Đòi lại đất nhờ trông coi cần chứng minh gì và khởi kiện thế nào?

Đòi lại đất nhờ trông coi là việc chủ đất yêu cầu người đang giữ đất hoàn trả khi quan hệ giữ hộ đã chấm dứt hoặc người trông coi nhận đó là đất của mình. Luật Long Phan PMT hướng dẫn Quý khách xác định căn cứ, chuẩn bị chứng cứ và thực hiện các bước từ thông báo, hòa giải đến khởi kiện khi có tranh chấp đất đai với người trông coi.

Đòi lại đất nhờ trông coi: chứng minh quyền chủ đất, chứng minh việc nhờ trông coi, hòa giải tại UBND xã, khởi kiện
Đòi lại đất nhờ trông coi cần chứng minh quyền chủ đất và việc nhờ trông coi, hòa giải tại UBND xã rồi khởi kiện tại Tòa án.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật, theo khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015. Khi quyền quản lý được giao cho người trông coi đã chấm dứt, việc tiếp tục giữ đất có thể bị xem là không có căn cứ.
  • Người đang chiếm hữu được suy đoán là ngay tình và là người có quyền đối với tài sản; người tranh chấp phải chứng minh điều ngược lại, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 184 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, chủ đất cần có chứng cứ về việc nhờ trông coi, không thể chỉ dựa vào việc đứng tên thửa đất.
  • Các bên tranh chấp đất đai phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết, theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 (sửa đổi, bổ sung 2024, 2025). Việc hòa giải được thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đơn, theo điểm c khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024.
  • Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết, theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025). Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm các tranh chấp dân sự theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Nhờ trông coi đất khác gì cho mượn, ở nhờ hay nhờ đứng tên?

Nhờ trông coi là việc chủ đất giao đất cho người khác giữ gìn, quản lý hộ mà không chuyển quyền sở hữu hay quyền sử dụng đất. Xác định đúng quan hệ này quyết định căn cứ, chứng cứ và cách đặt yêu cầu khi kiện, nên cần làm rõ trước khi gửi thông báo.

Việc giao đất thường diễn ra bằng lời nói, không có biên bản bàn giao, nên khi tranh chấp phát sinh, chủ đất nói là nhờ giữ hộ, còn người đang giữ nói là được cho hoặc được mượn lâu dài.

Bảng dưới đây giúp Quý khách đối chiếu tình huống của mình với các quan hệ dễ nhầm lẫn nhất.

Quan hệ ban đầu

Dấu hiệu nhận biết

Hệ quả khi đòi lại đất

Nhờ trông coi

Giao đất để giữ gìn, quản lý hộ; người giữ không có quyền định đoạt

Đòi lại theo quyền của chủ đất; người giữ phải hoàn trả

Cho mượn đất

Giao đất sử dụng không trả tiền, có thời hạn hoặc mục đích

Đòi lại khi hết hạn hoặc đạt mục đích, theo Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015

Nhờ đứng tên hộ

Người khác đứng tên trên giấy chứng nhận

Có thể phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất và hiệu lực giấy chứng nhận

Theo điểm b và điểm c khoản 1 Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015, người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản và người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp quy định pháp luật là chiếm hữu có căn cứ. Do đó, trong thời gian được giao, người trông coi chưa bị coi là chiếm giữ trái phép.

Theo thực tiễn áp dụng, nhờ trông coi không có điều luật riêng mà được xem xét theo bản chất thỏa thuận. Nếu chỉ giữ gìn rồi trả lại, quan hệ gần với hợp đồng gửi giữ tài sản theo Điều 554 Bộ luật Dân sự 2015; nếu người trông coi được dùng đất mà không trả tiền, quan hệ gần với hợp đồng mượn tài sản theo Điều 494 Bộ luật Dân sự 2015.

Có một ngoại lệ cần nhận diện sớm: người trông coi đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên mình. Khi đó, vụ việc có thể kéo theo yêu cầu xác định quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận, làm thay đổi thẩm quyền, chứng cứ và thời gian giải quyết.

Khuyến nghị: nếu giấy chứng nhận đã mang tên người trông coi, Quý khách không nên ký thêm văn bản xác nhận hay biên bản làm việc nào khi chưa đối chiếu hồ sơ với luật sư, vì lời xác nhận đó có thể bị dùng để chứng minh việc đã chuyển giao đất.

