Hướng Dẫn Chi Tiết Xác Định Các Căn Cứ Định Giá Tài Sản Trong Tố Tụng Hình Sự

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự là yếu tố quyết định tính chính xác của một kết luận định giá — từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định khung hình phạt và quyền lợi bồi thường của các bên liên quan. Trong quá trình tư vấn thủ tục tố tụng hình sự cho khách hàng là doanh nghiệp, bị hại hoặc người bị buộc tội, Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều trường hợp các bên không nắm rõ Hội đồng định giá tài sản dựa vào những căn cứ nào để đưa ra mức giá, dẫn đến bỏ lỡ quyền yêu cầu định giá lại khi kết luận có dấu hiệu chưa chính xác. Bài viết dưới đây phân tích chi tiết các nhóm căn cứ định giá tài sản theo quy định mới nhất.

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự và quyền định giá lại
Việc xác định đúng căn cứ, thời điểm và địa điểm định giá ảnh hưởng trực tiếp đến kết luận giá trị tài sản trong vụ án hình sự.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Việc định giá tài sản không phải là hàng cấm và tài sản là hàng cấm phải áp dụng hai nhóm căn cứ khác nhau theo Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.
  • Nghị định 250/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/9/2025 đã thay thế toàn bộ Nghị định 30/2018/NĐ-CP và Nghị định 97/2019/NĐ-CP về định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
  • Mức giá dùng làm căn cứ định giá chỉ được lấy tại thời điểm quá khứ tối đa 24 tháng nếu không thu thập được giá tại đúng thời điểm yêu cầu định giá.
  • Khi không đồng ý với căn cứ định giá đã áp dụng, người bị buộc tội, bị hại và người tham gia tố tụng khác có quyền đề nghị định giá lại tài sản theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Nội Dung Bài Viết

Định giá tài sản trong tố tụng hình sự là gì?

Một doanh nghiệp bị nhân viên chiếm đoạt lô hàng nguyên vật liệu để bán ra ngoài. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cần xác định giá trị lô hàng bị chiếm đoạt để làm căn cứ xác định khung hình phạt đối với hành vi trộm cắp tài sản. Đây chính là tình huống điển hình phát sinh yêu cầu định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Để hiểu đúng bản chất của hoạt động này, trước tiên cần phân biệt giữa “yêu cầu định giá” và “căn cứ định giá” — hai khái niệm thường bị nhầm lẫn.

Định giá và các trường hợp bắt buộc yêu cầu định giá tài sản

Theo khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản. Văn bản yêu cầu định giá tài sản phải nêu rõ tên cơ quan yêu cầu định giá, họ tên người có thẩm quyền yêu cầu định giá, tên Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu, thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá, nội dung yêu cầu định giá, cùng ngày tháng năm yêu cầu và thời hạn trả kết luận định giá tài sản.

Có thể thấy, “Yêu cầu định giá” là bước khởi động thủ tục, còn “căn cứ định giá” là những dữ liệu, thông tin cụ thể mà Hội đồng định giá tài sản dựa vào để đưa ra mức giá — nội dung này được quy định riêng tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP và sẽ được phân tích ở phần tiếp theo của bài viết.

Chủ thể có thẩm quyền yêu cầu định giá và thành lập Hội đồng định giá

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là chủ thể có quyền ra văn bản yêu cầu định giá tài sản theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Về thẩm quyền, Hội đồng định giá tài sản có thể được thành lập ở cấp xã, cấp tỉnh, cấp bộ hoặc theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ tùy theo tính chất vụ việc theo Điều 7 đến Điều 11 Nghị định 250/2025/NĐ-CP. Doanh nghiệp, cá nhân liên quan cần lưu ý sử dụng đúng văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành này khi tra cứu thẩm quyền, thay vì tiếp tục dẫn chiếu Nghị định 30/2018/NĐ-CP đã hết hiệu lực.

