;
- Các tài liệu, chứng cứ khác về thiệt hại.
Tóm lại, việc chuẩn bị một bộ hồ sơ khởi kiện đầy đủ, từ đơn kiện theo đúng mẫu cho đến các tài liệu chứng minh thiệt hại, là yêu cầu bắt buộc khi khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Quy trình tiếp nhận và giải quyết yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại bởi người dưới 14 tuổi
Sau khi đã hoàn tất và nộp bộ hồ sơ khởi kiện hợp lệ, Tòa án sẽ bắt đầu quy trình tiếp nhận và giải quyết vụ án bao gồm các bước sau:
- Theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quy trình thụ lý một vụ án dân sự bắt đầu bằng việc Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện sau khi Tòa án nhận được;
- Nếu xét thấy đơn khởi kiện hợp lệ và vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết, Tòa án sẽ ra thông báo yêu cầu người khởi kiện đi nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn quy định. Theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 trường hợp yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người yêu cầu bồi thường được miễn nộp tiền án phí. Hồ sơ đề nghị miễn tiền án phí đối với người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm gồm có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn tiền án phí.
- Sau khi người khởi kiện hoàn thành nghĩa vụ tài chính này và nộp lại cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí (trừ trường hợp miễn án phí, hồ sơ đề nghị) thì Thẩm phán tiến hành thụ lý và thông báo cho các bên trong thời hạn 03 ngày làm việc (Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015);
- Sau khi thụ lý, Thẩm phán sẽ tiến hành các hoạt động xác minh, nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ và tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các bên trình bày ý kiến, củng cố chứng cứ trong thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 – 06 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án (khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015);
- Nếu các bên không thỏa thuận được về việc việc giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục thông thường. Thời hạn mở phiên tòa xét xử là 01 – 02 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử (khoản 4 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015);
- Nếu người khởi kiện không đồng ý với kết quả trong bản án sơ thẩm thì người khởi kiện có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án cấp sơ tuyên án hoặc khi nhận được bản án tùy trường hợp có mặt tại thời điểm tuyên án hay không theo quy định tại Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015
Tóm lại, quy trình giải quyết vụ án tại Tòa án được tiến hành qua nhiều giai đoạn từ thụ lý, chuẩn bị xét xử, hòa giải cho đến phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Các bên cần lưu ý tuân thủ đúng các yêu cầu và thời hạn mà Tòa án đưa ra thẩm tuyên án (khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
>>> Xem thêm: Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giải quyết thế nào?
Dịch vụ luật sư hướng dẫn khởi kiện yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại bởi người dưới 14 tuổi
Để đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra thuận lợi và bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình, việc sử dụng dịch vụ luật sư là một giải pháp hiệu quả và cần thiết. Long Phan PMT sẽ đại diện và hỗ trợ Quý khách trong suốt quá trình tố tụng với các nội dung công việc sau đây:
- Tư vấn quyền của người bị thiệt hại trong vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm;
- Hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại;
- Tư vấn xác định mức bồi thường theo quy định hiện hành;
- Soạn thảo đơn khởi kiện, đơn đề nghị xác minh, thu thập chứng cứ và các đơn từ khác trong suốt quá trình xử lý;
- Đại diện theo ủy quyền nộp đơn, theo dõi quá trình giải quyết và tham gia các buổi làm việc khi có giấy mời của Tòa án;
- Luật sư tham gia phiên tòa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện;
- Nhận và kiểm tra bản án, quyết định của Tòa án;
- Tư vấn thủ tục kháng cáo (nếu có);
- Tham gia quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
- Soạn thảo đơn yêu cầu thi hành án và làm việc với cơ quan Thi hành án dân sự;
Với kinh nghiệm chuyên sâu, Luật Long Phan PMT sẽ đồng hành cùng Quý khách hàng từ giai đoạn chuẩn bị hồ sơ cho đến khi bản án được thi hành.

Câu hỏi thường gặp về khởi kiện yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại bởi người dưới 14 tuổi
Để giúp Quý khách hiểu rõ hơn về quy trình khởi kiện yêu cầu bồi thường do người 14 tuổi xâm hại sức khỏe, chúng tôi đã tổng hợp một số câu hỏi phổ biến sau:
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là bao lâu?
Theo quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Mức bồi thường tổn thất về tinh thần được xác định tối đa là bao nhiêu?
Căn cứ Khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm sẽ do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, mức bồi thường tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết.
Có thể thỏa thuận bồi thường mà không cần khởi kiện ra Tòa án không?
Hoàn toàn có thể. Nguyên tắc tự định đoạt và tự thỏa thuận của các bên được pháp luật dân sự tôn trọng và khuyến khích, quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Để đảm bảo giá trị pháp lý, các bên nên lập thành văn bản thỏa thuận có đầy đủ chữ ký.
Làm thế nào để chứng minh nhà trường có lỗi trong việc quản lý học sinh?
Trách nhiệm bồi thường của nhà trường được quy định tại Điều 599 Bộ luật Dân sự 2015. Để chứng minh lỗi của nhà trường, người khởi kiện cần thu thập các bằng chứng cho thấy sự quản lý, giám sát lỏng lẻo hoặc không đầy đủ như: nội quy của trường, lời khai nhân chứng, video từ camera an ninh, hoặc chứng minh giáo viên đã không thực hiện đúng chức trách tại thời điểm xảy ra sự việc.
Trong trường hợp nào tài sản riêng của người dưới 14 tuổi được sử dụng để bồi thường?
Khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ: tài sản riêng của người chưa thành niên chỉ được dùng để bồi thường phần còn thiếu sau khi tài sản của cha, mẹ đã dùng để bồi thường mà không đủ.
Trên đây là các câu trả lời cho các thắc mắc của Quý khách xoay quanh vấn đề yêu cầu khởi kiện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Chúng tôi mong rằng những thông tin này sẽ hỗ trợ Quý khách trong quá trình đòi lại công bằng cho người bị thiệt hại.
Kết luận
Để Khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bởi người dưới 14 tuổi thì người khởi kiện cần chuẩn bị đầy đủ chứng cứ, xác định đúng trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Nếu Quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc liên quan đến thủ tục khởi kiện yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại bởi người dưới 14 tuổi, hãy liên hệ hotline 1900636387 để được tư vấn chuyên sâu và báo phí chi tiết.
Tags: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Bồi thường thiệt hại sức khỏe, Mức bồi thường thiệt hại, Người dưới 14 tuổi, Sức khỏe bị xâm hại, Trách nhiệm của cha mẹ

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.