Nếu chủ đất đang ở nước ngoài, việc đòi lại đất nhờ trông coi khi ở nước ngoài bằng ủy quyền có những bước riêng khi làm việc qua người đại diện. Khi thửa đất là di sản của người đã mất, quyền yêu cầu còn phụ thuộc tư cách người thừa kế, nên việc giải quyết tranh chấp đất thừa kế nhờ trông coi cần được xử lý riêng.

Căn cứ pháp lý để đòi lại đất nhờ trông coi

Chủ đất đòi lại đất dựa trên quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng đất. Người trông coi phải hoàn trả khi quan hệ giữ hộ chấm dứt; nếu từ chối, chủ đất có quyền yêu cầu Tòa án buộc trả đất và bồi thường thiệt hại.

Quyền đòi lại tài sản của chủ đất

Khoản 2 Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người xâm phạm trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật và bồi thường thiệt hại. Đây là nền tảng của yêu cầu khởi kiện trong đa số vụ việc.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chủ sở hữu không được đòi lại tài sản từ chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó. Chủ đất cần chứng minh quyền giữ đất của người trông coi đã chấm dứt, chẳng hạn do đã báo yêu cầu trả.

Nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường của người trông coi

Khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. Đây là căn cứ khi người trông coi vẫn giữ đất sau khi bị yêu cầu trả.

Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người có hành vi xâm phạm tài sản của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật quy định khác. Chủ đất nên lưu ảnh chụp, biên bản hiện trạng và kết quả định giá để chứng minh mức thiệt hại.

Khi người trông coi đã chuyển nhượng hoặc cho người khác sử dụng

Theo Điều 168 Bộ luật Dân sự 2015, chủ sở hữu được đòi lại bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật này. Điều 133 bảo vệ người thứ ba ngay tình khi tài sản đã đăng ký, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác và người này căn cứ vào việc đăng ký đó để giao dịch.

Đây là rủi ro lớn nhất khi người trông coi giữ giấy tờ hoặc đã đứng tên thửa đất. Nếu người trông coi cho người khác mượn lại mà chủ đất không đồng ý, khoản 2 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép chủ đất đòi lại tài sản trong quan hệ mượn.

Khuyến nghị: khi có dấu hiệu người trông coi rao bán, cho thuê lại hoặc thế chấp đất, Quý khách nên trao đổi ngay với luật sư về việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thay vì chờ hết thời hạn trong thông báo trả đất.

Chứng cứ cần chuẩn bị khi đòi lại đất nhờ trông coi

Chủ đất phải chứng minh hai điều: mình có quyền hợp pháp đối với thửa đất và đã giao đất chỉ để trông coi. Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đặt nghĩa vụ chứng minh lên người khởi kiện.

Chứng minh quyền của chủ đất

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng cứ quan trọng nhất, nhưng không phải duy nhất. Điều 137 Luật Đất đai 2024 liệt kê nhiều loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, trong đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời, tên trong sổ địa chính theo điểm c khoản 1, và sổ mục kê lập trước ngày 18/12/1980 có tên người sử dụng đất theo điểm đ khoản 1.

Hồ sơ chứng minh quyền của chủ đất thường gồm:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ nguồn gốc đất thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024.
  • Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, văn bản thừa kế hoặc quyết định giao đất đối với thửa đất.
  • Biên lai nộp thuế, bản đồ đo đạc và xác nhận về quá trình sử dụng đất.

Chứng minh việc nhờ trông coi

Đây là phần khó nhất vì việc giao đất thường không lập văn bản. Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chứng cứ có thể là tài liệu đọc, nghe, nhìn được, dữ liệu điện tử, lời khai người làm chứng, kết luận giám định, biên bản thẩm định tại chỗ và kết quả định giá.

Bảng dưới đây phân loại các nguồn chứng cứ thường gặp theo mức độ hỗ trợ, để Quý khách ưu tiên thu thập.

