Sử dụng trái phép chất ma túy bị xử lý hành chính hay hình sự?

Sử dụng trái phép chất ma túy không còn chỉ bị xử phạt hành chính như trước đây. Kể từ ngày 01/7/2025, hành vi này có thể cấu thành tội phạm hình sự theo Điều 256a Bộ luật Hình sự — đây là vấn đề Luật Long Phan PMT thường xuyên tiếp nhận yêu cầu tư vấn từ thân nhân người sử dụng ma túy đang bị tạm giữ. Ranh giới giữa xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào việc người sử dụng có đang trong thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai nghiện hay đã tái phạm hay không. Bài viết dưới đây phân tích cụ thể các trường hợp áp dụng, mức hình phạt và rủi ro pháp lý liên quan.

Sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việc xử lý phụ thuộc vào việc người sử dụng có thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a hay không.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong 04 trường hợp cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự, có hiệu lực áp dụng từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025.
  • Nếu không thuộc 04 trường hợp trên, người sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP.
  • Tái phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị phạt tù đến 05 năm, và nếu đồng thời tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán ma túy thì bị xử lý thêm về tội danh tương ứng.
  • Người tổ chức, chứa chấp, cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn nhiều so với chính người sử dụng.

Nội Dung Bài Viết

Khi nào sử dụng trái phép chất ma túy bị xử lý hình sự theo Điều 256a Bộ luật Hình sự?

Sử dụng trái phép chất ma túy bị xử lý hình sự khi người vi phạm thuộc một trong 04 trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, được bổ sung, sửa đổi 2025. Đây là tội danh hoàn toàn mới, lần đầu tiên hình sự hóa hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong những điều kiện nhất định, thay vì chỉ xử phạt hành chính hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như trước đây.

Bốn trường hợp sử dụng trái phép chất ma túy bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, người sử dụng trái phép chất ma túy bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
  • Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
  • Đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
  • Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

Các mốc thời hạn nêu trên hiện được xác định theo Luật Phòng, chống ma túy 2025. Theo Điều 24 Luật này, thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là 01 năm kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định quản lý; thời hạn cai nghiện ma túy là 24 tháng đối với người cai nghiện lần đầu và 36 tháng đối với người cai nghiện từ lần thứ hai trở lên. Đây là căn cứ trực tiếp để xác định một người có “đang trong thời hạn cai nghiện” hoặc “đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện” theo khoản 1 Điều 256a hay không.

Điểm chung của cả bốn trường hợp là người vi phạm đã được Nhà nước tạo điều kiện cai nghiện, điều trị hoặc quản lý sau cai nghiện nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Chính sách hình sự tại Điều 256a không nhằm hình sự hóa toàn bộ người sử dụng ma túy, mà chỉ áp dụng cho nhóm đối tượng đã được hỗ trợ, giáo dục nhưng không tuân thủ quá trình cai nghiện.

Mức hình phạt và trường hợp tái phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy

Người phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy lần đầu thuộc một trong 04 trường hợp nêu trên bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm theo khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Trường hợp tái phạm về chính tội danh này, khoản 2 Điều 256a Bộ luật Hình sự quy định mức phạt tù tăng lên từ 03 năm đến 05 năm. Đây là khung hình phạt riêng cho tội sử dụng trái phép chất ma túy, độc lập với các tội danh khác về ma túy như tàng trữ, vận chuyển hay mua bán trái phép chất ma túy.

Thời điểm áp dụng và vướng mắc thực tiễn khi xác định các mốc thời hạn

Tội danh “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Điều 256a chỉ được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với hành vi thực hiện từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 trở đi, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra trước thời điểm này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 256a, kể cả khi người đó đang trong thời hạn cai nghiện hoặc quản lý sau cai nghiện tại thời điểm bị phát hiện sau ngày 01/7/2025.

Trong thực tiễn áp dụng, việc xác định chất ma túy trong cơ thể người sử dụng bắt buộc phải thông qua kết quả giám định theo khoản 5 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự, do kết quả test nhanh bằng que thử tại chỗ vẫn có sai số và không đủ căn cứ để kết tội. Việc xác định mốc thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai nghiện của từng người phụ thuộc vào hồ sơ quản lý tại địa phương; cơ quan tố tụng hiện áp dụng theo hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong khi chờ nghị quyết hướng dẫn thi hành riêng cho Điều 256a của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Sử dụng trái phép chất ma túy có thể kéo theo trách nhiệm hình sự nào khác không?

Sử dụng trái phép chất ma túy có thể kéo theo trách nhiệm hình sự về các tội danh khác nếu người vi phạm đồng thời thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, hoặc nếu người khác lợi dụng, tổ chức, chứa chấp cho việc sử dụng ma túy của họ. Việc xác định đúng tội danh áp dụng có ý nghĩa quyết định đến khung hình phạt mà người vi phạm hoặc người liên quan phải đối mặt.

