Trình tự giải quyết vụ án ma túy: Từ khi bị bắt đến khi tòa tuyên án

Trình tự giải quyết vụ án ma túy trải qua bốn giai đoạn tố tụng chính: tạm giữ, khởi tố – điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm. Luật Long Phan PMT nhận thấy phần lớn thân nhân người bị bắt vì liên quan đến ma túy đều lúng túng vì không rõ vụ việc đang ở giai đoạn nào, thời hạn tạm giam bao lâu và khi nào cần mời thủ tục tố tụng hình sự có luật sư tham gia. Bài viết dưới đây trình bày trình tự giải quyết vụ án ma túy theo quy định.

Trình tự giải quyết vụ án ma túy từ tạm giữ, khởi tố điều tra, truy tố đến xét xử sơ thẩm.
Sơ đồ khái quát các giai đoạn chính trong quá trình giải quyết vụ án ma túy từ khi bị bắt đến khi xét xử.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Vụ án ma túy trải qua 04 giai đoạn tố tụng chính: tạm giữ, khởi tố – điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, mỗi giai đoạn do một cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau phụ trách.
  • Từ ngày 01/7/2025, khung hình phạt các tội phạm ma túy được xác định theo Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung 2025, trong đó ngưỡng khối lượng chất ma túy quyết định trực tiếp mức hình phạt áp dụng.
  • Người bị buộc tội về tội ma túy có khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình bắt buộc phải có người bào chữa nếu bản thân hoặc người thân không tự mời.
  • Việc giám định sai khối lượng hoặc niêm phong vật chứng không đúng thủ tục có thể làm thay đổi khung hình phạt áp dụng đối với bị can, bị cáo.

Trình tự giải quyết vụ án ma túy gồm những giai đoạn nào?

Trình tự giải quyết vụ án ma túy gồm năm bước: tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; khởi tố vụ án; khởi tố bị can; điều tra; truy tố và xét xử sơ thẩm. Cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ hoặc tạm giam trong quá trình này nếu có đủ căn cứ pháp luật.

Tạm giữ không phải là một giai đoạn tố tụng riêng biệt. Việc một người bị bắt quả tang, bị tạm giữ hoặc tạm giam không đồng nghĩa vụ án đang ở cùng một giai đoạn trong mọi trường hợp; gia đình cần căn cứ quyết định tố tụng đã ban hành để xác định chính xác vụ việc đang ở giai đoạn nào.

  1. Tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm: cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo; có thể phát sinh việc bắt quả tang, giữ khẩn cấp hoặc tạm giữ nếu đủ điều kiện.
  2. Khởi tố vụ án và khởi tố bị can: khởi tố vụ án theo Điều 143 khi có dấu hiệu tội phạm; khởi tố bị can theo Điều 179 khi đủ căn cứ xác định người thực hiện hành vi (Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).
  3. Điều tra: làm rõ hành vi, khối lượng chất ma túy, vai trò từng người. Theo khoản 1 Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn điều tra ban đầu từ 02 đến 04 tháng tùy loại tội phạm, có thể gia hạn theo khoản 2 Điều 172.
  4. Truy tố: Viện kiểm sát quyết định truy tố bằng cáo trạng theo Điều 243, hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung theo Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  5. Xét xử sơ thẩm: Tòa án chuẩn bị xét xử theo Điều 277 rồi mở phiên tòa; Hội đồng xét xử quyết định tội danh, hình phạt. Bản án sơ thẩm có thể được xét lại theo thủ tục phúc thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ.

Vì sao thời hạn tố tụng của một số vụ án ma túy dài hơn vụ án thông thường?

Thời hạn tố tụng dài hay ngắn phụ thuộc vào loại tội phạm cụ thể theo khung hình phạt áp dụng, không phải mọi vụ án ma túy đều mặc định thuộc loại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015, việc phân loại tội phạm căn cứ mức cao nhất của khung hình phạt:

Loại tội phạm Mức cao nhất của khung hình phạt
Tội ít nghiêm trọng Đến 03 năm tù
Tội nghiêm trọng Trên 03 năm đến 07 năm tù
Tội rất nghiêm trọng Trên 07 năm đến 15 năm tù
Tội đặc biệt nghiêm trọng Trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Các Điều 248-252 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) tiếp tục phân chia nhiều khung trách nhiệm hình sự theo loại, khối lượng chất ma túy. Đáng lưu ý, Luật mới đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), trong khi khung tử hình vẫn được giữ tại tội sản xuất (Điều 248) và mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) trong một số trường hợp định khung nặng. Khi thuộc loại tội phạm nặng hơn, thời hạn điều tra và tạm giam được kéo dài hơn theo Điều 172 và Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; thời gian giải quyết thực tế còn phụ thuộc số lượng bị can, mức độ phức tạp của chứng cứ và yêu cầu giám định.

