Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra thuộc trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người đang chiếm hữu, sử dụng súc vật khi xảy ra sự việc, theo khoản 1 Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015). Luật Long Phan PMT thường được người bị chó cắn, trâu bò húc hoặc gia súc phá hoa màu hỏi cách đòi bồi thường. Đây là tranh chấp dân sự về bồi thường ngoài hợp đồng, có thời hiệu khởi kiện 03 năm. Bài viết hướng dẫn điều kiện, mức bồi thường, thủ tục và rủi ro.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Nguyên tắc phân chia: Ưu tiên thỏa thuận bằng văn bản để bảo toàn giá trị doanh nghiệp, hoặc yêu cầu Tòa án chia theo giá trị hiện vật/chênh lệch.
- Rủi ro lớn nhất: Nếu không có thỏa thuận rõ ràng, rất dễ xảy ra tình trạng tẩu tán tài sản hoặc mất quyền điều hành công ty.
- Thời hạn lưu ý: Phải cập nhật thay đổi đăng ký doanh nghiệp trong vòng 10 đến 15 ngày kể từ khi bản án có hiệu lực.
- Chủ vật nuôi còn có thể bị xử phạt hành chính từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng khi để động vật nuôi gây thương tích hoặc thiệt hại tài sản, theo điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hoặc từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng khi không rọ mõm, không xích giữ chó nơi công cộng, theo điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định 204/2026/NĐ-CP.
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra phát sinh khi có thiệt hại thực tế, có quan hệ nhân quả với hành vi của súc vật và không thuộc trường hợp được miễn trừ. Không đòi hỏi chứng minh chủ nuôi cố ý.
BLDS 2015 không định nghĩa súc vật. Theo thực tiễn áp dụng, khái niệm này thường được hiểu là động vật do con người nuôi dưỡng, thuần hóa như trâu, bò, ngựa, dê, chó, mèo. Thú dữ là nguồn nguy hiểm cao độ theo Điều 601 BLDS 2015, nằm ngoài phạm vi bài viết này.
Có thiệt hại thực tế (sức khỏe, tính mạng, tài sản)
Theo điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, thiệt hại gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần, đều phải là tổn thất thực tế xác định được. Với súc vật, thiệt hại thường rơi vào ba nhóm:
- Sức khỏe: chi phí điều trị, tiêm phòng sau khi bị cắn, thu nhập bị mất.
- Tính mạng: chi phí điều trị trước khi chết, mai táng, cấp dưỡng, tổn thất tinh thần của người thân.
- Tài sản: hoa màu bị phá, vật nuôi bị cắn chết, xe cộ hư hỏng do súc vật lao ra đường.
Theo điểm đ khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người yêu cầu phải nêu rõ từng khoản thiệt hại, mức yêu cầu và chứng cứ; nếu không tự thu thập được, có quyền đề nghị Tòa án thu thập.
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của súc vật và thiệt hại
Theo điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, thiệt hại phải là kết quả tất yếu của hành vi gây thiệt hại. Với súc vật, hành vi thường là cắn, húc, giẫm đạp, phá phách hoặc lao ra đường khiến người tham gia giao thông ngã. Khoản chi không gắn với sự việc, như điều trị bệnh nền có từ trước, thường không được chấp nhận.
Trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường (khoản 2 Điều 584 BLDS 2015)
Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 quy định người gây thiệt hại không phải bồi thường khi thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp luật có quy định khác. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, theo khoản 1 Điều 156 BLDS 2015. Nếu người bị hại chỉ có một phần lỗi, họ không được bồi thường phần tương ứng theo khoản 4 Điều 585 BLDS 2015.
Lời khuyên của chúng tôi dành cho người bị thiệt hại: hãy trình bày trung thực diễn biến và lưu ngay chứng cứ khách quan như camera, lời khai người chứng kiến. Chủ nuôi thường viện dẫn việc bị hại trêu chọc súc vật hoặc xâm nhập khu vực có cảnh báo để đề nghị miễn trách. Chủ nuôi cũng nên thu thập chứng cứ về lỗi của người bị hại trước khi thỏa thuận.