Căn cứ định giá tài sản theo quy định hiện hành

Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP phân định rõ hai nhóm căn cứ định giá khác nhau tùy theo loại tài sản: tài sản không phải là hàng cấm và tài sản là hàng cấm. Sự phân biệt này xuất phát từ đặc điểm lưu thông khác nhau của hai loại tài sản — tài sản thông thường có thể tham chiếu giá thị trường công khai, trong khi hàng cấm không có kênh giao dịch hợp pháp trong nước để đối chiếu. Ngoài ra, Điều 20 còn quy định nguyên tắc chung về thời điểm và địa điểm áp dụng các căn cứ này, áp dụng cho cả hai nhóm tài sản.

Căn cứ định giá đối với tài sản không phải là hàng cấm

Theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá tài sản không phải là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ sau:

  • Giá của tài sản có hoạt động chuyển nhượng hoặc chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường;
  • Giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định đang có hiệu lực áp dụng tại thời điểm được yêu cầu định giá; trường hợp chỉ có giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá thì áp dụng mức giá cụ thể do cơ quan hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh quy định tại thời điểm được yêu cầu định giá;
  • Báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá hoặc báo cáo tư vấn giá của các đơn vị tư vấn giá theo quy định của pháp luật;
  • Giá trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp về loại tài sản đó do cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan yêu cầu định giá cung cấp;
  • Trường hợp không thu thập được một trong các căn cứ trên, Hội đồng định giá tài sản thu thập các căn cứ khác như ý kiến đánh giá của cơ quan, tổ chức, cá nhân am hiểu về tài sản; lời khai và hồ sơ tài liệu của các bên liên quan; giá của tài sản tương tự đã được định giá trong vụ án khác; hoặc giá thu thập từ các trang thông tin điện tử chính thức trong và ngoài nước.

Việc quy định thứ tự các nhóm căn cứ này cho thấy pháp luật ưu tiên các nguồn thông tin có tính khách quan, công khai cao trước khi cho phép sử dụng các căn cứ mang tính chủ quan hơn.

Căn cứ định giá đối với tài sản là hàng cấm

Theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá tài sản là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ sau:

  • Giá của tài sản trên thị trường tại thời điểm và tại địa điểm nơi tài sản là hàng cấm được yêu cầu định giá, hoặc tại địa phương khác;
  • Giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu hàng cấm (nếu có);
  • Báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá hoặc báo cáo tư vấn giá của các đơn vị tư vấn giá;
  • Giá thị trường trong khu vực hoặc thế giới của tài sản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước sở tại thông báo hoặc cung cấp thông tin;
  • Giá niêm yết, giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành tại Việt Nam;
  • Giá thị trường khu vực và thế giới của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành tại các thị trường này;
  • Các căn cứ khác giúp xác định giá của tài sản cần định giá do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tin cậy.

Sở dĩ nhóm tài sản là hàng cấm cần nhiều nguồn tham chiếu hơn là do loại tài sản này không có giá niêm yết hợp pháp trong nước, buộc Hội đồng định giá phải mở rộng phạm vi thu thập thông tin ra khu vực, quốc tế hoặc dựa vào tài sản tương tự được phép lưu hành hợp pháp.

Bảng dưới đây tóm tắt điểm khác biệt chính giữa hai nhóm căn cứ để tiện đối chiếu:

Tiêu chí Tài sản không phải hàng cấm (khoản 1 Điều 20) Tài sản là hàng cấm (khoản 2 Điều 20)
Giá thị trường Giá chuyển nhượng, chào mua, chào bán công khai Giá thị trường tại thời điểm, địa điểm yêu cầu định giá
Giá cơ quan nhà nước quy định Có quy định riêng Không quy định riêng
Báo cáo/chứng thư thẩm định giá
Giá hợp đồng, hóa đơn, tờ khai nhập khẩu Không quy định riêng
Giá tài sản tương tự Thuộc nhóm căn cứ khác (điểm đ) Tài sản tương tự được phép lưu hành tại Việt Nam, khu vực, thế giới
Căn cứ khác Ý kiến chuyên gia, lời khai, giá tài sản tương tự trong vụ án khác Do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp, chịu trách nhiệm về tính chính xác

Nguyên tắc xác định thời điểm, địa điểm áp dụng căn cứ định giá

Theo khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, các mức giá dùng làm căn cứ định giá được xác định tại thời điểm và tại nơi tài sản được yêu cầu định giá:

