Ký hợp đồng lao động có thời hạn lần 3 có thành không thời hạn?

Ký hợp đồng lao động có thời hạn lần 3 với cùng người lao động không làm hợp đồng chấm dứt khi hết thời hạn ghi trên giấy. Theo dự thảo án lệ số 32/2026, hợp đồng thứ ba phải được xác định là hợp đồng không xác định thời hạn, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Luật Long Phan PMT phân tích vụ việc giữa bà N và Công ty L: ba hợp đồng, nhận định của Tòa án các cấp, chứng cứ then chốt và đối chiếu với Bộ luật Lao động 2019, giúp doanh nghiệp và người lao động kiểm soát rủi ro khi giao kết hợp đồng lao động.

Ký hợp đồng lao động có thời hạn lần 3 có thành hợp đồng không xác định thời hạn theo dự thảo án lệ 32/2026
Hợp đồng lao động xác định thời hạn chỉ được ký thêm 01 lần; hợp đồng ký lần thứ ba phải được xác định là không xác định thời hạn, trừ trường hợp luật quy định khác.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Dự thảo án lệ số 32/2026 do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất; ngày thông qua và số quyết định công bố còn để trống, nên chưa phải án lệ đã được công bố.
  • Theo điểm c khoản 2 Điều 20 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng xác định thời hạn chỉ được ký thêm 01 lần; sau đó nếu người lao động vẫn làm việc thì phải ký hợp đồng không xác định thời hạn, trừ các trường hợp luật định.
  • Người có quốc tịch Việt Nam, nhập cảnh và ký hợp đồng bằng hộ chiếu Việt Nam được xác định là công dân Việt Nam, nên không thuộc trường hợp phải có giấy phép lao động.
  • Vụ việc được giải quyết theo Bộ luật Lao động 2012, nay đã hết hiệu lực; tình huống hiện nay áp dụng Bộ luật Lao động 2019.

Nội Dung Bài Viết

Thông tin nhanh về vụ việc

Đây là tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và thanh toán tiền thuế thu nhập cá nhân. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ xét xử sơ thẩm lại.

Tiêu chí Nội dung
Văn bản phân tích Dự thảo án lệ số 32/2026 “Về việc xác định hợp đồng lao động không xác định thời hạn”
Nguồn án lệ Quyết định giám đốc thẩm số 02/2019/LĐ-GĐT ngày 02/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Các bên Nguyên đơn: bà N (người lao động); bị đơn: Công ty cổ phần giải trí L
Vị trí nội dung án lệ Đoạn 1, 2, 3, 4 và 6 phần “Nhận định của Tòa án”
Kết quả giám đốc thẩm Hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và sơ thẩm, giao xét xử sơ thẩm lại

Bối cảnh vụ án: ba hợp đồng liên tiếp và việc chấm dứt

Bà N làm Giám đốc phát triển kinh doanh tại Công ty L theo ba hợp đồng liên tiếp từ tháng 3/2014 đến tháng 3/2015. Khi hợp đồng thứ ba hết hạn, công ty thông báo chấm dứt; bà N khởi kiện vì cho rằng hợp đồng đã trở thành không xác định thời hạn.

Ba hợp đồng lao động giữa bà N và Công ty L

Hai hợp đồng đầu ký ngày 04/3/2014 và 04/6/2014, cùng tên gọi “Hợp đồng lao động dành cho đối tượng cộng tác viên”, mỗi hợp đồng 03 tháng. Hợp đồng thứ ba ký ngày 04/9/2014, tên gọi “Hợp đồng lao động thời vụ”, thời hạn 06 tháng, đến ngày 03/3/2015.

Cả ba hợp đồng ghi cùng chức danh, mức lương 88.000.000 đồng/tháng và đều ghi bà N có quốc tịch Việt Nam.

Diễn biến chấm dứt hợp đồng

Ngày 12/02/2015, Công ty L thông báo hợp đồng thời vụ kết thúc đúng thời hạn kể từ ngày 04/3/2015. Ngày 03/3/2015, bà N bàn giao công việc; công ty tính lương đến ngày này.

Ngày 18/4/2015, Công ty L và đại diện một văn phòng luật sư lập Biên bản ghi nhớ, trong đó công ty nhận thấy hợp đồng với bà N là hợp đồng không xác định thời hạn và sẽ trả tiền lương cho 45 ngày báo trước.