Ai phải chịu trách nhiệm bồi thường khi súc vật gây thiệt hại?
Người phải bồi thường trước hết là chủ sở hữu súc vật. Nếu súc vật đang do người khác chiếm hữu, sử dụng, người đó chịu trách nhiệm trong thời gian chiếm hữu, sử dụng. Người thứ ba có lỗi hoặc người chiếm hữu trái pháp luật cũng có thể phải bồi thường, nên xác định đúng bị đơn là bước then chốt.
| Chủ thể | Trường hợp | Căn cứ |
| Chủ sở hữu | Súc vật thuộc quyền quản lý của chủ khi gây thiệt hại | Khoản 1 Điều 603 BLDS 2015 |
| Người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp | Súc vật đang được giao, thuê, mượn hoặc chăn dắt | Khoản 1 Điều 603 BLDS 2015 |
| Người thứ ba | Hoàn toàn có lỗi thì tự bồi thường; cùng có lỗi với chủ thì liên đới | Khoản 2 Điều 603, Điều 587 BLDS 2015 |
| Người chiếm hữu trái pháp luật | Súc vật bị chiếm giữ, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại | Khoản 3 Điều 603 BLDS 2015 |
Chủ sở hữu súc vật (khoản 1 Điều 603 BLDS 2015)
Khoản 1 Điều 603 BLDS 2015 quy định chủ sở hữu súc vật phải bồi thường cho người khác khi súc vật gây thiệt hại. Vì súc vật là tài sản gây thiệt hại, trách nhiệm này áp dụng theo khoản 3 Điều 584 BLDS 2015. Theo điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, chủ sở hữu được xác định tại thời điểm tài sản gây thiệt hại. Ví dụ, chó nhà A lao ra cắn người đi đường thì A phải bồi thường.
Người chiếm hữu, sử dụng súc vật tại thời điểm gây thiệt hại
Câu thứ hai của khoản 1 Điều 603 BLDS 2015 quy định người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Theo điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người chiếm hữu là người đang nắm giữ, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp tài sản như chủ thể có quyền. Nếu chưa rõ ai chịu trách nhiệm, người bị hại có thể yêu cầu cả chủ sở hữu và người trực tiếp chăn dắt để Tòa án xác định.
Trách nhiệm liên đới khi có lỗi của người thứ ba (khoản 2 Điều 603 BLDS 2015)
Khoản 2 Điều 603 BLDS 2015 quy định người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm súc vật gây thiệt hại thì phải bồi thường; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì liên đới bồi thường. Theo khoản 1 Điều 288 BLDS 2015, người bị hại có thể yêu cầu bất kỳ ai trong số những người liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, còn phần trách nhiệm từng người tương ứng mức độ lỗi theo Điều 587 BLDS 2015.
Lời khuyên của chúng tôi: người bị hại nên ghi nhận ngay danh tính người thứ ba và lời khai người chứng kiến, đồng thời yêu cầu bồi thường liên đới để có thêm nguồn thi hành án. Chủ nuôi bị kiện nên đề nghị Tòa án đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng để phân định mức độ lỗi.

Mức bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được tính như thế nào?
Mức bồi thường được xác định theo từng loại thiệt hại: sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản. Các bên được thỏa thuận mức bồi thường; nếu không thỏa thuận được, Tòa án xác định theo Điều 589, Điều 590, Điều 591 BLDS 2015. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời theo khoản 1 Điều 585 BLDS 2015.