  • Trường hợp tại thời điểm được yêu cầu định giá không thu thập được mức giá của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự, Hội đồng định giá được áp dụng mức giá tại thời điểm gần nhất nhưng không quá 24 tháng tính đến thời điểm được yêu cầu định giá trở về trước.
  • Trường hợp tại địa điểm được yêu cầu định giá không thu thập được mức giá phù hợp, phạm vi thu thập thông tin sẽ được mở rộng theo nguyên tắc từ gần đến xa, ưu tiên các địa điểm có đặc điểm thị trường tương tự, kể cả mở rộng ra khu vực và thế giới nếu trong lãnh thổ Việt Nam không thu thập được.

Đây là quy tắc quan trọng mà bị hại, bị can, bị cáo có thể dùng để kiểm tra tính hợp lệ của một kết luận định giá đã có — nếu Hội đồng sử dụng mức giá quá cũ (vượt quá 24 tháng) hoặc mức giá tại một địa điểm không có đặc điểm thị trường tương tự mà không có lý do chính đáng, đây có thể là căn cứ để yêu cầu định giá lại.

Các nhóm căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự
Căn cứ xác định giá trị tài sản được phân biệt theo tài sản không phải hàng cấm và tài sản là hàng cấm, kèm nguyên tắc áp dụng phù hợp.

Phương pháp định giá áp dụng cùng với căn cứ định giá

Có đầy đủ căn cứ định giá vẫn chưa đủ để đưa ra một mức giá cụ thể — Hội đồng định giá tài sản còn phải lựa chọn đúng phương pháp để chuyển hóa các căn cứ đã thu thập thành kết luận về giá. Theo khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, ngoài các căn cứ tại khoản 1 và khoản 2, việc định giá còn căn cứ vào thông tin, tài liệu được quy định tại các phương pháp định giá theo Điều 23 của Nghị định này.

Thứ tự ưu tiên lựa chọn phương pháp định giá

Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, Hội đồng định giá tài sản căn cứ vào loại tài sản, thông tin và đặc điểm của tài sản, tình hình khảo sát, thu thập thông tin liên quan để quyết định lựa chọn phương pháp định giá theo thứ tự ưu tiên: trước hết áp dụng phương pháp định giá quy định tại pháp luật chuyên ngành liên quan đến tài sản cần định giá; nếu pháp luật chuyên ngành không có quy định, mới áp dụng phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ hoặc phương pháp thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá.

Việc ưu tiên pháp luật chuyên ngành giúp bảo đảm phương pháp định giá phù hợp với đặc thù của từng loại tài sản, ví dụ tài sản là đất đai sẽ ưu tiên áp dụng pháp luật đất đai, tài sản là hàng hóa nhập khẩu sẽ ưu tiên pháp luật hải quan, thương mại.

Cách áp dụng căn cứ định giá cho một số loại tài sản đặc thù

Theo khoản 2 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, đối với một số loại tài sản đặc thù, ngoài phương pháp chung, Hội đồng định giá còn áp dụng cách xác định riêng dựa trên căn cứ tương ứng:

  • Tài sản chưa qua sử dụng được xác định theo giá tài sản cùng loại còn mới
  • Tài sản đã qua sử dụng được xác định trên cơ sở giá trị còn lại; tài sản bị hủy hoại, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ nhưng có khả năng khôi phục được xác định trên cơ sở hồ sơ tài sản và chi phí khôi phục
  • Tài sản bị mất, thất lạc hoặc hư hỏng toàn bộ không thể khôi phục được xác định theo hồ sơ và thông tin thu thập được
  • Tài sản là hàng giả được xác định theo hồ sơ tài sản, hoặc theo giá hàng thật nếu có căn cứ hàng giả được mua bán như hàng thật
  • Tài sản là kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật hoặc tài sản không mua bán phổ biến trên thị trường được xác định dựa trên kết quả giám định và ý kiến chuyên gia.

Việc nắm được các quy tắc riêng này giúp doanh nghiệp, bị hại đánh giá đúng liệu Hội đồng định giá đã áp dụng đúng cách thức phù hợp với đặc điểm thực tế của tài sản hay chưa.