Giai đoạn tạm giữ người có hành vi liên quan đến ma túy

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được áp dụng khi có căn cứ theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không phải một giai đoạn tố tụng độc lập. Trước hoặc trong thời gian tạm giữ, cơ quan có thẩm quyền có thể bắt người, lập biên bản, thu giữ và niêm phong vật chứng, lấy lời khai.

Các trường hợp bắt người: quả tang, khẩn cấp, truy nã

Trong vụ án ma túy có thể phát sinh nhiều trường hợp bắt người, mỗi trường hợp có căn cứ và thủ tục riêng cần phân biệt chính xác. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Điều 110 quy định giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ khẩn cấp (hai nội dung khác nhau, không nên gộp chung); Điều 111 quy định bắt người phạm tội quả tang; Điều 112 quy định bắt người đang bị truy nã; Điều 113 quy định bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Sau khi bắt, cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản, thông báo và xử lý người bị bắt theo đúng thủ tục tương ứng.

Thời hạn tạm giữ và quyền có người bào chữa

Không phải mọi người bị bắt đều đương nhiên bị tạm giữ; việc tạm giữ chỉ áp dụng khi thuộc trường hợp luật định tại Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (người bị giữ khẩn cấp, người bị bắt quả tang, người tự thú, đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã) và phải thể hiện bằng quyết định của người có thẩm quyền.

Theo khoản 1 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày, có thể gia hạn tối đa hai lần, mỗi lần không quá 03 ngày, nên tổng thời gian tối đa là 09 ngày; mỗi lần gia hạn phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn, không áp dụng tự động cả 09 ngày ngay từ đầu. Gia đình không cần chờ đến khi có quyết định khởi tố bị can mới được lựa chọn luật sư: theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa được tham gia ngay từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở Cơ quan điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ; theo Điều 75, nếu có đơn yêu cầu người bào chữa, trong 12 giờ kể từ khi nhận đơn, cơ quan quản lý phải chuyển đơn cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích. Đối với chỉ định người bào chữa, theo điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can, bị cáo về tội có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình mà không tự mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định; cần xác định đúng khoản của tội danh theo các Điều 248-252 Bộ luật Hình sự đã sửa đổi 2025, không mặc định mọi tội danh ma túy đều thuộc trường hợp bắt buộc.

Giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án ma túy

Khởi tố và điều tra là thời điểm cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ để xác định hành vi phạm tội, loại và khối lượng chất ma túy, vai trò từng người tham gia.

Căn cứ khởi tố và áp dụng biện pháp tạm giam

Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, vụ án chỉ được khởi tố khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm từ tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố hoặc trường hợp tự thú. Theo Điều 179, khởi tố bị can chỉ thực hiện khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án ma túy, tài liệu ban đầu thường gồm biên bản bắt người quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, lời khai và kết luận giám định; cơ quan tố tụng phải đánh giá tổng thể trước khi xác định căn cứ khởi tố.

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn, không phải hệ quả tự động của việc bị khởi tố về tội phạm ma túy; việc áp dụng phải đáp ứng căn cứ tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như nguy cơ bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra. Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật này, thời hạn tạm giam để điều tra không quá 02 tháng (tội ít nghiêm trọng), 03 tháng (tội nghiêm trọng) hoặc 04 tháng (tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) cho mỗi lần, có thể gia hạn theo đúng điều kiện, số lần và thẩm quyền tại Điều 173.

Thời hạn điều tra và gia hạn điều tra

Thời hạn điều tra được tính từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra. Theo khoản 2 Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, vụ án có tính chất phức tạp được gia hạn với số lần và thời gian khác nhau tùy loại tội phạm. Khi xác định tổng thời gian điều tra, cần căn cứ khung hình phạt áp dụng, loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật Hình sự, thời hạn điều tra ban đầu và số lần gia hạn được Viện kiểm sát quyết định. Do đó, không có một thời hạn điều tra cố định áp dụng chung cho mọi vụ án ma túy.

>>> Xem thêm: Có nên nhờ luật sư khi người nhà đang bị tạm giam không?