| Tiêu chí | Sức khỏe (Điều 590) | Tính mạng (Điều 591) | Tài sản (Điều 589) |
| Khoản chính | Chi phí cứu chữa, phục hồi; thu nhập bị mất; chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc | Chi phí điều trị trước khi chết; mai táng; cấp dưỡng | Tài sản mất, hủy hoại, hư hỏng; lợi ích khai thác tài sản; chi phí ngăn chặn, khắc phục |
| Tổn thất tinh thần | Tối đa 50 lần lương cơ sở nếu không thỏa thuận được, tức 126.500.000 đồng | Tối đa 100 lần lương cơ sở nếu không thỏa thuận được, tức 253.000.000 đồng | Không quy định |
| Người nhận | Người bị thiệt hại | Người thân thích hàng thừa kế thứ nhất | Chủ tài sản |
Mức lương cơ sở hiện nay là 2.530.000 đồng/tháng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được giảm mức nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình, theo khoản 2 Điều 585 BLDS 2015. Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, đó là trường hợp có căn cứ chứng minh buộc bồi thường toàn bộ thì không có điều kiện thi hành án.
Lời khuyên của chúng tôi: người bị hại nên cân nhắc bồi thường nhiều đợt có bảo đảm khi chủ nuôi chứng minh được khả năng kinh tế hạn chế, thay vì kéo dài vụ việc.
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590 BLDS 2015)
Khoản 1 Điều 590 BLDS 2015 gồm chi phí hợp lý cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; chi phí hợp lý và thu nhập bị mất của người chăm sóc. Theo điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, chi phí bồi dưỡng sức khỏe là 01 ngày lương tối thiểu vùng cho mỗi ngày điều trị theo bệnh án. Khoản 2 Điều 590 BLDS 2015 cho phép yêu cầu thêm tiền bù đắp tổn thất tinh thần.
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591 BLDS 2015)
Khoản 1 Điều 591 BLDS 2015 gồm thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm trước khi chết, chi phí hợp lý cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng và thiệt hại khác do luật quy định. Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, chi phí mai táng không gồm cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ.
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 589 BLDS 2015)
Điều 589 BLDS 2015 gồm tài sản bị mất, hủy hoại hoặc hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại. Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, tài sản mất hoặc bị hủy hoại được tính theo giá thị trường của tài sản cùng loại và mức hao mòn tại thời điểm giải quyết bồi thường; tài sản hư hỏng tính theo chi phí sửa chữa theo điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị quyết này.
>>> Xem thêm: Case study: Người thừa kế đòi bồi thường tai nạn chết người
Thủ tục đòi bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Thủ tục thường đi qua bốn bước, từ thu thập chứng cứ, thương lượng, hòa giải ở cơ sở đến khởi kiện tại Tòa án. Ba bước đầu không bắt buộc nhưng giúp tiết kiệm thời gian, chi phí; khởi kiện là biện pháp cuối cùng khi không đạt thỏa thuận.
- Thu thập chứng cứ, xác định chủ sở hữu và người đang chiếm hữu súc vật.
- Thương lượng, gửi văn bản yêu cầu bồi thường cho chủ nuôi.
- Đề nghị hòa giải tại cơ sở hoặc nhờ UBND cấp xã hỗ trợ.
- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền.
Thu thập chứng cứ, xác định chủ sở hữu súc vật
Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015), đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi phải thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình. Người bị hại nên thu thập ngay:
- Hồ sơ y tế: giấy cấp cứu, bệnh án, đơn thuốc, hóa đơn viện phí, chi phí tiêm phòng.
- Ảnh vết thương, hiện trường, tài sản hư hại; dữ liệu camera của các hộ xung quanh (cần sao lưu sớm vì camera thường tự ghi đè).
- Lời khai bằng văn bản của người chứng kiến; kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể; chứng từ thu nhập bị mất.
- Thông tin xác định chủ súc vật, người trông giữ, có xác nhận của tổ dân phố hoặc UBND cấp xã.
Thương lượng, gửi yêu cầu bồi thường trực tiếp
Khoản 1 Điều 585 BLDS 2015 cho phép các bên thỏa thuận mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, hiện vật hoặc thực hiện một công việc, và bồi thường một lần hoặc nhiều lần. Văn bản yêu cầu nên nêu rõ sự việc, từng khoản thiệt hại, tổng số tiền, thời hạn thanh toán, kèm bản sao chứng cứ.
