Ghi âm làm chứng cứ đòi lại đất cho mượn có được tòa án chấp nhận?

Ghi âm làm chứng cứ đòi lại đất cho mượn chỉ có giá trị khi bản ghi rõ nguồn gốc, nội dung gắn với việc cho mượn và được nộp đúng thủ tục. Luật Long Phan PMT thường gặp hồ sơ tranh chấp đất đai có file ghi âm nhưng bị Tòa án không chấp nhận vì thiếu văn bản xuất xứ. Bài viết hướng dẫn điều kiện, cách nộp và giới hạn pháp lý của loại chứng cứ này.

Bàn luật sư có điện thoại ghi âm, USB, bản gỡ băng và sổ đất khi dùng ghi âm làm chứng cứ đòi đất
Ghi âm làm chứng cứ đòi lại đất cho mượn: cần văn bản xuất xứ, file gốc, nộp đúng hạn và ghi âm hợp pháp.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Bản ghi âm là tài liệu nghe được thuộc nguồn chứng cứ theo khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025). Theo khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bản ghi chỉ là chứng cứ khi kèm văn bản trình bày về xuất xứ.
  • Người cho mượn đất là đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền của mình nên phải tự thu thập và giao nộp chứng cứ theo khoản 1 Điều 91 và khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bản ghi âm không thay thế giấy tờ đất và lời khai.
  • Việc ghi âm không được xâm phạm đời sống riêng tư của người khác theo khoản 2 và khoản 3 Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015. Tòa án đánh giá từng chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • Khi bên kia nghi ngờ tính xác thực, đương sự có quyền yêu cầu giám định theo khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Chứng cứ phải nộp trong thời hạn Thẩm phán ấn định theo khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Điều kiện để bản ghi âm được coi là chứng cứ trong vụ đòi đất cho mượn

Bản ghi âm được Tòa án coi là chứng cứ khi đáp ứng ba điều kiện: thuộc một nguồn chứng cứ pháp luật thừa nhận, kèm văn bản trình bày xuất xứ, và liên quan trực tiếp đến việc cho mượn đất. Thiếu một trong ba điều kiện này, Tòa án có thể không đưa bản ghi vào đánh giá.

Bản ghi âm thuộc nguồn chứng cứ nào

Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xếp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được và dữ liệu điện tử vào nhóm nguồn chứng cứ đầu tiên. File ghi âm cuộc gọi, đoạn ghi hình hiện trạng thửa đất hay đoạn video trao đổi giữa hai bên đều thuộc nhóm này.

Ngoài ra, lời khai của đương sự và của người làm chứng cũng là nguồn chứng cứ theo khoản 3 và khoản 4 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo khoản 5 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, lời khai được ghi âm, ghi hình vẫn phải đáp ứng điều kiện của khoản 2 cùng điều này mới được coi là chứng cứ.

Cần phân biệt nguồn chứng cứ với chứng cứ. Điều 94 chỉ liệt kê nơi chứng cứ có thể được lấy ra, còn Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định khi nào một nguồn được coi là chứng cứ. File ghi âm thiếu điều kiện theo Điều 95 có thể chỉ được xem như tài liệu tham khảo.

Văn bản trình bày xuất xứ là điều kiện không thể thiếu

Theo khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tài liệu nghe được, nhìn được là chứng cứ nếu xuất trình kèm văn bản trình bày của người có tài liệu về xuất xứ khi họ tự thu âm, thu hình. Nếu do người khác cung cấp, cần văn bản xác nhận của người đã cung cấp hoặc văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình.

Văn bản trình bày xuất xứ nên nêu rõ các thông tin sau:

  • Người ghi âm là ai, ghi âm bằng thiết bị nào và lưu trữ ở đâu.
  • Thời điểm, địa điểm và hoàn cảnh cuộc trao đổi diễn ra.
  • Những người tham gia cuộc trao đổi và mối quan hệ với thửa đất.
  • Cam kết file nộp cho Tòa là bản gốc, không cắt ghép, chỉnh sửa.