Trách nhiệm hình sự khi vừa sử dụng vừa tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy

Nguyên tắc xử lý là căn cứ vào hành vi khách quan và mục đích thực hiện để xác định tội danh tương ứng, không áp dụng riêng Điều 256a nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành một tội danh khác nghiêm trọng hơn. Người đã bị kết án về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a mà chưa được xóa án tích, sau đó tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất, bị xử lý về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2025), với mức phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Tương tự, nếu vận chuyển trái phép chất ma túy không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ, người vi phạm bị xử lý về tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015. Như vậy, một người vừa sử dụng vừa tàng trữ ma túy với số lượng nhỏ để dùng dần có thể đồng thời đối mặt với trách nhiệm hình sự theo cả hai tội danh nếu đáp ứng đủ điều kiện định tội của từng điều luật.

Trách nhiệm của người tổ chức, chứa chấp, cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Pháp luật hình sự Việt Nam xử lý nghiêm khắc hơn nhiều đối với người tạo điều kiện, ép buộc hoặc dụ dỗ người khác sử dụng ma túy so với chính người sử dụng, do nhóm hành vi này có tính chất nguy hiểm cao hơn cho xã hội. Nhóm tội danh này gồm 04 điều luật riêng biệt, mỗi điều luật có dấu hiệu cấu thành và khung hình phạt khác nhau.

Bảng dưới đây tổng hợp các tội danh liên quan để doanh nghiệp, chủ cơ sở kinh doanh và người đọc đối chiếu nhanh với tình huống của mình:

Tội danh Căn cứ pháp lý Hành vi đặc trưng Khung hình phạt cơ bản (khoản 1)
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 19 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15) Tổ chức cho người khác sử dụng ma túy dưới bất kỳ hình thức nào Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm
Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) Cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc hành vi khác chứa chấp việc sử dụng ma túy Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy Điều 257 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần buộc người khác sử dụng ma túy Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy Điều 258 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) Rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng ma túy Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 quy định khung 07–15 năm tù nếu phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên trong cùng một lần phạm tội, đối với người đang cai nghiện, hoặc gây tổn hại sức khỏe 31–60%; khoản 3 quy định khung 15–20 năm nếu gây tổn hại sức khỏe từ 61% trở lên hoặc gây chết người; khoản 4 quy định khung 20 năm hoặc chung thân nếu hậu quả nghiêm trọng hơn xảy ra với 02 người trở lên.

Đối với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, khoản 2 Điều 256 quy định khung 07–15 năm tù nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội 02 lần trở lên; đối với người dưới 16 tuổi; đối với 02 người trở lên; hoặc tái phạm nguy hiểm.

Đối với tội cưỡng bức và tội lôi kéo người khác sử dụng ma túy, khoản 2 Điều 257 và khoản 2 Điều 258 đều quy định khung tăng nặng khi gây tổn hại sức khỏe 31–60% cùng một số tình tiết định khung khác; khung cao nhất của hai tội này có thể lên đến 15–20 năm tù hoặc chung thân nếu gây hậu quả chết người.

So sánh xử phạt hành chính và xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Việc xác định một trường hợp cụ thể thuộc diện xử phạt hành chính hay bị xử lý hình sự cần đối chiếu đồng thời Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015. Bảng dưới đây giúp người đọc tự đối chiếu tình huống của mình.

Tiêu chí Xử phạt hành chính Xử lý hình sự
Căn cứ áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (khoản 20 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15)
Điều kiện áp dụng Sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thuộc 04 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự Thuộc một trong 04 trường hợp tại khoản 1 Điều 256a hoặc tái phạm
Hình thức xử lý Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền Truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn
Mức phạt Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng Phạt tù từ 02 năm đến 03 năm; tái phạm từ 03 năm đến 05 năm
Hệ quả pháp lý Không để lại án tích, ghi nhận trong hồ sơ vi phạm hành chính Để lại án tích hình sự, ảnh hưởng lý lịch tư pháp
 So sánh xử phạt hành chính và xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng ma túy trái phép.
Bảng đối chiếu giúp phân biệt điều kiện, hình thức xử lý và hệ quả pháp lý của từng trường hợp.

Rủi ro pháp lý cần lưu ý liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy

Người sử dụng trái phép chất ma túy và những người liên quan cần lưu ý một số nhóm rủi ro pháp lý phát sinh từ quy định mới tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, đặc biệt là nhóm đối tượng đang trong diện quản lý, cai nghiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Rủi ro bị hình sự hóa do tái sử dụng trong thời hạn quản lý, cai nghiện

Người đang chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, hoặc đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện thuộc nhóm 03 trường hợp đầu tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, là nhóm có nguy cơ cao nhất bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tái sử dụng ma túy trong giai đoạn này. Ngay cả trường hợp đã tự nguyện chấm dứt cai nghiện hoặc điều trị thay thế, người đó vẫn nằm trong diện bị hình sự hóa theo trường hợp thứ tư tại khoản 1 Điều 256a nếu tái sử dụng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tự ý chấm dứt.

