Luật Long Phan PMT nhận thấy giới hạn xét xử của tòa án so với phạm vi truy tố là vấn đề mà nhiều bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ thực sự quan tâm khi bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm đã tuyên vượt ra ngoài những gì Viện kiểm sát truy tố hoặc những gì cấp sơ thẩm đã xem xét. Đây là một trong những nguyên tắc nền tảng của thủ tục tố tụng hình sự, ràng buộc phạm vi quyền xét xử của Tòa án trong mối quan hệ với quyền công tố của Viện kiểm sát. Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao vừa chỉ ra hai vụ việc cụ thể mà Tòa án cấp phúc thẩm và cấp sơ thẩm đã xét xử vượt quá phạm vi được phép, cho thấy đây không chỉ là vấn đề lý thuyết mà có thể trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự trên thực tế.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Tòa án chỉ được xét xử đúng bị cáo và đúng hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, theo khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Tòa án được quyền xét xử theo khoản khác hoặc tội danh bằng, nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố mà không cần trả hồ sơ, theo khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Muốn xét xử tội danh nặng hơn, Tòa án bắt buộc phải trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do, theo khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được xem xét phần nội dung bị kháng cáo, kháng nghị, trừ trường hợp xét thấy cần thiết mở rộng sang phần khác, theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Ba nguyên tắc giới hạn xét xử của Tòa án so với phạm vi truy tố
Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xây dựng ba nguyên tắc theo mức độ tăng dần về sự ràng buộc thủ tục, tương ứng với ba khoản của điều luật, nhằm cân bằng giữa tính độc lập xét xử của Tòa án và quyền công tố của Viện kiểm sát.
Tòa án chỉ xét xử đúng bị cáo và hành vi theo tội danh Viện kiểm sát truy tố
Theo khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nguyên tắc này không cho phép Tòa án tự ý đưa thêm người chưa bị truy tố vào diện xét xử, cũng không được xét xử về hành vi chưa nằm trong cáo trạng của Viện kiểm sát. Trong thực tiễn xét xử, nguyên tắc này còn liên quan chặt chẽ đến việc xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự phát sinh từ hành vi phạm tội – nếu nội dung quyết định vượt ra ngoài những gì đã được truy tố và xét xử thì có thể dẫn đến vi phạm giới hạn xét xử dù bản thân tội danh không thay đổi.
Tòa án được xét xử theo khoản khác hoặc tội danh bằng, nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố
Khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật, hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Quy định này bảo đảm nguyên tắc xét xử độc lập của Tòa án, cho phép Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh tụng và chứng cứ được kiểm tra công khai tại phiên tòa để đưa ra phán quyết phù hợp, thay vì phải tuyên đúng như đề nghị của Viện kiểm sát trong mọi trường hợp. Việc đánh giá một tội danh là “nhẹ hơn” hay “nặng hơn” cần căn cứ vào mức hình phạt chính và hình phạt bổ sung quy định cho tội danh đó trong Bộ luật Hình sự.
Trường hợp Tòa án xét xử tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố
Theo khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó. Đây là quy định mới so với Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, nhằm khắc phục tình trạng vụ án bị trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần mà không có lối ra khi Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố.
Lưu ý, Tòa án xét xử tội danh nặng hơn theo khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 kéo theo hàng loạt thay đổi thủ tục mà nhiều Tòa án cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực (nay là Tòa án nhân dân khu vực) dễ bỏ sót, như việc phải xác định lại thẩm quyền xét xử nếu tội danh nặng hơn thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng vượt quá thẩm quyền của cấp mình, thay đổi thành phần Hội đồng xét xử và bảo đảm quyền có người bào chữa bắt buộc. Trường hợp vụ án đang thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực mà tội danh dự kiến xét xử vượt khung 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình thì vụ án cần được chuyển lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thẩm quyền.

Thực tiễn Tòa án xét xử vượt quá phạm vi truy tố – bài học từ Công văn 281/TANDTC-V1
Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao nêu hai vụ việc cụ thể mà Tòa án đã xét xử vượt quá phạm vi được phép, một ở cấp phúc thẩm và một ở cấp sơ thẩm, để các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu rút kinh nghiệm chung khi giải quyết các vụ án hình sự tương tự.