Cách Tòa án tiếp cận chung về điều kiện để file ghi âm trở thành chứng cứ trước tòa án dân sự và việc ghi âm lời nói có được xem là chứng cứ trong vụ án tranh chấp dân sự cũng áp dụng cho tranh chấp đòi đất.

Vị trí của bản ghi âm so với các chứng cứ khác

Trong vụ đòi đất cho mượn, bản ghi âm hiếm khi đứng một mình. Bảng dưới đây giúp phân loại vai trò của từng loại chứng cứ để bạn biết cần bổ sung gì cho bản ghi âm.

Loại chứng cứ Vai trò trong vụ đòi đất Điểm yếu thường gặp Cách bổ trợ
Bản ghi âm, ghi hình Chứng minh việc cho mượn, lời thừa nhận, việc từ chối trả Bị nghi cắt ghép, thiếu văn bản xuất xứ Văn bản trình bày xuất xứ, bản gỡ băng, đề nghị giám định khi cần
Tin nhắn, Zalo, thư điện tử Ghi dấu yêu cầu trả đất và phản hồi bằng chữ Khó xác định chủ tài khoản Lập vi bằng hoặc xác nhận của nhà mạng, xem thêm cách xử lý tin nhắn điện thoại là chứng cứ trong vụ án dân sự
Lời khai người làm chứng Xác nhận hoàn cảnh cho mượn Dễ thay đổi lời khai, quan hệ thân thích Lấy xác nhận bằng văn bản, đề nghị Tòa lấy lời khai
Giấy tờ về đất, giấy tờ giao đất Chứng minh quyền của người đòi đất Giấy tờ đứng tên người đã mất hoặc người khác Hồ sơ thừa kế, văn bản xác nhận của chính quyền địa phương

Nội dung bản ghi âm cần có để chứng minh việc cho mượn đất

Bản ghi âm có sức nặng khi nội dung trả lời được những câu hỏi Tòa án quan tâm: ai cho mượn, mượn thửa đất nào, mượn để làm gì, đến bao giờ phải trả và bên mượn thừa nhận hay từ chối trả. Ghi âm chung chung về mâu thuẫn gia đình thường ít giá trị chứng minh.

Để đòi lại đất, người đòi phải chứng minh hai điều: mình có quyền đối với thửa đất và bên kia đang chiếm giữ trên cơ sở được cho mượn. Khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép chủ thể có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Bản ghi âm giúp chứng minh vế thứ hai, tức bên kia thừa nhận chỉ là người mượn.

Quan hệ cho mượn thường được xem xét theo tinh thần hợp đồng mượn tài sản tại Điều 494 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó bên mượn phải trả lại tài sản khi hết thời hạn hoặc khi đạt mục đích mượn. Vì vậy, nội dung thừa nhận mục đích và thời hạn mượn rất có ý nghĩa.

Nội dung trong bản ghi Chứng minh điều gì Ví dụ minh họa
Thừa nhận được cho mượn Bên kia không phải chủ đất “Đất này anh cho em ở nhờ, em nhớ chứ” và bên kia đồng ý
Thỏa thuận về thời hạn hoặc mục đích Thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả “Cho mượn đến khi con học xong thì trả”
Yêu cầu trả đất rõ ràng Bên cho mượn đã đòi, bên mượn từ chối “Tôi cần lấy lại đất trong tháng này”
Lời từ chối hoặc đưa lý do Căn cứ xác định có hành vi chiếm giữ “Tôi không trả vì đã làm nhà trên đất”

Trường hợp cho mượn bằng miệng nhiều năm, bản ghi âm càng quan trọng vì không có giấy tờ nào khác. Cách chứng minh trong tình huống này đã được phân tích tại hướng dẫn đòi lại đất cho mượn bằng lời nói nhiều năm.

Một ngoại lệ cần cân nhắc là bên mượn không phủ nhận việc ở trên đất nhưng khẳng định đất đã được tặng cho hoặc đã mua. Lúc này bản ghi âm về việc cho mượn chưa đủ, và bạn nên chuẩn bị thêm chứng cứ về nguồn gốc đất, người đứng tên và lịch sử sử dụng để bác bỏ lời giải thích đó.