Ngày 20/4/2015, công ty ban hành thông báo điều chỉnh: chấm dứt hợp đồng từ ngày 29/3/2015, với lý do vị trí công việc không còn do dự án giai đoạn tháng 3/2014 đến tháng 2/2015 đã kết thúc.

Yêu cầu và quan điểm của các bên

Ngày 11/5/2015, bà N khởi kiện, cho rằng công ty đơn phương chấm dứt trái pháp luật, yêu cầu được nhận trở lại làm việc và bồi thường các khoản liên quan, tổng cộng 466.400.000 đồng.

Công ty L cho rằng bà N là Việt kiều mang quốc tịch Mỹ nên bắt buộc phải có giấy phép lao động, nhưng bà không cung cấp giấy tờ để xin giấy phép. Công ty phản tố, đề nghị hủy 03 hợp đồng và yêu cầu bà N thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân, tạm tính 46.311.885 đồng.

Ba hợp đồng lao động ký liên tiếp năm 2014 và kết luận hợp đồng lần 3 không xác định thời hạn trong vụ bà N
Hai hợp đồng 03 tháng và một hợp đồng 06 tháng ký liên tiếp; Hội đồng Thẩm phán xác định hợp đồng ký lần thứ ba là hợp đồng không xác định thời hạn.

Dòng thời gian vụ việc

Vụ việc kéo dài từ hợp đồng đầu tiên năm 2014 đến quyết định giám đốc thẩm năm 2019, qua ba cấp xét xử. Các mốc dưới đây lấy trực tiếp từ dự thảo án lệ số 32/2026.

Thời điểm Sự kiện
04/3/2014 đến 04/9/2014 Ký ba hợp đồng: 03 tháng, 03 tháng và 06 tháng
12/02/2015 Thông báo hợp đồng kết thúc đúng thời hạn
18/4/2015 Biên bản ghi nhớ: công ty thừa nhận hợp đồng không xác định thời hạn
20/4/2015 Thông báo điều chỉnh, chấm dứt từ ngày 29/3/2015
11/5/2015 Bà N khởi kiện
09/12/2015 Bản án lao động sơ thẩm số 1338/2015/LĐ-ST của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
02/8/2016 Bản án lao động phúc thẩm số 03/2016/LĐ-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
04/7/2019 Quyết định kháng nghị số 02/2019/KN-LĐ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
02/10/2019 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2019/LĐ-GĐT

Câu hỏi pháp lý trung tâm của vụ việc

Vụ việc đặt ra hai câu hỏi: người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam, có phải xin giấy phép lao động không; và hợp đồng ký lần thứ ba có phải là hợp đồng không xác định thời hạn không. Hội đồng Thẩm phán trả lời có lợi cho người lao động.

Người mang quốc tịch Việt Nam có phải xin giấy phép lao động?

Theo nhận định của Hội đồng Thẩm phán, không. Bà N có quốc tịch Việt Nam, sử dụng hộ chiếu Việt Nam và ký hợp đồng với danh nghĩa người có quốc tịch Việt Nam, nên không thuộc đối tượng phải có giấy phép lao động.

Hợp đồng ký lần thứ ba có là không xác định thời hạn?

Theo đoạn [6], thỏa thuận thời hạn 06 tháng cho hợp đồng ký lần thứ ba là trái pháp luật và cần xác định đây là hợp đồng không xác định thời hạn. Vì vậy, chấm dứt với lý do hết hạn vào ngày 03/3/2015 là không đúng pháp luật.

Nhận định của Tòa án các cấp

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm cùng bác yêu cầu của bà N và tuyên ba hợp đồng vô hiệu. Hội đồng Thẩm phán chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy cả hai bản án vì xác định sai về quốc tịch, giấy phép lao động và loại hợp đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm

Tại Bản án số 1338/2015/LĐ-ST ngày 09/12/2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận yêu cầu của bà N, kể cả yêu cầu nhận trở lại làm việc và khoản bồi thường tạm tính 994.400.000 đồng.