Nguồn chứng cứ

Cách sử dụng

Mức độ hỗ trợ

Văn bản nhờ trông coi, ủy quyền, biên bản bàn giao

Chứng minh trực tiếp mục đích và phạm vi giao đất

Cao

Tin nhắn, email, thư tay thừa nhận giữ hộ

Cần giữ nguyên bản gốc, ngày giờ, số điện thoại gửi nhận

Khá cao

Lời khai người làm chứng

Người biết việc giao đất, nên lời khai nhất quán

Trung bình

Ghi âm, ghi hình cuộc trao đổi

Cần làm rõ nguồn gốc, người nói; có thể phải giám định

Tùy trường hợp

Hóa đơn, chứng từ chi phí, ảnh hiện trạng

Hỗ trợ xác định phạm vi trông coi và thiệt hại

Hỗ trợ

Về ghi âm, Quý khách nên lưu ý một vụ án giữa hai chị em ruột đã bị hủy bản án sơ thẩm vì ghi âm chưa được giám định, khiến Tòa án chưa thể xác minh nguồn gốc và người nói. Ghi âm hữu ích khi được thu thập và bảo quản đúng cách, nhưng không nên là chứng cứ duy nhất.

Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự không đưa ra được hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết theo chứng cứ có trong hồ sơ. Khoảng trống chứng cứ vì vậy thường bất lợi cho bên khởi kiện.

Chứng cứ đòi đất nhờ trông coi: văn bản nhờ trông coi, tin nhắn, lời khai người làm chứng, ghi âm ghi hình, giấy chứng nhận
Chứng cứ đòi đất nhờ trông coi gồm văn bản nhờ trông coi, tin nhắn thừa nhận giữ hộ, lời khai người làm chứng, ghi âm, ghi hình và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người trông coi nói đã ở lâu năm: thời hiệu và chiếm hữu ngay tình

Người trông coi thường phản bác rằng đã dùng đất nhiều năm nên là chủ đất. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện, nhưng thời hiệu hưởng quyền do chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai là vấn đề khác.

Khoản 2 và khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp luật quy định khác, và đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Do đó, chủ đất không mất quyền kiện chỉ vì đã giao đất cho người khác từ rất lâu.

Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu, trừ trường hợp luật quy định khác. Đây là lập luận phản bác mạnh nhất của người trông coi.

Theo thực tiễn áp dụng, người biết mình chỉ được giao giữ hộ khó được coi là chiếm hữu ngay tình. Tuy vậy, Điều 184 Bộ luật Dân sự 2015 suy đoán người chiếm hữu là ngay tình, nên chủ đất phải chủ động chứng minh việc nhờ trông coi.

Theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi một bên yêu cầu và yêu cầu này được đưa ra trước khi Tòa án sơ thẩm ra bản án. Nếu yêu cầu bị xác định là tranh chấp hợp đồng, thời hiệu khởi kiện là 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.

Khuyến nghị: Quý khách nên đặt yêu cầu theo hướng bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và buộc hoàn trả tài sản, thay vì chỉ yêu cầu thực hiện hợp đồng, để tránh bị cho rằng đã hết thời hiệu. Việc chọn cách đặt yêu cầu cần luật sư đánh giá hồ sơ cụ thể.

Thông báo yêu cầu trả đất và hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã

Trước khi khởi kiện, chủ đất nên gửi thông báo yêu cầu trả đất để ghi nhận thời điểm chấm dứt quan hệ trông coi, rồi hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Thông báo là chứng cứ về việc đã yêu cầu trả; biên bản hòa giải đi kèm hồ sơ khởi kiện.

Thông báo yêu cầu trả đất thường được thực hiện theo các bước sau:

  1. Xác định chính xác người đang giữ đất, người sống cùng và người có thể đang sử dụng một phần thửa đất.
  2. Soạn thông báo trung lập, nêu rõ thửa đất, căn cứ quyền của chủ đất, việc nhờ trông coi và thời hạn bàn giao hợp lý.
  3. Gửi bằng hình thức chứng minh được nội dung và thời điểm nhận, như thư bảo đảm có biên nhận hoặc có người làm chứng.
  4. Lưu lại phản hồi, kể cả việc từ chối nhận, im lặng hoặc đưa ra yêu cầu bồi hoàn chi phí.
  5. Thương lượng thời hạn và phương án bàn giao; nếu thống nhất, lập biên bản bàn giao có chữ ký các bên.

Khi thương lượng không có kết quả, bước tiếp theo là nộp đơn yêu cầu hòa giải. Theo điểm a và điểm b khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập Hội đồng hòa giải, trong đó có công chức địa chính và người sinh sống lâu năm biết rõ nguồn gốc đất.

Đơn yêu cầu nên được lập theo mẫu đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, kèm giấy tờ về đất và chứng cứ nhờ trông coi. Buổi làm việc sẽ thuận lợi hơn khi nắm rõ quy trình hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã.