Ghi âm lén có hợp pháp không và giới hạn pháp lý khi dùng làm chứng cứ

Pháp luật tố tụng dân sự không cấm dùng bản ghi âm làm chứng cứ, nhưng việc ghi âm không được xâm phạm bí mật đời tư của người khác. Ghi âm cuộc trao đổi mà chính bạn tham gia thường an toàn hơn nhiều so với ghi âm lén cuộc nói chuyện của người khác.

Khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 quy định việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác. Khoản 3 cùng điều bảo đảm an toàn và bí mật của thư tín, điện thoại và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Theo thực tiễn áp dụng, cuộc trao đổi mà người ghi âm là một bên tham gia, về một việc có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ như việc cho mượn đất, thường dễ được chấp nhận hơn. Ngược lại, gài thiết bị nghe lén cuộc nói chuyện của người khác có thể khiến bản ghi bị loại và còn làm phát sinh trách nhiệm pháp lý.

Hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hay hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác có thể bị xử lý hình sự theo Điều 159 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Mức độ trách nhiệm tùy từng trường hợp cụ thể.

Tình huống ghi âm Mức rủi ro Khả năng được Tòa chấp nhận Khuyến nghị
Ghi âm cuộc gọi hoặc buổi nói chuyện mà bạn là một bên Thấp Thường được xem xét nếu đủ điều kiện xuất xứ Giữ file gốc, lập văn bản trình bày
Báo trước cho bên kia rằng cuộc trao đổi được ghi âm Rất thấp Cao, dễ chứng minh bên kia biết Ghi cả lời báo trước vào đầu file
Gài thiết bị ghi âm cuộc nói chuyện của người khác Cao Thấp, có thể bị loại và phát sinh trách nhiệm Không nên thực hiện
Ghi âm tại nơi riêng tư của người khác khi không được phép Cao Thấp Nhờ người làm chứng trực tiếp thay thế

Một ngoại lệ thường gặp là cuộc họp gia đình có nhiều người, trong đó chỉ một số người biết có ghi âm. Trong tình huống này, bạn nên báo cho những người tham dự ngay đầu buổi hoặc đề nghị cùng lập biên bản, vì sự thừa nhận công khai trước mọi người thường khó bị phủ nhận hơn bản ghi bí mật.

Cách ghi âm, ghi hình và lưu giữ chứng cứ trước khi khởi kiện đòi đất

Cách làm đúng là ghi âm trực tiếp trên thiết bị của bạn, giữ nguyên file gốc, lập ngay văn bản mô tả hoàn cảnh ghi âm và sao lưu ở nhiều nơi. Chuẩn bị sớm giúp bạn tránh bị nghi ngờ cắt ghép khi bên kia phản đối tại Tòa.

Quy trình chuẩn bị bản ghi âm trước khi khởi kiện thường gồm các bước sau:

  1. Xác định mục tiêu cuộc trao đổi: hỏi lại việc cho mượn, thời hạn, mục đích và yêu cầu trả đất bằng câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu.
  2. Ghi âm từ đầu đến cuối cuộc trao đổi, nêu ngày giờ và tên người tham gia ngay đầu file để tăng tính xác thực.
  3. Không cắt, lọc tiếng hay chỉnh sửa. Lưu nguyên file gốc kèm thông tin thiết bị, thời gian tạo file.
  4. Sao lưu file sang ít nhất hai nơi, ví dụ máy tính và ổ lưu trữ, ghi chú ngày sao lưu.
  5. Lập bản gỡ băng nguyên văn và ký xác nhận, ghi rõ người thực hiện.
  6. Viết văn bản trình bày xuất xứ theo khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và ký tên.

Sau khi có bản ghi âm về việc từ chối trả đất, bạn nên gửi văn bản yêu cầu trả đất để ghi nhận mốc thời gian chính thức. Cách soạn và gửi được hướng dẫn tại mẫu thông báo yêu cầu trả nhà đất cho mượn, ở nhờ trên website của Luật Long Phan PMT.

Với đoạn ghi hình hiện trạng đất, hãy quay liên tục, thể hiện rõ ranh giới, công trình và người đang sử dụng đất, tránh quay vào khu vực riêng tư của người khác.