Tòa chấp nhận toàn bộ phản tố: tuyên ba hợp đồng vô hiệu toàn bộ, buộc bà N liên hệ cơ quan thuế truy đóng thuế thu nhập cá nhân (dự tính 30.999.924 đồng) và kiến nghị xử phạt hành chính cả hai bên.

Tòa án cấp phúc thẩm

Bà N kháng cáo ngày 18/12/2015. Tại Bản án số 03/2016/LĐ-PT ngày 02/8/2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Theo đoạn [4] quyết định giám đốc thẩm, hai cấp này coi bà N là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đã có quốc tịch Hoa Kỳ, nên phải có giấy phép lao động.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Về quốc tịch, Hội đồng căn cứ hộ chiếu Việt Nam cấp ngày 12/8/2009 tại Washington DC, giá trị đến ngày 12/8/2019, ghi rõ quốc tịch Việt Nam và trùng khớp với thông tin trong ba hợp đồng. Từ khái niệm “người nước ngoài” và điều kiện lao động nước ngoài, Hội đồng kết luận chỉ công dân nước ngoài mới bắt buộc có giấy phép lao động.

Về loại hợp đồng, Hội đồng xác định hợp đồng lần thứ ba là không xác định thời hạn. Hợp đồng cũng không có nội dung làm việc theo dự án, nên lý do “dự án kết thúc” không có cơ sở. Việc ra thông báo ngày 20/4/2015 sau khi đã thừa nhận loại hợp đồng cũng không đúng quy định.

Về phản tố thuế, Hội đồng nhận định Tòa sơ thẩm chưa làm rõ khoản thuế phải truy đóng mà đã buộc bà N chịu án phí là không có căn cứ.

Kết quả: hủy toàn bộ hai bản án, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại. Về kết quả xét xử lại: chưa đủ dữ liệu để xác định.

Tòa án đánh giá dựa trên những chứng cứ nào?

Hội đồng Thẩm phán dựa chủ yếu vào hộ chiếu Việt Nam của bà N, nội dung ba hợp đồng, Biên bản ghi nhớ ngày 18/4/2015 và các biên bản họp của công ty. Đây là những chứng cứ quyết định việc xác định quốc tịch, loại hợp đồng và tính hợp pháp của việc chấm dứt.

Chứng cứ Chứng minh vấn đề gì Đánh giá của Hội đồng Thẩm phán Ảnh hưởng tới kết quả
Hộ chiếu Việt Nam Quốc tịch của bà N Ghi rõ quốc tịch Việt Nam, trùng khớp với hợp đồng Không phải xin giấy phép lao động
Ba hợp đồng lao động Quốc tịch, thời hạn, chức danh Ghi quốc tịch Việt Nam; chỉ ghi chức danh, không đề cập dự án Hợp đồng lần thứ ba là không xác định thời hạn
Biên bản ghi nhớ ngày 18/4/2015 Công ty thừa nhận loại hợp đồng Công ty thừa nhận hợp đồng lần thứ ba là không xác định thời hạn Củng cố kết luận về loại hợp đồng
Thông báo ngày 12/02/2015 và 20/4/2015 Lý do chấm dứt Lý do hết hạn và lý do vị trí không còn đều không đúng quy định Việc chấm dứt không hợp lệ
Biên bản họp của công ty Công việc có theo dự án không Chỉ tổng kết kinh doanh từng giai đoạn Không đủ cơ sở xác định công việc theo dự án
Hộ chiếu, hợp đồng, biên bản ghi nhớ, thông báo chấm dứt là các chứng cứ Tòa án xem xét trong dự thảo án lệ 32/2026
Hộ chiếu Việt Nam, ba hợp đồng lao động, Biên bản ghi nhớ ngày 18/4/2015 và các thông báo chấm dứt là chứng cứ quyết định việc xác định quốc tịch, loại hợp đồng và tính hợp pháp của việc chấm dứt.

Khung pháp luật áp dụng: đối chiếu Bộ luật Lao động 2012 và 2019

Vụ việc được giải quyết theo Điều 22 và Điều 38 Bộ luật Lao động 2012. Theo dự thảo, các điều này tương ứng Điều 20 và Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2024 và 2025). Bộ luật năm 2012 đã hết hiệu lực, chỉ dùng để đối chiếu.