Theo điểm d khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, hòa giải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và xác nhận hòa giải thành hoặc không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Nếu hòa giải thành và thay đổi người sử dụng đất, khoản 4 Điều 235 yêu cầu gửi văn bản công nhận kết quả đến cơ quan có thẩm quyền trong 30 ngày làm việc.

Về việc hòa giải có bắt buộc với mọi yêu cầu đòi đất hay không, theo thực tiễn áp dụng, Tòa án thường căn cứ vào bản chất yêu cầu: tranh chấp ai có quyền sử dụng đất thường cần hòa giải, còn yêu cầu đòi tài sản theo quan hệ hợp đồng có thể được xem xét khác đi. Mỗi vụ việc cần đánh giá riêng.

Khuyến nghị: dù chưa chắc hòa giải có bắt buộc hay không, Quý khách nên cân nhắc thực hiện hòa giải có chủ đích, vì biên bản ghi nhận lập trường của người trông coi, có thể trở thành chứng cứ có giá trị về việc họ thừa nhận hay phủ nhận quan hệ nhờ trông coi.

Thủ tục khởi kiện đòi lại đất nhờ trông coi tại Tòa án

Khi hòa giải không thành, chủ đất nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nơi có đất. Hồ sơ cần nêu rõ yêu cầu trả đất, chứng cứ về quyền của chủ đất, chứng cứ nhờ trông coi và biên bản hòa giải. Phần dưới đây trình bày thẩm quyền, hồ sơ và biện pháp bảo toàn hiện trạng.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Khoản 2, khoản 3 và khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xếp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, hợp đồng dân sự và tranh chấp đất đai vào thẩm quyền của Tòa án. Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi từ ngày 01/7/2025, giao Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm.

Về lãnh thổ, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền khi đối tượng tranh chấp là bất động sản. Người trông coi cư trú ở nơi khác không làm thay đổi quy tắc này.

Điều 236 Luật Đất đai 2024 phân hóa cách giải quyết tùy giấy tờ của các bên, như bảng sau:

Tình huống

Cơ quan giải quyết

Căn cứ

Một bên có giấy chứng nhận hoặc giấy tờ tại Điều 137 Luật Đất đai 2024

Tòa án

Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024

Các bên đều không có giấy chứng nhận và giấy tờ tại Điều 137

Chọn nộp đơn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án

Khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024

Hồ sơ và yêu cầu khởi kiện

Khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu đơn khởi kiện ghi đủ ngày tháng năm làm đơn, tên Tòa án nhận đơn, tên và nơi cư trú của người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Với đất nhờ trông coi, người có quyền lợi liên quan có thể là người đang sống cùng hoặc người thuê lại.

Hồ sơ khởi kiện thường gồm:

  • Đơn khởi kiện, soạn theo mẫu đơn khởi kiện đòi lại đất.
  • Giấy tờ chứng minh quyền của chủ đất đối với thửa đất.
  • Chứng cứ về việc nhờ trông coi và việc đã yêu cầu trả đất.
  • Biên bản hòa giải không thành do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận.

Yêu cầu khởi kiện thường gồm buộc trả lại đất, chấm dứt hành vi cản trở theo khoản 2 Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015, bồi thường thiệt hại nếu có và khi cần là xác định quyền sử dụng đất. Cần đặt yêu cầu đúng bản chất để tránh bị bác một phần.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời và án phí

Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tình trạng hiện có. Điều 114 liệt kê các biện pháp, gồm cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp tại khoản 7 và cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp tại khoản 8.

Hai biện pháp này cần thiết khi người trông coi có dấu hiệu bán đất hoặc xây dựng để hợp thức hóa việc chiếm giữ. Về chi phí, cách tính án phí trong vụ án tranh chấp đất đai phụ thuộc giá trị phần tranh chấp mà Tòa án xác định.

Thủ tục kiện đòi đất nhờ trông coi: hòa giải tại UBND xã, nộp đơn khởi kiện, Tòa án thụ lý xét xử, thi hành bản án
Thủ tục kiện đòi đất nhờ trông coi gồm hòa giải tại UBND xã, nộp đơn khởi kiện, Tòa án thụ lý, xét xử và thi hành bản án.