Thủ tục nộp bản ghi âm cho tòa án trong vụ án đòi lại đất

Bản ghi âm được nộp cùng đơn khởi kiện hoặc trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, trong thời hạn Thẩm phán ấn định. Mỗi lần nộp đều phải được lập biên bản giao nhận để làm căn cứ chứng minh bạn đã giao nộp chứng cứ.

Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án theo khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Thủ tục giao nộp cụ thể được quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Các bước nộp bản ghi âm thường được thực hiện như sau:

  1. Chuẩn bị bản ghi âm trong USB hoặc đĩa lưu trữ, kèm bản gỡ băng và văn bản trình bày xuất xứ.
  2. Lập danh mục chứng cứ, ghi rõ tên tài liệu, số bản, số trang và nội dung chứng minh.
  3. Nộp trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền hoặc nộp theo hình thức trực tuyến nếu Tòa án có áp dụng.
  4. Yêu cầu Tòa án lập biên bản giao nhận. Theo khoản 2 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, biên bản ghi rõ tên tài liệu, số bản, số trang, ngày nhận, có chữ ký và đóng dấu của Tòa án.
  5. Giữ một bản biên bản và một bộ sao lưu để đối chiếu khi cần.

Thời hạn giao nộp do Thẩm phán ấn định, không vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nếu giao nộp muộn sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, đương sự phải chứng minh lý do chính đáng.

Nếu cuộc trao đổi được ghi âm bằng tiếng dân tộc thiểu số hoặc tiếng nước ngoài, khoản 3 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu kèm bản dịch được công chứng, chứng thực.

Một ngoại lệ là trường hợp bạn không thể tự thu thập chứng cứ vì tài liệu đang do người khác giữ. Khi đó, bạn có thể đề nghị Tòa án thu thập theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhưng phải nêu rõ đã tự mình thu thập và không có kết quả. Hãy chuẩn bị văn bản đề nghị ghi rõ chứng cứ cần thu thập và nơi đang lưu giữ.

Luật sư hướng dẫn khách cách nộp bản ghi âm: gỡ băng, văn bản xuất xứ, danh mục chứng cứ, biên bản giao nhận
Bốn bước nộp bản ghi âm: gỡ băng, văn bản xuất xứ, danh mục chứng cứ, biên bản giao nhận.

Cách tòa án thẩm định bản ghi âm và khi nào cần giám định

Tòa án đánh giá bản ghi âm theo tính xác thực, tính liên quan và giá trị chứng minh, rồi đối chiếu với các chứng cứ khác trong hồ sơ. Khi bên kia phủ nhận, bản ghi âm thường cần được kiểm chứng thêm bằng giám định hoặc lời khai người làm chứng.

Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ và sự liên quan giữa các chứng cứ. Do đó, một bản ghi âm không thể đứng riêng mà cần được đặt trong tổng thể hồ sơ.

Khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép đương sự yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định. Với bản ghi âm, giám định thường nhằm xác định giọng nói có đúng của người đó không và file có bị cắt ghép hay không. Quy trình chi tiết có thể xem tại yêu cầu giám định và quyền yêu cầu giám định lại trong vụ án dân sự.

Phản ứng của bên kia Cách Tòa án thường xử lý Việc bạn nên làm
Thừa nhận giọng nói và nội dung Ghi nhận sự thừa nhận vào hồ sơ Yêu cầu ghi rõ vào biên bản lấy lời khai
Phủ nhận giọng nói Có thể trưng cầu giám định theo yêu cầu Chuẩn bị file gốc, thiết bị ghi âm, chi phí giám định
Cho rằng bị cắt ghép Yêu cầu xuất trình file gốc và thiết bị Nộp file gốc, bản sao lưu và hồ sơ thiết bị
Cho rằng ghi âm trái phép Xem xét tính hợp pháp của cách thu thập Chứng minh bạn là bên tham gia và mục đích chính đáng

Một ngoại lệ đáng chú ý là khi bản ghi âm quá ngắn, nhiễu nặng hoặc chỉ có tiếng của một bên. Trong tình huống này, kết quả giám định có thể không kết luận được, và bạn nên dựa nhiều hơn vào người làm chứng nghe trực tiếp hoặc các chứng cứ bằng văn bản.