Bộ luật Lao động 2019 (số 45/2019/QH14) có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Theo Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-VPQH năm 2026, Điều 20, Điều 36 và Điều 41 không bị đánh dấu sửa đổi.

Nội dung Bộ luật Lao động 2012 (đối chiếu) Bộ luật Lao động 2019 (hiện hành)
Loại hợp đồng Điều 22: không xác định thời hạn; xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng; mùa vụ hoặc theo công việc nhất định dưới 12 tháng Khoản 1 Điều 20: không xác định thời hạn (điểm a); xác định thời hạn không quá 36 tháng (điểm b)
Giới hạn số lần ký Khoản 2 Điều 22: chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó phải ký không xác định thời hạn Điểm c khoản 2 Điều 20: chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó phải ký không xác định thời hạn, trừ các trường hợp luật định
Hết hạn vẫn làm việc Khoản 2 Điều 22: trong 30 ngày phải ký hợp đồng mới Điểm a, b khoản 2 Điều 20: trong 30 ngày phải ký mới; quá hạn thì trở thành không xác định thời hạn
Đơn phương chấm dứt của người sử dụng lao động Điều 38; báo trước ít nhất 45 ngày với hợp đồng không xác định thời hạn Điều 36; điểm a khoản 2: báo trước ít nhất 45 ngày với hợp đồng không xác định thời hạn
Giấy phép lao động Điểm d khoản 1 Điều 169, Điều 172 (theo trích dẫn của Tòa) Điểm d khoản 1 Điều 151, Điều 154; Nghị định 219/2025/NĐ-CP

Quy định hiện hành tại Điều 20 Bộ luật Lao động 2019

Theo khoản 2 Điều 20, khi hợp đồng xác định thời hạn hết hạn mà người lao động vẫn làm việc, trong 30 ngày hai bên phải ký hợp đồng mới (điểm a); quá 30 ngày không ký thì hợp đồng trở thành không xác định thời hạn (điểm b). Điểm c quy định:

“c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.”

Các trường hợp ngoại lệ được ký nhiều lần

Doanh nghiệp cần kiểm tra bốn nhóm ngoại lệ trước khi ký hợp đồng xác định thời hạn lần thứ ba:

  • Người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước.
  • Người lao động cao tuổi: khoản 1 Điều 149 cho phép thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng xác định thời hạn.
  • Người lao động nước ngoài: theo khoản 2 Điều 151, thời hạn hợp đồng không vượt quá thời hạn giấy phép lao động và có thể giao kết nhiều lần hợp đồng xác định thời hạn.
  • Thành viên ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ: khoản 4 Điều 177 buộc gia hạn hợp đồng đến hết nhiệm kỳ.

Chúng tôi khuyến nghị đặc biệt lưu ý ngoại lệ về người lao động nước ngoài. Với công dân Việt Nam như bà N, ngoại lệ tại khoản 2 Điều 151 không áp dụng, nên xác định đúng quốc tịch quyết định số lần được ký hợp đồng xác định thời hạn.

Quy định hiện hành về lao động nước ngoài và quốc tịch

Theo khoản 1 Điều 151 Bộ luật Lao động 2019, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là người có quốc tịch nước ngoài; điểm d yêu cầu có giấy phép lao động, trừ trường hợp tại Điều 154 (không thuộc diện cấp giấy phép lao động).

Văn bản hướng dẫn hiện hành là Nghị định 219/2025/NĐ-CP ngày 07/8/2025, có hiệu lực từ ngày 07/8/2025, thay thế Nghị định 152/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2023/NĐ-CP.

Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008  (sửa đổi, bổ sung năm 2014 và 2025) quy định Nhà nước công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Hậu quả khi chấm dứt trái pháp luật

Theo Điều 39 Bộ luật Lao động 2019, chấm dứt không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 là đơn phương chấm dứt trái pháp luật. Hết hạn hợp đồng theo khoản 1 Điều 34 chỉ là căn cứ chấm dứt khi hợp đồng thực sự có thời hạn.

Theo khoản 1 Điều 41, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, đóng bảo hiểm cho những ngày không được làm việc, trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương, và trả tiền lương cho những ngày không báo trước nếu vi phạm khoản 2 Điều 36.