Hòa giải tại cơ sở/UBND cấp xã
Khoản 1 Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở 2013 cho phép hòa giải tranh chấp trong cộng đồng dân cư, trừ vi phạm pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, tổ hòa giải chỉ hòa giải phần tranh chấp bồi thường dân sự; hành vi vi phạm vẫn có thể bị xử phạt hành chính riêng. Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 được thông qua ngày 24/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/3/2027; trước đó, Luật năm 2013 vẫn được áp dụng.
Khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền
Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc khoản 6 Điều 26 BLTTDS 2015. Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm theo Điều 35 BLTTDS 2015, được sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15. Người bị hại nộp đơn tại Tòa án nơi bị đơn cư trú theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, hoặc chọn Tòa án nơi mình cư trú, làm việc hay nơi xảy ra việc gây thiệt hại theo điểm d khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015.
Đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo phải đúng Điều 189 BLTTDS 2015. Tạm ứng án phí vụ án có giá ngạch bằng 50% mức án phí dự tính theo Điều 7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, nộp trong 07 ngày kể từ ngày nhận thông báo theo Điều 195 BLTTDS 2015; người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe thuộc diện được miễn theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Tòa án hòa giải theo Điều 205 BLTTDS 2015.

Kinh nghiệm xử lý thực tế các vụ việc đòi bồi thường do súc vật gây ra
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, khó khăn của người bị hại thường không nằm ở việc chủ nuôi có phải bồi thường hay không, mà ở khâu chứng cứ và cách chốt thỏa thuận. Dưới đây là các tình huống thường gặp trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự.
- Ký giấy “đã giải quyết xong” quá sớm. Một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là nhận khoản hỗ trợ ban đầu rồi ký cam kết không khiếu nại khi chưa biết tỷ lệ tổn thương cơ thể. Khi thương tích kéo dài, chủ nuôi viện dẫn văn bản đã ký để từ chối. Thỏa thuận nên ghi rõ đây là khoản tạm ứng và bảo lưu thiệt hại phát sinh thêm.
- Chậm xác định chủ súc vật. Chó không có người nhận hoặc chủ nuôi chuyển đi là tình huống thường gặp. Nên nhờ tổ dân phố, UBND cấp xã xác nhận ngay từ đầu.
- Yêu cầu một số tiền chung chung. Hồ sơ thiếu bảng kê từng khoản, hóa đơn hoặc chứng từ thu nhập thường bị yêu cầu bổ sung.
- Nhầm xử phạt hành chính với bồi thường. Nhiều người cho rằng chủ nuôi đã bị lập biên bản là xong. Tiền phạt nộp ngân sách nhà nước, không thay thế khoản bồi thường cho người bị hại.
- Bỏ lỡ chứng cứ về lỗi. Tòa án thường xem kỹ thời điểm ghi nhận thương tích trên bệnh án, việc người bị hại có kích động súc vật hay xâm nhập khu vực có cảnh báo không, và chủ nuôi có xích, rào chắn hay không.
Trách nhiệm hành chính, hình sự của chủ sở hữu súc vật
Ngoài nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, chủ sở hữu có thể bị xử phạt hành chính khi vi phạm quy định quản lý vật nuôi. Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi có dấu hiệu tội phạm và hậu quả nghiêm trọng. Các trách nhiệm này độc lập nhau: nộp phạt hoặc chịu án hình sự không thay thế nghĩa vụ bồi thường.
Xử phạt hành chính (Nghị định 204/2026/NĐ-CP,Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP)
Nghị định 282/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/12/2025. Nghị định 204/2026/NĐ-CP về thú y có hiệu lực từ ngày 01/8/2026 và thay thế Nghị định 90/2017/NĐ-CP theo Điều 50 của Nghị định này. Mức phạt dưới đây áp dụng cho cá nhân; tổ chức bị phạt gấp hai lần theo khoản 2 Điều 5 của mỗi Nghị định.