Phòng xử án có búa gỗ, hồ sơ và điện thoại ghi âm: khi nào cần giám định bản ghi âm
Cần giám định khi bên kia phủ nhận giọng nói hoặc nghi cắt ghép; nộp file gốc và nhờ người làm chứng.

Ghi âm, ghi hình tại hiện trường đất và tại phiên tòa: giới hạn của đương sự

Đương sự có thể ghi hình hiện trạng thửa đất để làm chứng cứ, nhưng nên đề nghị Tòa án thẩm định tại chỗ để tăng giá trị chứng minh. Tại phiên tòa, việc ghi âm, ghi hình chịu sự kiểm soát của Chủ tọa phiên tòa theo quy định của Tòa án nhân dân tối cao.

Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ là một nguồn chứng cứ độc lập theo khoản 6 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. So với đoạn video tự quay, biên bản này có độ tin cậy cao hơn vì do cơ quan tiến hành tố tụng lập với sự có mặt của các bên. Thủ tục đề nghị được hướng dẫn tại mẫu đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ.

Về ghi âm tại phiên tòa, Thông tư 12/2026/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm, ghi hình diễn biến phiên tòa có hiệu lực từ 01/8/2026 và thay thế Thông tư 02/2017/TT-TANDTC. Theo nội dung hướng dẫn đã được công bố, người tham dự muốn mang thiết bị ghi âm, ghi hình vào phiên tòa cần được Chủ tọa cho phép.

Vì vậy, đừng tự ý ghi âm hoặc phát trực tiếp phiên tòa vì có thể bị yêu cầu dừng, đưa ra khỏi phòng xử án hoặc bị xử lý theo quy định. Nếu cần lưu lại diễn biến, hãy làm đơn đề nghị Chủ tọa chấp thuận trước. Thủ tục này được phân tích tại hướng dẫn về ghi âm tại phiên tòa.

Những sai lầm thường gặp khi dùng ghi âm trong hồ sơ đòi đất cho mượn

Qua các hồ sơ đòi đất cho mượn đã tiếp nhận, phần lớn bản ghi âm bị giảm giá trị không phải vì nội dung sai mà vì cách thu thập và cách trình bày. Dưới đây là những tình huống chúng tôi gặp lặp đi lặp lại trong thực tế.

Một sai lầm phổ biến là khách hàng chỉ giữ đoạn ghi âm đã cắt ra từ cuộc nói chuyện dài vì cho rằng đoạn đó là quan trọng nhất. Khi bên kia phản đối, đoạn cắt thường bị nghi ngờ là chỉnh sửa. Luôn giữ nguyên file gốc, đoạn quan trọng có thể đánh dấu thời điểm trong bản gỡ băng.

Một tình huống khác là người cho mượn ghi âm khi đang nóng giận, trong đó có lời lẽ xúc phạm hoặc đe dọa bên mượn. Bản ghi dạng này dễ bị bên kia dùng để phản công và làm Tòa án giảm thiện cảm. Tốt nhất hãy bình tĩnh, đặt câu hỏi ngắn gọn để bên mượn tự xác nhận việc mượn đất.

Nhiều khách hàng cũng nộp bản ghi âm nhưng không lập văn bản trình bày xuất xứ, không ghi ngày giờ, không nêu người tham gia. Tòa án khi đó phải yêu cầu bổ sung, kéo dài thời gian giải quyết và đôi khi bỏ lỡ thời hạn giao nộp. Đây là lỗi đơn giản có thể tránh nếu chuẩn bị ngay từ đầu.

Câu hỏi thường gặp về ghi âm làm chứng cứ đòi lại đất cho mượn

Những câu hỏi dưới đây phản ánh thắc mắc thực tế của người cho mượn đất khi chuẩn bị chứng cứ ghi âm. Mỗi câu trả lời dựa trên quy định hiện hành, nhưng cách áp dụng còn phụ thuộc hồ sơ cụ thể của từng vụ việc.