>>> Xem thêm: Hướng xử lý khi bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Giải pháp pháp lý của dự thảo án lệ số 32/2026

Tòa án phải xác định người lao động là công dân Việt Nam không thuộc đối tượng phải cấp giấy phép lao động. Trường hợp các bên tiếp tục giao kết hợp đồng lao động sau khi hợp đồng lao động xác định thời hạn thứ hai hết hạn, Tòa án phải xác định hợp đồng lao động thứ ba đã giao kết là hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Ứng dụng thực tiễn cho người sử dụng lao động và người lao động

Doanh nghiệp cần kiểm soát số lần ký hợp đồng xác định thời hạn và xác định đúng quốc tịch người lao động; người lao động cần lưu giữ hợp đồng, hộ chiếu và văn bản chấm dứt. Các bài học dưới đây chỉ có giá trị tham khảo, không bảo đảm kết quả tương tự.

Checklist cho người sử dụng lao động

Chúng tôi khuyến nghị doanh nghiệp rà soát theo thứ tự sau:

  1. Đếm số hợp đồng xác định thời hạn đã ký liên tiếp, kể cả hợp đồng mang tên “cộng tác viên” hay “thời vụ”.
  2. Đã ký hai hợp đồng xác định thời hạn thì kiểm tra ngoại lệ tại điểm c khoản 2 Điều 20; không thuộc ngoại lệ thì ký hợp đồng không xác định thời hạn, chú ý mốc 30 ngày.
  3. Xác định quốc tịch theo giấy tờ người lao động dùng để nhập cảnh và giao kết; ghi thống nhất thông tin hộ chiếu trong hợp đồng.
  4. Chấm dứt hợp đồng không xác định thời hạn chỉ khi có căn cứ tại khoản 1 Điều 36 và tuân thủ thời hạn báo trước tại khoản 2 Điều 36.

>>> Xem thêm: Hướng dẫn chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Checklist cho người lao động

Chúng tôi khuyến nghị người lao động lưu giữ:

  • Tất cả hợp đồng đã ký, kể cả hợp đồng cộng tác viên, thời vụ.
  • Hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng minh quốc tịch đã dùng khi giao kết.
  • Thông báo chấm dứt, biên bản bàn giao, bảng lương, email trao đổi và văn bản công ty thừa nhận loại hợp đồng (nếu có).

Giới hạn áp dụng

Kết luận gắn với tình tiết cụ thể: hộ chiếu Việt Nam còn giá trị, ba hợp đồng đều ghi quốc tịch Việt Nam và công việc không theo dự án. Trường hợp người có nhiều quốc tịch nhưng ký hợp đồng bằng hộ chiếu nước ngoài: chưa đủ dữ liệu để xác định từ dự thảo này.

Tình trạng hiện tại của dự thảo án lệ số 32/2026

Tại thời điểm viết bài, văn bản vẫn là dự thảo. Ngày Hội đồng Thẩm phán thông qua và số, ngày quyết định công bố của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao còn để trống, số án lệ ghi dạng “Án lệ số …/2026/AL”, nên chưa thể viện dẫn như án lệ đã công bố.

Nguồn của dự thảo là quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán. Chúng tôi khuyến nghị theo dõi thông tin chính thức của Tòa án nhân dân tối cao trước khi viện dẫn trong hồ sơ.

Vai trò của luật sư trong các vụ việc tương tự

Luật sư rà soát chuỗi hợp đồng, xác định tư cách công dân của người lao động, đánh giá tính hợp pháp của việc chấm dứt và chuẩn bị hồ sơ bảo vệ quyền lợi cho bên mình đại diện, từ thương lượng đến giải quyết tại Tòa án.

Qua các hồ sơ lao động đã tiếp nhận, sai lầm phổ biến là doanh nghiệp đổi tên hợp đồng sang “cộng tác viên”, “thời vụ” để tiếp tục ký ngắn hạn, hoặc chấm dứt chỉ dựa vào thời hạn ghi trên hợp đồng mà không kiểm tra số lần đã ký.

Với doanh nghiệp, luật sư phát hiện hợp đồng đã ký quá số lần cho phép, tư vấn chuyển đổi loại hợp đồng và đánh giá căn cứ, thời hạn báo trước khi chấm dứt.