Giám định khối lượng, hàm lượng chất ma túy – yếu tố quyết định khung hình phạt

Kết luận giám định về loại chất và khối lượng chất ma túy thu giữ là căn cứ trực tiếp để đối chiếu ngưỡng định lượng trong Bộ luật Hình sự và xác định khung hình phạt áp dụng. Từ ngày 01/7/2025, việc xác định trách nhiệm hình sự đối với các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt chất ma túy phải căn cứ các Điều 248-252 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung 2025. Mỗi tội danh và loại chất ma túy có ngưỡng định lượng riêng, không thể dùng một mốc khối lượng chung cho mọi hành vi. Ngoài kết luận giám định, hồ sơ còn cần đối chiếu với biên bản thu giữ, tình trạng niêm phong để kiểm tra tính hợp pháp, khách quan, liên tục của quá trình thu thập, bảo quản, giám định vật chứng; nếu có sai sót thủ tục, giá trị chứng cứ phải được xem xét trên cơ sở toàn bộ hồ sơ, không mặc nhiên bị loại bỏ.

Giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án ma túy với các bước khởi tố, tạm giam, điều tra và giám định.
Giai đoạn điều tra tập trung vào căn cứ khởi tố, biện pháp tạm giam, thời hạn điều tra và giám định chất ma túy.

Giai đoạn truy tố: Viện kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử

Sau khi Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, Viện kiểm sát sàng lọc hồ sơ trước khi quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Theo khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, kể từ ngày nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định trong thời hạn 20 ngày (tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng) hoặc 30 ngày (tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng). Trong thời hạn này, Viện kiểm sát quyết định truy tố, trả hồ sơ điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án. Nếu đủ căn cứ truy tố, Viện kiểm sát ban hành cáo trạng theo Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, làm rõ hành vi, chứng cứ, nhân thân bị can và tội danh, điều khoản cần áp dụng; tội danh và khoản viện dẫn phải đối chiếu với loại, khối lượng chất ma túy và vai trò từng bị can đã được chứng minh trong hồ sơ.

Theo Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung khi: còn thiếu chứng cứ mà Viện kiểm sát không thể tự bổ sung; có căn cứ khởi tố thêm tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác chưa được khởi tố; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Việc trả hồ sơ không đồng nghĩa bị can chắc chắn sẽ bị truy tố tội nặng hơn, mà chỉ nhằm bổ sung chứng cứ hoặc khắc phục vi phạm thủ tục. Trong vụ án ma túy nhiều người tham gia, điều tra bổ sung thường phát sinh khi chưa làm rõ vai trò từng người hoặc quá trình giao nhận chất ma túy; sau khi hoàn thành, hồ sơ được chuyển lại Viện kiểm sát để tiếp tục xem xét quyết định truy tố.

Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy tại Tòa án

Xét xử sơ thẩm là giai đoạn Tòa án có thẩm quyền xem xét toàn bộ hồ sơ, chứng cứ để đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên kết quả tranh tụng công khai.

Tòa án nào có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Từ ngày 01/7/2025, thẩm quyền xét xử sơ thẩm được phân định lại theo mô hình Tòa án nhân dân khu vực và Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thay cho Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây. Theo khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù. Theo khoản 2 Điều 268, Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm vụ án có khung hình phạt tù chung thân, tử hình, hoặc vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan nhiều cấp, nhiều ngành. Vì nhiều tội danh ma túy tại Chương XX Bộ luật Hình sự có khung cao nhất là chung thân hoặc tử hình, gia đình cần xác định đúng khung hình phạt của tội danh cụ thể để biết vụ án thuộc thẩm quyền cấp nào, tránh liên hệ nhầm cơ quan.

Trình tự phiên tòa và trường hợp bắt buộc có người bào chữa

Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành theo trình tự: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận giữa kiểm sát viên, người bào chữa và các bên, nghị án và tuyên án. Sau khi thụ lý, Tòa án tiến hành thủ tục chuẩn bị xét xử trong thời hạn theo Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa được quy định tại Điều 280. Đối với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng – nhóm tội phổ biến trong nhiều vụ án ma túy, thời hạn chuẩn bị xét xử dài hơn và có thể được gia hạn nếu vụ án phức tạp. Phần xét hỏi, tranh luận thường tập trung vào vai trò từng bị cáo và tính chính xác của kết quả giám định khối lượng – hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức hình phạt.