Kinh nghiệm thực tế khi xử lý hồ sơ đòi lại đất nhờ trông coi

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, hồ sơ khó nhất là hồ sơ có sổ đỏ nhưng không có giấy tờ nào về việc nhờ trông coi. Người nhờ tin tưởng người thân nên không lập biên bản, nhiều năm sau mới thấy người trông coi coi đất là của mình.

Một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là lỡ nhắn tin “cho ở luôn” hoặc “coi như là của anh” khi đang nóng giận. Bên kia sau đó dùng những lời này làm chứng cứ về việc tặng cho, khiến việc chứng minh quan hệ trông coi khó hơn.

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, người giữ đất thường phản ứng theo ba hướng: nhận giữ hộ nhưng xin thêm thời gian, cho rằng đã được cho hoặc đã mua, hoặc im lặng. Với hướng đầu, thương lượng thời hạn bàn giao bằng văn bản thường hiệu quả hơn khởi kiện ngay.

Một tình huống khác là người trông coi tự trồng cây, xây nhà tạm hoặc cho người khác ở nhờ, khiến tranh chấp gồm cả tài sản gắn liền với đất. Cách đặt yêu cầu khi đó gần với thủ tục khởi kiện đòi lại nhà đất cho mượn, ở nhờ.

Câu hỏi thường gặp về đòi lại đất nhờ trông coi

Các câu hỏi dưới đây phản ánh thắc mắc khách hàng thường nêu khi bắt đầu xử lý hồ sơ. Mỗi câu trả lời chỉ mang tính định hướng và cần đối chiếu với giấy tờ, chứng cứ cụ thể của từng vụ việc.

1. Nhờ trông coi đất bằng miệng có đòi lại được không?

Có thể, nếu chủ đất chứng minh được quyền đối với thửa đất và việc giao đất chỉ để trông coi. Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đặt nghĩa vụ chứng minh lên người khởi kiện. Khi không có văn bản, tin nhắn, ghi âm và lời khai người làm chứng là nguồn chứng cứ theo Điều 94 Bộ luật này.

2. Người trông coi đòi chi phí hoặc tiền công trước khi trả đất có đúng không?

Tùy thỏa thuận ban đầu. Điều 554 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên gửi trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công. Nếu không có thỏa thuận về tiền công, người trông coi khó dùng việc đòi tiền để từ chối bàn giao. Hai vấn đề này thường được xem xét riêng.

3. Có bắt buộc hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã trước khi khởi kiện không?

Với tranh chấp đất đai, khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 yêu cầu các bên hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Theo thực tiễn áp dụng, việc có bắt buộc hay không còn phụ thuộc bản chất yêu cầu. Quý khách nên xác định điều này cùng luật sư trước khi nộp đơn.

4. Đất nhờ trông coi đã nhiều chục năm có còn đòi được không?

Có thể. Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp luật có quy định khác. Tuy nhiên, Điều 236 Bộ luật này cho phép người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai 30 năm đối với bất động sản trở thành chủ sở hữu. Cần chứng minh người trông coi không ngay tình.

5. Nộp đơn khởi kiện đòi đất nhờ trông coi ở Tòa án nào?

Điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền. Từ ngày 01/7/2025, sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân khu vực theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Quý khách cần xác định Tòa án khu vực nơi có thửa đất.

6. Người trông coi bán đất cho người khác thì chủ đất làm gì?

Chủ đất vẫn có thể yêu cầu đòi lại, nhưng sẽ gặp khó khăn nếu người mua là người thứ ba ngay tình đã đăng ký giao dịch. Căn cứ là Điều 168 và khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, khi có dấu hiệu chuyển nhượng, chủ đất nên sớm yêu cầu Tòa án cấm chuyển dịch quyền về tài sản theo khoản 7 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Kết luận

Đòi lại đất nhờ trông coi cần chứng minh được quyền hợp pháp đối với thửa đất và mục đích trông coi của người nhận giữ. Quy trình thường đi từ xác định đúng quan hệ, thu thập chứng cứ, gửi thông báo, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã rồi khởi kiện tại Tòa án nơi có đất. Nếu Quý khách cần đối chiếu giấy tờ đất, đánh giá chứng cứ nhờ trông coi hoặc chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ qua hotline 1900636387. Quý khách cũng có thể tham khảo Dịch vụ Luật sư hỗ trợ tranh chấp đất đai để luật sư đánh giá sơ bộ hướng đòi lại đất.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Luật Đất đai 2024
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87