Với người lao động, luật sư xác định loại hợp đồng thực tế, tính các khoản có thể yêu cầu theo Điều 41, chuẩn bị đơn khởi kiện và chứng cứ về quốc tịch, chuỗi hợp đồng, văn bản chấm dứt.

>>> Xem thêm: Các loại hợp đồng lao động theo quy định mới nhất

Các câu hỏi thường gặp về ký hợp đồng lao động xác định thời hạn lần thứ ba

Các câu hỏi dưới đây là thắc mắc thường gặp của doanh nghiệp và người lao động về số lần ký hợp đồng xác định thời hạn. Mỗi câu trả lời nêu kết luận trước, sau đó dẫn quy định hiện hành hoặc dữ kiện từ dự thảo.

1. Ký hợp đồng lao động có thời hạn lần 3 có hợp pháp không?

Không, trừ các trường hợp ngoại lệ. Theo điểm c khoản 2 Điều 20 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng xác định thời hạn chỉ được ký thêm 01 lần; sau đó nếu người lao động vẫn làm việc thì phải ký hợp đồng không xác định thời hạn.

2. Hợp đồng “cộng tác viên”, “thời vụ” có được tính vào số lần ký không?

Trong vụ việc, hai hợp đồng đầu mang tên “cộng tác viên” và hợp đồng thứ ba mang tên “thời vụ”, nhưng Hội đồng Thẩm phán vẫn xác định hợp đồng ký lần thứ ba là không xác định thời hạn. Tên gọi không làm thay đổi kết luận này.

3. Người có hai quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam, có cần giấy phép lao động?

Theo dự thảo, nếu nhập cảnh bằng hộ chiếu Việt Nam và ký hợp đồng với tư cách công dân Việt Nam thì không phải xin giấy phép lao động. Theo khoản 1 Điều 151 Bộ luật Lao động 2019, người lao động nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài.

4. Những trường hợp nào được ký nhiều lần hợp đồng xác định thời hạn?

Theo điểm c khoản 2 Điều 20 Bộ luật Lao động 2019: người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước; người lao động cao tuổi (khoản 1 Điều 149); người lao động nước ngoài (khoản 2 Điều 151); trường hợp tại khoản 4 Điều 177.

5. Hết hợp đồng mà vẫn tiếp tục làm việc thì sao?

Theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 20 Bộ luật Lao động 2019, trong 30 ngày kể từ ngày hợp đồng hết hạn, hai bên phải ký hợp đồng mới; quá 30 ngày không ký thì hợp đồng đã giao kết trở thành không xác định thời hạn.

6. Bị chấm dứt trái pháp luật, người lao động được yêu cầu gì?

Theo khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, người lao động được nhận trở lại làm việc, được trả lương, đóng bảo hiểm cho những ngày không được làm việc và thêm ít nhất 02 tháng tiền lương. Mức cụ thể phụ thuộc chứng cứ và quyết định của Tòa án.

7. Dự thảo án lệ số 32/2026 đã được áp dụng chưa?

Chưa. Ngày thông qua và số quyết định công bố trong dự thảo còn để trống, nên văn bản chưa phải án lệ đã được công bố. Người đọc nên theo dõi thông tin chính thức của Tòa án nhân dân tối cao.

Kết luận

Ký hợp đồng lao động có thời hạn lần 3 không làm hợp đồng chấm dứt khi hết thời hạn ghi trên giấy: hợp đồng thứ ba phải được xác định là không xác định thời hạn, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, theo dự thảo án lệ số 32/2026 chưa được công bố. Doanh nghiệp nên kiểm soát số lần ký hợp đồng, xác định đúng quốc tịch người lao động và tuân thủ căn cứ, thời hạn báo trước khi chấm dứt. Luật Long Phan PMT hỗ trợ rà soát hợp đồng và đại diện giải quyết tranh chấp lao động; quý khách có thể gọi hotline 1900.63.63.87 hoặc xem Dịch vụ luật sư hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Lao động 2019
  • Nghị định 152/2020/NĐ-CP
  • Nghị định 70/2023/NĐ-CP
  • Luật Quốc tịch Việt Nam 2008  (sửa đổi, bổ sung năm 2014 và 2025)
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87