Quy trình áp dụng căn cứ định giá để ra kết luận định giá trong vụ án hình sự

Căn cứ định giá không được Hội đồng định giá lựa chọn tùy tiện mà phải trải qua một quy trình gồm nhiều bước, từ lập kế hoạch, thu thập hồ sơ đến ghi nhận trong kết luận định giá cuối cùng. Nắm được quy trình này giúp các bên liên quan xác định được ở giai đoạn nào có thể xảy ra sai sót về căn cứ áp dụng.

Lập kế hoạch định giá và xác định căn cứ áp dụng

Theo Điều 21 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trước khi tiến hành định giá tài sản, Hội đồng định giá tài sản phải lập kế hoạch định giá gồm các nội dung: xác định nội dung yêu cầu định giá; xác định các chính sách, văn bản pháp luật, phương pháp định giá áp dụng; xác định dữ liệu, tài liệu cần thiết, bao gồm tài liệu đã có sẵn và tài liệu còn thiếu cần yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bổ sung; xác định thời hạn và phân công nhiệm vụ cho thành viên Hội đồng. Kế hoạch định giá do Chủ tịch Hội đồng phê duyệt và có thể được điều chỉnh trong quá trình triển khai nếu phát sinh thực tiễn mới. Bước này cho thấy căn cứ định giá phải được hoạch định có hệ thống ngay từ đầu, không phải lựa chọn ngẫu nhiên khi Hội đồng họp.

Thu thập hồ sơ, tài liệu làm căn cứ định giá

Theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm cung cấp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu định giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định này. Trường hợp Hội đồng định giá tài sản cần bổ sung hồ sơ, tài liệu, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm cung cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP. Toàn bộ hồ sơ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp phải là bản chính hoặc bản sao có đóng dấu bút lục hoặc giáp lai, theo khoản 4 Điều 19 Nghị định này. Đây là nguồn tài liệu trực tiếp cấu thành một số căn cứ định giá quy định tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, đặc biệt là căn cứ về giá trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp của tài sản.

Kết luận định giá tài sản dựa trên căn cứ đã áp dụng

Theo Điều 221 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sau khi hoàn tất định giá, Hội đồng định giá tài sản phải lập kết luận định giá tài sản. Hồ sơ định giá tài sản theo Điều 28 Nghị định 250/2025/NĐ-CP gồm văn bản yêu cầu định giá, quyết định thành lập Hội đồng, các biên bản phiên họp, bản kết luận định giá và tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp. Theo mẫu Bản kết luận định giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định 250/2025/NĐ-CP, kết luận định giá phải thể hiện rõ mụcnguyên tắc và căn cứ định giá tài sản” — đây chính là cơ sở để các bên liên quan kiểm tra Hội đồng đã áp dụng đúng căn cứ theo Điều 20 hay chưa trước khi quyết định có yêu cầu định giá lại hay không.

Quy trình định giá tài sản trong tố tụng hình sự theo từng bước
Quy trình định giá được thực hiện từ yêu cầu định giá, thành lập Hội đồng, thu thập căn cứ đến lập và gửi kết luận định giá.

Trường hợp khonong đồng ý với căn cứ định giá: quyền yêu cầu định giá lại

Khi có cơ sở cho rằng căn cứ định giá lần đầu chưa chính xác, đầy đủ hoặc không phù hợp với thực tế tài sản, pháp luật cho phép các bên liên quan yêu cầu định giá lại. Đây là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi khi kết luận định giá có dấu hiệu sai lệch.

Điều kiện, thẩm quyền yêu cầu định giá lại tài sản

Theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trường hợp có nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tự mình hoặc theo đề nghị của người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác có liên quan, có thể yêu cầu định giá lại tài sản; việc định giá lại do Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp thực hiện. Theo Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá lại được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đầy đủ căn cứ nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu; nếu tiếp tục có mâu thuẫn giữa kết luận định giá lần đầu và kết luận định giá lại, cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu định giá lại lần thứ hai do Hội đồng định giá tài sản cùng cấp với Hội đồng đã định giá lại lần một thực hiện. Người bị buộc tội, bị hại và người tham gia tố tụng khác nên nêu rõ căn cứ cụ thể — ví dụ mức giá vượt quá 24 tháng, không có đặc điểm thị trường tương tự, hoặc thiếu báo cáo thẩm định giá — khi đề nghị định giá lại để tăng khả năng được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận.