| Hành vi | Mức phạt | Căn cứ |
| Thả rông động vật nuôi trong đô thị hoặc nơi công cộng | Cảnh cáo hoặc 500.000 – 1.000.000 đồng | Điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP |
| Chăn, thả gia súc, gia cầm trong chung cư | Cảnh cáo hoặc 500.000 – 1.000.000 đồng | Điểm e khoản 1 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP |
| Để động vật nuôi gây thương tích hoặc thiệt hại tài sản cho người khác | 2.000.000 – 3.000.000 đồng | Điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP |
| Không rọ mõm, không xích giữ chó hoặc không có người dắt khi ra nơi công cộng | 1.000.000 – 2.000.000 đồng | Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định 204/2026/NĐ-CP |
| Không tiêm phòng vắc-xin Dại cho động vật bắt buộc tiêm | 1.000.000 – 2.000.000 đồng | Điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định 204/2026/NĐ-CP |
Thời hiệu xử phạt là 01 năm theo Điều 6 Nghị định 282/2025/NĐ-CP và khoản 1 Điều 4 Nghị định 204/2026/NĐ-CP. Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền xử phạt theo Điều 54 Nghị định 282/2025/NĐ-CP và khoản 1 Điều 41 Nghị định 204/2026/NĐ-CP. Hành vi kết thúc trước ngày 01/8/2026 xử lý theo nghị định cũ, theo Điều 51 Nghị định 204/2026/NĐ-CP.
Trách nhiệm hình sự khi hậu quả nghiêm trọng (Điều 128, Điều 138 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017)
Khi súc vật làm chết người hoặc gây thương tích nặng do chủ nuôi vô ý, chủ nuôi có thể bị xem xét theo Điều 128 hoặc Điều 138 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015). Theo khoản 1 Điều 128 BLHS 2015, làm chết một người bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; theo khoản 2, làm chết hai người trở lên bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Điều 138 BLHS 2015 áp dụng khi vô ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.
Nếu chủ nuôi cố ý dùng súc vật làm công cụ gây thương tích hoặc gây chết người thì phải xem xét theo hướng tội phạm cố ý như Điều 123 hoặc Điều 134 BLHS 2015. Theo điểm d khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, bồi thường trong vụ án hình sự được giải quyết cùng vụ án hoặc tách ra giải quyết theo tố tụng dân sự.
>>> Xem thêm: Thả rông chó cắn chết người có phải chịu trách nhiệm hình sự
Rủi ro cần lưu ý khi đòi bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Hai rủi ro lớn nhất khi đòi bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra là để hết thời hiệu khởi kiện và không xác định được người chịu trách nhiệm. Cả hai đều có thể phòng tránh nếu hành động sớm.
Thời hiệu khởi kiện (Điều 588 BLDS 2015)
Điều 588 BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Theo khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người bị thương nhập viện ngay trong ngày thì ngày đó là ngày phải biết. Theo khoản 2 Điều 149 BLDS 2015, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của một bên hoặc các bên trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án.
Không xác định được chủ sở hữu súc vật, súc vật thả rông theo tập quán (khoản 4 Điều 603 BLDS 2015)
Khoản 4 Điều 603 BLDS 2015 quy định súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Theo Điều 5 BLDS 2015, tập quán phải có nội dung rõ ràng, được lặp lại trong thời gian dài, được thừa nhận rộng rãi trong vùng, miền hoặc cộng đồng. Thả rông trong đô thị hoặc nơi công cộng là hành vi bị xử phạt theo điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, nên không thể viện dẫn tập quán để hợp thức hóa.
Lời khuyên của chúng tôi: nếu chủ nuôi nói ở địa phương vẫn thả rông theo thói quen, Quý khách không nên chấp nhận ngay. Hãy xác định nơi xảy ra sự việc có phải đô thị, đường công cộng hay khu vực có quy định cấm không, và xin xác nhận của chính quyền cơ sở về tập quán thực tế.
Trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, pháp luật không có điều khoản riêng cho súc vật vô chủ. Theo chúng tôi, khi chưa có bị đơn xác định thì không thể buộc bồi thường. Quý khách nên đề nghị UBND cấp xã, công an cấp xã xác minh, đối chiếu camera, ảnh chụp và lời khai hàng xóm; khi xác định được chủ, thời hiệu 03 năm vẫn tính theo Điều 588 BLDS 2015.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Nếu bạn hoặc người thân bị thương do chó, trâu bò hoặc gia súc của người khác gây ra, hãy gửi ảnh vết thương, hồ sơ bệnh án và thông tin chủ nuôi để luật sư đánh giá khả năng yêu cầu bồi thường và các khoản có thể đòi.
Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư dân sự
📞 Hotline: 1900 636 387
✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn
💬 Zalo: 0939 846 973
📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.
Câu hỏi thường gặp về bồi thường do súc vật gây ra
Các câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi bị súc vật của người khác gây thương tích hoặc thiệt hại tài sản. Mỗi câu trả lời nêu kết luận trước, sau đó dẫn điều luật áp dụng; số liệu về mức phạt và lương cơ sở cập nhật đến tháng 9/2026.
1. Chó nhà hàng xóm cắn người thì ai phải bồi thường?
Chủ sở hữu con chó phải bồi thường cho người bị cắn theo khoản 1 Điều 603 BLDS 2015. Người đang chiếm hữu, sử dụng con chó cũng phải bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu người thứ ba có lỗi làm chó cắn người thì áp dụng khoản 2 Điều 603 BLDS 2015.
2. Bồi thường tổn thất tinh thần do súc vật gây thương tích tối đa là bao nhiêu?
Khi không thỏa thuận được, mức tối đa cho một người bị xâm phạm sức khỏe là 50 lần mức lương cơ sở theo khoản 2 Điều 590 BLDS 2015, tức 126.500.000 đồng với lương cơ sở 2.530.000 đồng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP. Nếu tính mạng bị xâm phạm, mức tối đa là 100 lần theo khoản 2 Điều 591 BLDS 2015, tức 253.000.000 đồng.
3. Thời hạn khởi kiện đòi bồi thường do súc vật gây ra là bao lâu?
Thời hiệu khởi kiện là 03 năm theo Điều 588 BLDS 2015, tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Theo khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người bị thương nhập viện ngay trong ngày thì ngày đó là ngày phải biết.
4. Chủ chó không rọ mõm nơi công cộng bị phạt bao nhiêu?
Cá nhân bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định 204/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/8/2026. Tổ chức bị phạt gấp hai lần theo khoản 2 Điều 5 Nghị định này. Tiền phạt nộp ngân sách nhà nước và không thay thế khoản bồi thường cho người bị hại.
5. Nộp đơn khởi kiện đòi bồi thường do súc vật gây ra ở Tòa án nào?
Người bị hại nộp đơn tại Tòa án nhân dân khu vực theo Điều 35 BLTTDS 2015, được sửa đổi 2025. Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015. Nguyên đơn cũng có thể chọn Tòa án nơi mình cư trú, làm việc hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại theo điểm d khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015.
Kết luận
Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra dựa trên trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, chứng cứ về thiệt hại và quan hệ nhân quả. Người bị hại nên thu thập chứng cứ sớm, tính từng khoản theo Điều 589, Điều 590, Điều 591 BLDS 2015 và khởi kiện trong 03 năm. Luật Long Phan PMT hỗ trợ đánh giá hồ sơ qua hotline 1900636387.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Dân sự 2015
- Luật Hòa giải ở cơ sở 2013
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
- Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Nghị định 204/2026/NĐ-CP
- Nghị định 282/2025/NĐ-CP
- Nghị định 161/2026/NĐ-CP
- Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: bồi thường do chó cắn, bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, Bồi thường tổn thất tinh thần, chó cắn người phải bồi thường, khởi kiện đòi bồi thường, mức bồi thường do súc vật gây ra, súc vật gây thiệt hại tài sản, thời hiệu khởi kiện bồi thường, trách nhiệm bồi thường của chủ nuôi, trách nhiệm chủ sở hữu súc vật, trách nhiệm khi thả rông súc vật, xử phạt chủ nuôi chó

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.