Vì vậy, người thuộc các diện quản lý nêu trên nên chủ động tuân thủ đầy đủ quá trình cai nghiện, điều trị đã đăng ký theo thời hạn quy định tại Điều 24 Luật Phòng, chống ma túy 2025 để tránh rơi vào một trong 04 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên.

Rủi ro liên đới trách nhiệm hình sự đối với người sử dụng lao động, chủ cơ sở kinh doanh

Chủ cơ sở kinh doanh, quán bar, khách sạn, nhà nghỉ biết rõ khách hàng hoặc nhân viên sử dụng ma túy tại địa điểm mình quản lý nhưng vẫn cho thuê, cho mượn địa điểm, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Mức phạt tăng lên từ 07 năm đến 15 năm tù theo khoản 2 Điều 256 nếu thuộc một trong các trường hợp: lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội 02 lần trở lên; đối với người dưới 16 tuổi; đối với 02 người trở lên; hoặc thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Yếu tố quyết định trách nhiệm hình sự là việc chứng minh chủ cơ sở biết rõ mục đích sử dụng ma túy của người thuê, mượn nhưng vẫn đồng ý. Doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, giải trí nên xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ và phối hợp với cơ quan công an khi phát hiện dấu hiệu sử dụng ma túy tại cơ sở để hạn chế rủi ro liên đới.

Ảnh hưởng đến lý lịch tư pháp, việc làm và các giấy phép liên quan

Khác với xử phạt hành chính không để lại án tích, một bản án hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a sẽ được ghi nhận là án tích cho đến khi được đương nhiên xóa án tích theo Điều 70 Bộ luật Hình sự hoặc xóa án tích theo quyết định của Tòa án theo Điều 71 Bộ luật Hình sự, với thời hạn tính theo Điều 73 Bộ luật Hình sự 2015 (tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án). Trong thời gian chưa được xóa án tích, thông tin về bản án, tội danh, điều khoản luật áp dụng và hình phạt sẽ được thể hiện trên Phiếu lý lịch tư pháp số 2 theo Điều 41 và Điều 43 Luật Lý lịch tư pháp 2009 (sửa đổi, bổ sung 2025) khi người đó hoặc cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu cấp phiếu.

Án tích hình sự về ma túy vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc tại vị trí yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp số 2, xin visa một số quốc gia, hoặc xin cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề có điều kiện về nhân thân. Đây là hậu quả quan trọng cần cân nhắc khi xây dựng phương án bào chữa, đặc biệt trong việc chứng minh không thuộc 04 trường hợp bị hình sự hóa tại khoản 1 Điều 256a.

Quy trình xử lý khi bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy

Quy trình xử lý một trường hợp sử dụng trái phép chất ma túy phụ thuộc vào việc cơ quan chức năng xác định người vi phạm có thuộc diện bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ngay từ giai đoạn đầu.

Quy trình xử phạt vi phạm hành chính khi không thuộc diện hình sự hóa

Đối với trường hợp không thuộc 04 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan công an xử lý theo trình tự sau:

  1. Phát hiện, kiểm tra và lập biên bản đối với người có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy.
  2. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể để xác định kết quả dương tính hoặc âm tính.
  3. Xác minh nhân thân, tiền sử cai nghiện, quản lý sau cai nghiện của người vi phạm để loại trừ 04 trường hợp bị hình sự hóa.
  4. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP nếu đủ căn cứ.
  5. Xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện tự nguyện, cai nghiện bắt buộc hoặc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

Quy trình tố tụng hình sự khi thuộc trường hợp bị truy cứu theo Điều 256a

Đối với trường hợp thuộc diện bị truy cứu trách nhiệm hình sự, quy trình tố tụng được thực hiện theo các bước sau:

  1. Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
  2. Trưng cầu giám định chất ma túy trong cơ thể theo khoản 5 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để làm căn cứ buộc tội.
  3. Thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh người vi phạm thuộc một trong 04 trường hợp tại khoản 1 Điều 256a (quyết định cai nghiện, quyết định quản lý sau cai nghiện, hồ sơ điều trị thay thế).
  4. Kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát để truy tố.
  5. Tòa án xét xử sơ thẩm, xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự trước khi tuyên án theo khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
Quy trình xử lý khi phát hiện sử dụng ma túy từ xét nghiệm, xác minh đến xử phạt hoặc tố tụng hình sự.
Cơ quan chức năng xét nghiệm, xác minh tình trạng quản lý trước khi xác định hướng xử lý phù hợp