Quy định chỉ định người bào chữa tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tiếp tục có hiệu lực xuyên suốt đến giai đoạn xét xử, không chỉ áp dụng ở giai đoạn điều tra. Nếu bị cáo thuộc trường hợp bắt buộc theo điểm a khoản 1 Điều 76 nhưng Tòa án không chỉ định hoặc không bảo đảm người bào chữa tham gia đầy đủ, đây có thể là căn cứ để kháng cáo hoặc để Viện kiểm sát, Tòa án cấp trên kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Xét xử trực tuyến vụ án ma túy: điều kiện và trường hợp áp dụng

Xét xử trực tuyến được áp dụng từ ngày 01/01/2022 theo Nghị quyết 33/2021/QH15, hiện vẫn còn hiệu lực. Đối với vụ án ma túy, việc xét xử trực tuyến không phụ thuộc riêng vào tội danh mà căn cứ tính chất vụ án, mức độ rõ ràng của chứng cứ và điều kiện kỹ thuật của Tòa án.

Điều kiện áp dụng và các trường hợp bị loại trừ

Theo khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2021/QH15, phiên tòa trực tuyến sử dụng thiết bị điện tử kết nối qua mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự tham gia tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia tố tụng liên tục, công khai, cùng thời điểm. Từ ngày 01/01/2025, khoản 1, khoản 3 Điều 136 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 tiếp tục quy định Tòa án có thể xét xử trực tiếp hoặc trực tuyến, bảo đảm an ninh thông tin và sự tôn nghiêm của phiên tòa.

Theo khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 33/2021/QH15, Tòa án chỉ tổ chức phiên tòa trực tuyến khi vụ án có tình tiết, tính chất đơn giản, tài liệu chứng cứ rõ ràng, và không thuộc ba trường hợp bị loại trừ: vụ án liên quan bí mật nhà nước; vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII Bộ luật Hình sự); vụ án về tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh (Chương XXVI). Các tội phạm về ma túy không thuộc nhóm bị loại trừ, nhưng vụ án có nhiều bị cáo, chứng cứ phức tạp vẫn phải được Thẩm phán đánh giá cụ thể theo tiêu chí “tình tiết, tính chất đơn giản; tài liệu, chứng cứ rõ ràng” trước khi mở phiên tòa trực tuyến – pháp luật không mặc định khung hình phạt nặng thì bắt buộc xét xử trực tiếp. Trước khi quyết định, điểm a, b, c khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP yêu cầu Thẩm phán chủ tọa đánh giá điều kiện áp dụng, cơ sở vật chất kỹ thuật và thông báo để Viện kiểm sát có ý kiến.

Quyền lợi và lưu ý cho bị cáo, người bào chữa khi tham gia phiên tòa trực tuyến

Xét xử trực tuyến không làm thay đổi các quyền tố tụng cơ bản so với xét xử trực tiếp, theo khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2021/QH15 và khoản 3 Điều 136 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024. Người bào chữa cần căn cứ giấy triệu tập và sự bố trí của Tòa án để xác định điểm cầu tham gia, không tự quyết định địa điểm. Nếu xảy ra sự cố kỹ thuật ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tố tụng, vấn đề phải xử lý theo quy định tổ chức phiên tòa trực tuyến tại Thông tư liên tịch 05/2021, không tiếp tục phiên xử chỉ để duy trì hình thức trực tuyến khi điều kiện pháp lý, kỹ thuật không còn bảo đảm.

Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án ma túy tại Luật Long Phan PMT

Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư tư vấn và bào chữa trong các vụ án ma túy với các công việc cụ thể sau:

  • Rà soát hồ sơ vụ án, kiểm tra biên bản bắt người, khám xét, thu giữ, niêm phong vật chứng và các tài liệu tố tụng lập trong giai đoạn đầu.
  • Tham gia bào chữa trong giai đoạn điều tra, theo dõi quá trình lấy lời khai, hỏi cung và bảo đảm quyền tố tụng hợp pháp của bị can.
  • Kiểm tra kết luận giám định ma túy, đối chiếu kết quả về loại, khối lượng, hàm lượng chất ma túy với vật chứng và các tài liệu trong hồ sơ.
  • Tư vấn và đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn khi có căn cứ theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
  • Bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm, xây dựng phương án bào chữa, tham gia xét hỏi, tranh luận, bao gồm cả trường hợp xét xử trực tuyến.
  • Hỗ trợ thủ tục kháng cáo, tư vấn căn cứ kháng cáo, soạn đơn kháng cáo và chuẩn bị tài liệu cho giai đoạn phúc thẩm.
  • Bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm, trình bày căn cứ đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm theo phạm vi kháng cáo.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

>>> Xem thêm: Luật sư bào chữa các tội phạm về ma túy giỏi, uy tín

Dịch vụ luật sư bào chữa vụ án ma túy tại Luật Long Phan PMT.
Luật sư hỗ trợ rà soát hồ sơ, tham gia điều tra, kiểm tra giám định, bào chữa và thực hiện thủ tục kháng cáo.