1. Ghi âm không báo trước cho người mượn đất có được Tòa án chấp nhận không?

Pháp luật tố tụng dân sự không bắt buộc báo trước khi ghi âm. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu sự đồng ý khi thu thập thông tin về đời sống riêng tư. Cuộc trao đổi mà bạn là một bên tham gia thường dễ được xem xét hơn, và Tòa án đánh giá từng trường hợp theo khoản 2 Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2. Bản ghi âm cuộc gọi đòi đất cần giấy tờ gì kèm theo khi nộp?

Theo khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bản ghi âm phải kèm văn bản trình bày xuất xứ của người có tài liệu. Bạn nên bổ sung bản gỡ băng, thông tin thiết bị ghi âm và danh mục chứng cứ. Khi nộp, hãy yêu cầu Tòa án lập biên bản giao nhận theo khoản 2 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để làm căn cứ chứng minh việc giao nộp.

3. Người mượn đất phủ nhận giọng nói trong bản ghi âm thì xử lý thế nào?

Khi bên kia phủ nhận, bạn có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định theo khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Hãy chuẩn bị file gốc và thiết bị đã dùng để ghi âm. Bên cạnh đó, lời khai của người làm chứng nghe trực tiếp cuộc trao đổi cũng là nguồn chứng cứ theo khoản 4 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

4. Chỉ có bản ghi âm mà không có giấy tờ đất thì có đòi lại đất cho mượn được không?

Bản ghi âm chứng minh việc cho mượn nhưng chưa chứng minh quyền của bạn đối với thửa đất. Theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bạn phải chứng minh yêu cầu có căn cứ và hợp pháp. Khi thiếu giấy tờ, cần bổ sung chứng cứ theo hướng dẫn về đòi lại đất cho mượn nhưng không có sổ đỏ.

5. Đương sự có được tự ghi âm, ghi hình tại phiên tòa xét xử vụ đòi đất không?

Không nên tự ý ghi âm, ghi hình tại phiên tòa. Thông tư 12/2026/TT-TANDTC có hiệu lực từ 01/8/2026 đặt ra quy tắc về việc mang thiết bị và ghi âm, ghi hình tại phiên tòa. Theo nội dung hướng dẫn đã được công bố, hoạt động này cần được Chủ tọa phiên tòa cho phép. Hãy làm đơn đề nghị trước và tuân theo yêu cầu của Hội đồng xét xử.

6. Nộp bản ghi âm muộn sau khi Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử có còn được xem xét không?

Thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán ấn định và không vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nếu giao nộp muộn, bạn phải chứng minh lý do chính đáng. Chứng cứ mà Tòa án không yêu cầu hoặc đương sự không thể biết trong giai đoạn trước đó vẫn có thể được giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

Kết luận

Ghi âm làm chứng cứ đòi lại đất cho mượn chỉ hiệu quả khi được thu thập hợp pháp, kèm văn bản xuất xứ, nộp đúng hạn và đi cùng các chứng cứ khác. Nếu đang chuẩn bị hồ sơ, hãy gọi Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được rà soát bản ghi âm trước khi khởi kiện. Trong trường hợp cần hỗ trợ trọn gói về hồ sơ giao nộp, bạn có thể tham khảo dịch vụ tư vấn các thủ tục cung cấp chứng cứ cho Tòa, nơi luật sư rà soát từng tài liệu và đề xuất chiến lược chứng minh phù hợp với từng vụ việc đòi đất.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025)
  • Thông tư 12/2026/TT-TANDTC
  • Luật Giao dịch điện tử 2023
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Nguyễn Thị Huyền Trang

Luật sư Nguyễn Thị Huyền Trang là Luật sư Cộng sự tại Luật Long Phan PMT, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Với kinh nghiệm hơn 10 năm trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp đầu tư cho các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI, Luật sư Trang luôn cam kết mang đến những giá trị pháp lý tốt nhất cho khách hàng. Làm việc với phương châm đặt lợi ích của khách hàng và doanh nghiệp lên trên, Luật sư Trang đã và đang nhận được nhiều phản hồi tích cực từ những khách hàng, đối tác của mình.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87