Dịch vụ luật sư tư vấn, bào chữa vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy với các công việc sau:

  • Rà soát hồ sơ vi phạm hành chính hoặc hồ sơ vụ án hình sự để xác định căn cứ xử lý đã được cơ quan chức năng áp dụng.
  • Đánh giá căn cứ hình sự hóa theo Điều 256a Bộ luật Hình sự, đối chiếu thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai nghiện của khách hàng với hồ sơ quản lý tại địa phương.
  • Tư vấn phương án bào chữa, thu thập chứng cứ chứng minh không thuộc 04 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ.
  • Soạn thảo đơn khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu việc áp dụng chưa đúng quy định pháp luật.
  • Đại diện khách hàng làm việc với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

>>> Xem thêm: Luật sư bào chữa vụ án ma túy nhiều bị cáo: Lưu ý mâu thuẫn quyền lợi

Câu hỏi thường gặp về xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tìm hiểu về mức xử phạt hành chính, trách nhiệm hình sự và điều kiện áp dụng án treo đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

1. Sử dụng ma túy lần đầu có bị đi tù không?

Sử dụng ma túy lần đầu không đương nhiên bị đi tù. Theo điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, nếu người vi phạm không thuộc một trong 04 trường hợp tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự, hành vi chỉ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Trường hợp người đó đang trong thời hạn cai nghiện, điều trị thay thế hoặc quản lý sau cai nghiện thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngay từ lần đầu theo khoản 1 Điều 256a.

2. Đang cai nghiện tự nguyện mà tái sử dụng ma túy thì xử lý thế nào?

Người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện mà tái sử dụng trái phép chất ma túy thuộc trường hợp thứ nhất tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự, bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm. Việc cai nghiện tự nguyện không loại trừ trách nhiệm hình sự nếu người đó vẫn sử dụng ma túy trong thời hạn cai nghiện đã đăng ký. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với quy định trước ngày 01/7/2025.

3. Mức phạt tiền hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay là bao nhiêu?

Theo điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, hoặc bị phạt cảnh cáo. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2025, thay thế quy định tương ứng tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

4. Tái phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy bị phạt tù bao nhiêu năm?

Theo khoản 2 Điều 256a Bộ luật Hình sự, người tái phạm về tội sử dụng trái phép chất ma túy bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm, cao hơn mức phạt từ 02 năm đến 03 năm áp dụng cho lần phạm tội đầu tiên theo khoản 1 điều luật này.

5. Chủ nhà nghỉ, khách sạn biết khách sử dụng ma túy mà không tố giác có bị xử lý hình sự không?

Chủ cơ sở kinh doanh biết rõ mục đích sử dụng ma túy của khách nhưng vẫn cho thuê, cho mượn địa điểm có thể bị xử lý về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, có thể lên đến 15 năm nếu có tình tiết tăng nặng như lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc phạm tội nhiều lần. Yếu tố quyết định là việc chứng minh chủ cơ sở biết rõ mục đích sử dụng ma túy của người thuê, mượn địa điểm.

6. Người bị hình sự hóa theo Điều 256a có được hưởng án treo không?

Người bị kết án theo khoản 1 Điều 256a với mức án tù không quá 03 năm đáp ứng điều kiện về mức hình phạt tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP) hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Bên cạnh đó, người bị kết án còn phải đáp ứng đồng thời các điều kiện về nhân thân, nơi cư trú rõ ràng và có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó ít nhất 01 tình tiết tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc có được hưởng án treo hay không phụ thuộc vào đánh giá cụ thể của Tòa án, không áp dụng đương nhiên.

Kết luận

Sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay không còn chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính — kể từ ngày 01/7/2025, hành vi này có thể cấu thành tội phạm hình sự theo Điều 256a Bộ luật Hình sự nếu người vi phạm thuộc một trong 04 trường hợp liên quan đến cai nghiện, quản lý sau cai nghiện. Việc xác định đúng ranh giới giữa xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự, cũng như đánh giá đúng rủi ro liên đới đối với người tổ chức, chứa chấp việc sử dụng ma túy, đòi hỏi phân tích cụ thể hồ sơ từng vụ việc. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng đánh giá tình huống và xây dựng phương án xử lý phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
  • Luật Lý lịch tư pháp 2009 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Nghị định 282/2025/NĐ-CP
  • Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP)
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Hà Ngọc Tuyền

Luật sư Hà Ngọc Tuyền- thành viên đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh, trưởng Văn phòng luật sư Hà Tuyền, Luật sư cộng sự tại công ty Luật Long Phan PMT. Với kinh nghiệm lâu năm tham gia các vụ án hình sự, Luật sư Hà Ngọc Tuyền đã và đang trực tiếp tham gia tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các vụ án hình sự là một trong những luật sư kỳ cựu, nhận được rất nhiều kỳ vọng của khách hàng.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87