Câu hỏi thường gặp về trình tự giải quyết một vụ án ma túy thông thường

Dưới đây là những câu hỏi thân nhân bị can, bị cáo thường đặt ra khi tìm hiểu trình tự giải quyết vụ án ma túy, xoay quanh ba nhóm vấn đề: thời hạn tạm giữ, tạm giam; quyền có người bào chữa; và thủ tục xét xử, kháng cáo. Mỗi câu trả lời nêu kết luận trực tiếp trước, sau đó dẫn căn cứ pháp lý cụ thể.

1. Người bị bắt vì liên quan đến ma túy có thể bị tạm giữ tối đa bao lâu?

Tối đa 09 ngày. Theo khoản 1, khoản 2 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giữ ban đầu không quá 03 ngày, có thể gia hạn tối đa hai lần, mỗi lần không quá 03 ngày. Mọi quyết định gia hạn đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn, không tự động áp dụng cả 09 ngày ngay từ đầu.

2. Vụ án ma túy có thể bị tạm giam trong bao lâu?

Thời hạn phụ thuộc vào loại tội phạm cụ thể. Theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giam để điều tra dao động từ 02 đến 04 tháng cho mỗi lần và có thể gia hạn nhiều lần đối với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Không có một thời hạn cố định áp dụng chung cho mọi vụ án ma túy; tổng thời gian thực tế tùy mức độ phức tạp và số lần gia hạn được Viện kiểm sát phê chuẩn.

3. Khi nào bị can, bị cáo trong vụ án ma túy bắt buộc phải có người bào chữa?

Khi tội danh có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình mà không tự mời người bào chữa. Theo điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa trong trường hợp này. Nhiều tội danh ma túy nghiêm trọng thuộc trường hợp này, nhưng cần xác định cụ thể theo khoản của điều luật áp dụng, không mặc định cho mọi tội danh.

4. Vụ án ma túy có được xét xử theo hình thức trực tuyến không?

Có thể, nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định. Theo khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 33/2021/QH15, vụ án ma túy có thể xét xử trực tuyến nếu tình tiết, tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng và không thuộc ba trường hợp loại trừ liên quan bí mật nhà nước, an ninh quốc gia hoặc tội phạm chiến tranh. Vụ án phức tạp, nhiều bị cáo thường vẫn xét xử trực tiếp theo đánh giá của Thẩm phán chủ tọa.

5. Sau khi bị tuyên án sơ thẩm, bị cáo có bao nhiêu ngày để kháng cáo?

15 ngày kể từ ngày tuyên án. Theo khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, nếu bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp pháp.

6. Khối lượng chất ma túy ảnh hưởng đến hình phạt như thế nào?

Là căn cứ trực tiếp xác định khung hình phạt áp dụng. Theo các Điều 248, 249, 250, 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), mỗi loại chất ma túy có các mốc khối lượng riêng tương ứng từng khung hình phạt. Kết quả giám định khối lượng do đó quyết định trực tiếp mức hình phạt bị cáo phải đối diện, không thể dùng một mốc khối lượng chung cho mọi loại chất.

7. Vụ án ma túy hiện nay do Tòa án cấp nào xét xử sơ thẩm?

Tùy khung hình phạt của tội danh cụ thể. Theo khoản 1, khoản 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án nhân dân khu vực xét xử vụ án có khung hình phạt cao nhất đến 20 năm tù; Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử vụ án có khung tù chung thân, tử hình hoặc một số trường hợp phức tạp đặc thù.

Kết luận

Trình tự giải quyết vụ án ma túy trải qua bốn giai đoạn với những thời hạn tố tụng nghiêm ngặt, đòi hỏi bị can, bị cáo và gia đình phải nắm rõ quyền của mình ngay từ giai đoạn đầu để không bỏ lỡ cơ hội bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Việc chủ động mời người bào chữa sớm, giám sát chặt chẽ khâu thu giữ và giám định vật chứng, đồng thời xác định đúng cơ quan có thẩm quyền theo mô hình tổ chức tòa án hiện hành là yếu tố then chốt trong nhiều vụ án ma túy. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tham gia bào chữa xuyên suốt các giai đoạn tố tụng. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung 2025
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025
  • Nghị quyết 33/2021/QH15
  • Thông tư liên tịch 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Nguyễn Thu Hương

Luật sư Nguyễn Thu Hương thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội - hiện đang là Luật sư Cộng sự tại Luật Long Phan PMT. Với hơn 10 năm hoạt động, Luật sư Hương đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực luật khác nhau như Dân sự, Doanh nghiệp, Đất đai, Thương mại, Lao động, hôn nhân gia đình, v.v.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87