Sai sót khi Tòa án phúc thẩm quyết định vấn đề chưa được cấp sơ thẩm xem xét
Trong quá trình giải quyết vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Nguyễn Văn A vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không quyết định về quyền lợi, nghĩa vụ của ông A. Khi giải quyết kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp phúc thẩm lại sửa bản án sơ thẩm, buộc ông A phải nộp lại một khoản tiền để trả cho các bị hại. Theo Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, đây là vi phạm phạm vi xét xử phúc thẩm vì nội dung này chưa từng được cấp sơ thẩm xem xét. Do không nhận được giấy triệu tập nên ông A cũng không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, nhưng Tòa án vẫn ra quyết định bất lợi cho ông – vi phạm quy định về sự có mặt tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, ghi nhận tại Bản án số 44/2024/HS-PT ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ ngày 01/7/2025, hệ thống Tòa án nhân dân đã chuyển sang mô hình ba cấp theo Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân cấp cao không còn tồn tại và chức năng phúc thẩm được chuyển giao cho Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Vụ việc nêu trên phát sinh trước thời điểm sắp xếp lại tổ chức Tòa án nên vẫn giữ nguyên tên gọi Tòa án nhân dân cấp cao theo bản án gốc, nhưng đối với các vụ án phát sinh từ ngày 01/7/2025 trở đi, thẩm quyền tương ứng thuộc về Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh tùy từng trường hợp cụ thể.
Sai sót khi Tòa án quyết định vượt quá phạm vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Trong vụ án bị cáo thế chấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô để vay tiền tại ngân hàng, sau đó làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe để tiếp tục cầm cố, chiếm đoạt tiền của các bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Việc giao chiếc xe ô tô – vật chứng của vụ án – cho ngân hàng xử lý là có căn cứ, nhưng đồng thời tuyên bị cáo không còn nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng là không đúng, vì giao xe không đồng nghĩa với hoán trừ toàn bộ khoản tiền vay và lãi. Theo Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, nghĩa vụ trả nợ còn lại cần căn cứ vào hợp đồng tín dụng và thỏa thuận giữa hai bên; việc tuyên bị cáo hết nghĩa vụ trả nợ là vượt quá phạm vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, ghi nhận tại Bản án số 88/2023/HS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, nhận thấy sai sót phổ biến không nằm ở việc Tòa án có quyền quyết định về vật chứng hay không, mà ở việc Tòa án đi xa hơn phạm vi xử lý vật chứng để tuyên luôn về việc chấm dứt hay xác lập nghĩa vụ dân sự vốn phải căn cứ vào hợp đồng và thỏa thuận cụ thể giữa các bên – vấn đề mà nếu chưa đủ điều kiện chứng minh, Tòa án hoàn toàn có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự riêng.
Hậu quả pháp lý khi Tòa án xét xử vượt quá giới hạn/phạm vi truy tố
Việc Tòa án xét xử vượt quá giới hạn hoặc phạm vi truy tố không chỉ là sai sót về mặt kỹ thuật tố tụng mà kéo theo hậu quả pháp lý cụ thể, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của bản án và quyền lợi của những người tham gia tố tụng liên quan.
Rủi ro bản án bị hủy, vụ án bị xét xử lại
Theo khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại khi có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên; việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được; hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố. Đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật, nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hoặc sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật, bản án có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hai vụ việc nêu trong Công văn số 281/TANDTC-V1 hoàn toàn có thể trở thành căn cứ cho một trong hai hướng xử lý này.
Ảnh hưởng đến quyền bào chữa và quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Theo khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến và kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Khi Tòa án quyết định về quyền lợi, nghĩa vụ của một người mà không đưa họ vào tham gia tố tụng hoặc không triệu tập họ tham dự phiên tòa theo đúng quy định về sự có mặt tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người đó bị tước mất cơ hội trình bày chứng cứ, ý kiến để bảo vệ quyền lợi của mình trước khi Tòa án ra phán quyết. Đây chính là hệ quả trực tiếp mà Công văn số 281/TANDTC-V1 chỉ ra trong vụ việc ông Nguyễn Văn A không được triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm dù bị buộc phải nộp lại tiền theo bản án.
Hướng xử lý khi phát hiện Tòa án xét xử vượt quá phạm vi truy tố
Khi phát hiện bản án có dấu hiệu xét xử vượt quá giới hạn hoặc phạm vi truy tố, người bị ảnh hưởng cần xác định đúng thời điểm phát hiện và tình trạng hiệu lực của bản án để lựa chọn đúng thủ tục xử lý, tránh bỏ lỡ thời hạn luật định.
Kháng cáo bản án sơ thẩm vi phạm giới hạn xét xử
Theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa, theo khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đối với quyết định sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định, theo khoản 2 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Theo quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử (Tòa án chỉ có thể xét xử theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát đã truy tố). Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vượt quá phạm vi truy tố hoặc quyết định về tội danh, hành vi không thuộc phạm vi quy định tại Điều 298 nêu trên thì được xác định là vi phạm giới hạn xét xử sơ thẩm (vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng).
Căn cứ Điều 345 và Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo. Nếu xác định Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (vi phạm giới hạn xét xử), HĐXX phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại hoặc điều tra lại.
Đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm khi bản án đã có hiệu lực pháp luật
Trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật mà mới phát hiện việc xét xử vượt quá giới hạn hoặc phạm vi truy tố, người bị ảnh hưởng không còn quyền kháng cáo mà chỉ có thể làm đơn đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm căn cứ Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm gồm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số chức danh tương ứng khác theo Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; bản thân người bị ảnh hưởng không có quyền trực tiếp kháng nghị mà chỉ có quyền đề nghị kháng nghị.
| Phương án xử lý | Áp dụng khi nào | Thời hạn/thẩm quyền |
| Kháng cáo | Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật | 15 ngày (bản án) hoặc 07 ngày (quyết định) theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 |
| Đề nghị giám đốc thẩm | Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật | Không có thời hạn cố định cho người đề nghị; quyết định kháng nghị thuộc thẩm quyền các chức danh tại Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 |
Việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị giám đốc thẩm đòi hỏi phân tích kỹ căn cứ tại Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và trình bày rõ mối liên hệ giữa vi phạm giới hạn xét xử với sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, vì đây là thủ tục đặc biệt chỉ được xem xét khi hồ sơ đề nghị đủ sức thuyết phục người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ khi Tòa án xét xử vượt quá giới hạn/phạm vi truy tố
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến giới hạn xét xử của Tòa án so với phạm vi truy tố với các công việc sau:
- Rà soát cáo trạng, bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm để xác định chính xác phạm vi Tòa án đã xét xử so với phạm vi Viện kiểm sát truy tố.
- Đánh giá căn cứ pháp lý của việc Tòa án xét xử theo tội danh, khoản khác hoặc quyết định về vấn đề dân sự liên quan đến vụ án hình sự.
- Tư vấn phương án kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Soạn thảo đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật.
- Đại diện khách hàng làm việc với Tòa án, Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ việc.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về hướng dẫn xác định giới hạn xét xử của tòa án so với phạm vi truy tố
Dưới đây là một số câu hỏi thường được đặt ra liên quan đến giới hạn xét xử của Tòa án so với phạm vi truy tố. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Công văn hướng dẫn nghiệp vụ liên quan.
1. Tòa án có được tự ý xét xử tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố không?
Không. Theo khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tòa án chỉ được xét xử tội danh nặng hơn sau khi đã trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo, người bào chữa. Nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì lúc đó Tòa án mới có quyền xét xử theo tội danh nặng hơn.
2. Tòa án cấp phúc thẩm có được quyết định vấn đề chưa được cấp sơ thẩm xem xét không?
Về nguyên tắc là không. Theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần nội dung bị kháng cáo, kháng nghị và các phần khác khi xét thấy cần thiết, nhưng không được tự quyết định về những vấn đề mà cấp sơ thẩm chưa từng đưa ra xét xử, giải quyết.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được triệu tập mà vẫn bị Tòa án tuyên bất lợi thì phải làm gì?
Người này có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, hoặc đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật, căn cứ vi phạm quy định về sự có mặt tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
4. Tòa án hình sự có được quyết định việc chấm dứt nghĩa vụ trả nợ giữa bị cáo và ngân hàng không?
Tòa án chỉ được giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong phạm vi cùng với việc giải quyết vụ án hình sự theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nếu vấn đề bồi hoàn, nghĩa vụ trả nợ giữa các bên chưa có đủ điều kiện chứng minh, Tòa án có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thay vì tự tuyên chấm dứt nghĩa vụ.
5. Thời hạn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là bao lâu?
Theo khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Ai có quyền kháng nghị giám đốc thẩm khi bản án vi phạm giới hạn xét xử đã có hiệu lực pháp luật?
Theo Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm gồm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số chức danh tương ứng khác. Bị cáo, bị hại, đương sự không có quyền trực tiếp kháng nghị mà chỉ có quyền làm đơn đề nghị người có thẩm quyền xem xét.
Kết luận
Giới hạn xét xử của tòa án so với phạm vi truy tố là ranh giới bảo vệ đồng thời tính độc lập xét xử của Tòa án và quyền được xét xử đúng phạm vi buộc tội của bị cáo, cũng như quyền tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hai vụ việc trong Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy sai sót này vẫn phát sinh trên thực tế, kể cả ở cấp phúc thẩm lẫn cấp sơ thẩm, và có thể trở thành căn cứ để kháng cáo hoặc đề nghị giám đốc thẩm. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ rà soát bản án, đánh giá căn cứ pháp lý và tư vấn phương án xử lý phù hợp cho từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn chi tiết có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
- Công văn số 281/TANDTC-V1
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: giới hạn xét xử của tòa án, giới hạn xét xử hình sự, phạm vi truy tố, quyền kháng cáo vụ án hình sự, xét xử vượt quá phạm vi truy tố

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.