Định giá lại trong trường hợp đặc biệt khi có mâu thuẫn về căn cứ áp dụng

Theo Điều 220 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 27 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc định giá lại tài sản khi đã có kết luận định giá lại lần hai của Hội đồng định giá tài sản. Kết luận định giá trong trường hợp đặc biệt này là kết luận định giá tài sản cuối cùng để giải quyết vụ án. Như vậy, quy trình định giá lại tài sản trải qua tối đa ba bước sau lần định giá đầu tiên: định giá lại khi có nghi ngờ, định giá lại lần thứ hai khi có mâu thuẫn giữa hai lần định giá trước, và định giá lại trong trường hợp đặc biệt với vai trò là kết luận cuối cùng.

Rủi ro khi căn cứ định giá tài sản không chính xác

Căn cứ định giá không chỉ là vấn đề kỹ thuật của Hội đồng định giá mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi của các bên trong vụ án hình sự. Doanh nghiệp, bị hại và người bị buộc tội cần nhận diện các rủi ro sau để chủ động bảo vệ quyền lợi của mình.

Ảnh hưởng đến định tội danh, khung hình phạt

Theo thực tiễn áp dụng, giá trị tài sản là căn cứ định lượng quan trọng để xác định khung hình phạt trong nhiều tội danh liên quan đến tài sản như trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản. Nếu căn cứ định giá không chính xác — ví dụ sử dụng mức giá quá cũ hoặc tài sản tương tự không phù hợp — kết luận định giá có thể dẫn đến việc xác định sai khung hình phạt áp dụng đối với người bị buộc tội. Người bị buộc tội nên chủ động kiểm tra kỹ căn cứ định giá được ghi nhận trong kết luận định giá tài sản trước khi vụ án được đưa ra xét xử.

Ảnh hưởng đến quyền lợi bồi thường của bị hại, đương sự

Đối với bị hại, căn cứ định giá tài sản là cơ sở trực tiếp để xác định mức bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự. Bị hại nên chủ động đối chiếu căn cứ định giá đã áp dụng với thực tế tài sản bị thiệt hại — ví dụ tình trạng, chất lượng, thời điểm mua tài sản — để có cơ sở đề nghị định giá lại nếu nhận thấy mức giá được kết luận thấp hơn giá trị thực tế.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ rà soát căn cứ định giá tài sản trong vụ án hình sự tại Luật Long Phan PMT

Luật Long Phan PMT hỗ trợ doanh nghiệp, bị hại và người bị buộc tội trong các vụ việc liên quan đến căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự với các công việc sau:

  • Rà soát văn bản yêu cầu định giá tài sản và đối chiếu căn cứ định giá đã áp dụng với quy định hiện hành.
  • Đánh giá tính hợp lệ về thời điểm, địa điểm áp dụng căn cứ định giá trong kết luận định giá tài sản.
  • Tư vấn phương án đề nghị định giá lại tài sản khi có căn cứ nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu.
  • Soạn thảo văn bản đề nghị định giá lại tài sản gửi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
  • Đại diện khách hàng làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết yêu cầu định giá lại.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.

Câu hỏi thường gặp về căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tìm hiểu về căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Các câu trả lời được xây dựng dựa trên quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị định 250/2025/NĐ-CP — văn bản hướng dẫn thi hành mới nhất, có hiệu lực từ ngày 22/9/2025. Doanh nghiệp, bị hại cần lưu ý không áp dụng Nghị định 30/2018/NĐ-CP đã hết hiệu lực khi tra cứu quy định liên quan.

1. Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự hiện nay được quy định tại văn bản nào?

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự hiện được quy định tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 22/9/2025. Văn bản này đã thay thế Nghị định 30/2018/NĐ-CP và Nghị định 97/2019/NĐ-CP theo quy định tại Điều 30 Nghị định 250/2025/NĐ-CP. Ngoài ra, khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 là căn cứ pháp lý gốc quy định về việc yêu cầu định giá tài sản.

2. Tài sản không phải hàng cấm được định giá dựa trên những căn cứ nào?

Theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá tài sản không phải hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ: giá chuyển nhượng, chào mua, chào bán công khai trên thị trường; giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; báo cáo, chứng thư thẩm định giá; giá trong hồ sơ hợp pháp về tài sản; hoặc các căn cứ khác khi không thu thập được các căn cứ trên. Doanh nghiệp nên yêu cầu Hội đồng định giá cung cấp cụ thể căn cứ nào trong số này đã được áp dụng để kiểm tra tính hợp lệ.

3. Định giá tài sản là hàng cấm có gì khác so với tài sản thông thường?

Theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, tài sản là hàng cấm được định giá dựa trên các căn cứ riêng do không có kênh giao dịch hợp pháp trong nước, bao gồm giá thị trường tại thời điểm, địa điểm yêu cầu định giá, giá trên hợp đồng, hóa đơn, tờ khai nhập khẩu (nếu có), báo cáo thẩm định giá, giá thị trường khu vực hoặc thế giới, và giá của tài sản tương tự được phép lưu hành tại Việt Nam. Nhóm căn cứ này rộng hơn so với tài sản thông thường nhằm bảo đảm có đủ cơ sở xác định giá trị dù tài sản không được mua bán công khai.

4. Nếu không đồng ý với căn cứ định giá đã áp dụng, doanh nghiệp hoặc bị hại có thể làm gì?

Theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bị buộc tội, bị hại và người tham gia tố tụng khác có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu định giá lại tài sản khi có căn cứ nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu. Việc định giá lại theo Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP do Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp thực hiện. Nên nêu rõ căn cứ cụ thể trong văn bản đề nghị, ví dụ mức giá được sử dụng đã vượt quá 24 tháng hoặc không phù hợp đặc điểm thị trường theo khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, để tăng khả năng được chấp nhận.

5. Mức giá dùng làm căn cứ định giá được xác định tại thời điểm nào nếu không thu thập được giá hiện tại?

Theo điểm a khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, nếu tại thời điểm được yêu cầu định giá không thu thập được mức giá của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự, Hội đồng định giá được áp dụng mức giá tại thời điểm gần nhất nhưng không quá 24 tháng tính đến thời điểm được yêu cầu định giá trở về trước. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm ghi rõ thời điểm yêu cầu định giá tại văn bản yêu cầu định giá để làm căn cứ đối chiếu.

6. Ai có thẩm quyền quyết định lựa chọn phương pháp định giá dựa trên căn cứ đã thu thập?

Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, Hội đồng định giá tài sản là chủ thể quyết định lựa chọn phương pháp định giá, căn cứ vào loại tài sản, thông tin, đặc điểm của tài sản và tình hình khảo sát, thu thập thông tin liên quan. Phương pháp định giá quy định tại pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trước; chỉ khi pháp luật chuyên ngành không có quy định thì mới áp dụng phương pháp định giá chung hoặc phương pháp thẩm định giá theo pháp luật về giá.

Kết luận

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự là yếu tố then chốt quyết định tính chính xác của một kết luận định giá, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến khung hình phạt và quyền lợi bồi thường của các bên liên quan. Việc nắm rõ hai nhóm căn cứ tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, cùng quyền yêu cầu định giá lại theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, giúp doanh nghiệp, bị hại và người bị buộc tội chủ động bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình tố tụng. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ rà soát căn cứ định giá tài sản trong hồ sơ cụ thể của quý khách. Quý khách cần tư vấn chi tiết có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
  • Nghị định 250/2025/NĐ-CP ngày 22/9/2025 của Chính phủ
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Nguyễn Văn Quynh

Luật sư Nguyễn Văn Quynh là thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là một chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm với thâm niên hoạt động lâu năm trong nghề luật tại Việt Nam. Ông được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư vào ngày 17/03/2008. Hiện nay, Luật sư Nguyễn Văn Quynh đang giữ vai trò là Trưởng Văn phòng Luật sư Bình Tân.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87