Hướng dẫn viện dẫn án lệ khi khởi kiện tranh chấp sở hữu trí tuệ

Viện dẫn án lệ khi khởi kiện tranh chấp sở hữu trí tuệ chỉ có giá trị khi án lệ đã được công bố và đến thời điểm áp dụng. Tính đến ngày 17/10/2026, trong 90 án lệ đã công bố chưa có án lệ nào về quyền sở hữu trí tuệ; ba dự thảo mới thông qua ngày 24/9/2026 vẫn chờ công bố. Luật Long Phan PMT hướng dẫn cách viện dẫn đúng trong đơn khởi kiện.

Hồ sơ vụ kiện, sổ án lệ và kính lúp minh họa viện dẫn án lệ khi khởi kiện tranh chấp sở hữu trí tuệ
Tính đến 17/10/2026, trong 90 án lệ đã công bố chưa có án lệ nào về sở hữu trí tuệ; ba dự thảo án lệ chưa công bố, khi viện dẫn phải nêu rõ số và tên án lệ.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Dự thảo án lệ chưa phải án lệ: theo Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP (sửa đổi, bổ sung 2025), án lệ là lập luận, phán quyết đã được Hội đồng Thẩm phán lựa chọn và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.
  • Án lệ chỉ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công bố theo khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
  • Khi áp dụng án lệ, Tòa án phải viện dẫn số, tên án lệ và phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án” theo khoản 3 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
  • Đương sự có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025), nên viện dẫn án lệ không thay thế được chứng cứ.

Nội Dung Bài Viết

Tình hình án lệ sở hữu trí tuệ tính đến ngày 17/10/2026

Tính đến ngày 17/10/2026, chưa có án lệ nào về sở hữu trí tuệ được Chánh án công bố. Hội đồng Thẩm phán đã thông qua ba dự thảo án lệ trong lĩnh vực này ngày 24/9/2026 và đang chờ chỉnh lý. Đương sự chưa thể viện dẫn các dự thảo đó như một án lệ.

Số liệu án lệ đã công bố và các đợt gần nhất

Theo tổng hợp trên Thư viện pháp luật cập nhật ngày 29/9/2026, Tòa án nhân dân tối cao đã công bố 90 án lệ, mới nhất là Án lệ số 90/2026/AL về thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Tòa án. Trong số đó không có án lệ nào về quyền tác giả, nhãn hiệu hay sáng chế.

Đợt công bố Văn bản công bố Án lệ Áp dụng từ Có án lệ sở hữu trí tuệ
Cuối năm 2025 Quyết định công bố ngày 25/12/2025 Án lệ số 73/2025/AL đến 82/2025/AL (10 án lệ) 01/02/2026 Không
Giữa năm 2026 Quyết định 162/QĐ-CA ngày 29/5/2026 Án lệ số 83/2026/AL đến 90/2026/AL (8 án lệ) 01/7/2026 Không
Đã thông qua, chờ công bố Phiên họp Hội đồng Thẩm phán ngày 24/9/2026 3 dự thảo án lệ về sở hữu trí tuệ, chưa có số Chưa xác định Có nội dung, nhưng chưa là án lệ

Các đợt này thuộc các lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, doanh nghiệp, đất đai, bảo hiểm và tái thẩm. Người khởi kiện nên kiểm tra lại danh mục chính thức trước khi viện dẫn.

Ba dự thảo án lệ sở hữu trí tuệ được thông qua ngày 24/9/2026

Theo thông tin báo chí về phiên họp toàn thể chiều 24/9/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ba dự thảo án lệ thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Chánh án đề nghị Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học chỉnh lý kỹ thuật rồi trình ban hành quyết định công bố.

  • Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy tính.
  • Nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả khi có chứng cứ ngược lại trong vụ án tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ.
  • Định tội danh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, trong đó phân biệt với tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

Các dự thảo này đã được hội thảo lấy ý kiến ngày 11 và 12/6/2026 và được Hội đồng tư vấn án lệ xem xét ngày 04/9/2026. Nội dung cuối cùng có thể thay đổi sau chỉnh lý, nên không nên trích nguyên văn dự thảo như nguồn có giá trị bắt buộc.

Vì sao dự thảo án lệ chưa thể làm căn cứ khởi kiện?

Theo Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, án lệ phải trải qua hai bước là Hội đồng Thẩm phán lựa chọn và Chánh án công bố. Một dự thảo mới qua bước thảo luận nên chưa mang số hiệu, chưa có quyết định công bố và chưa có ngày áp dụng.

Theo thực tiễn áp dụng, Tòa án không có nghĩa vụ nêu lý do khi không áp dụng một dự thảo, vì dự thảo không thuộc nguồn mà Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP ràng buộc. Đương sự vẫn có thể dùng tư duy pháp lý trong dự thảo để xây dựng lập luận, nhưng phải gắn lập luận đó với điều luật cụ thể.

Cơ sở pháp lý để viện dẫn án lệ trong vụ án sở hữu trí tuệ

Việc viện dẫn án lệ được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán, kết hợp với các nguyên tắc về quyền tự định đoạt và nghĩa vụ chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Hai nhóm quy định này quyết định cách đương sự trình bày án lệ trước Tòa án.

Văn bản hiện hành thay thế quy định áp dụng án lệ năm 2015

Nhiều tài liệu cũ vẫn dẫn Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Theo khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, văn bản này thay thế Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP và có hiệu lực từ ngày 15/7/2019.

Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị quyết 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, và đã có văn bản hợp nhất số 11/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025. Khi viết đơn, đương sự nên dẫn đúng văn bản hiện hành này.

Nghĩa vụ của tòa án khi có án lệ cho tình huống tương tự

Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để các vụ việc có tình huống pháp lý tương tự được giải quyết như nhau. Trường hợp không áp dụng, bản án phải nêu rõ lý do.

Khoản 3 cùng điều quy định Tòa án phải viện dẫn số, tên án lệ cùng tình huống pháp lý và giải pháp pháp lý trong phần “Nhận định của Tòa án”. Quy định này tạo cơ sở để đương sự đề nghị Tòa án giải thích rõ vì sao chấp nhận hoặc từ chối áp dụng án lệ mà mình viện dẫn.

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP chủ yếu ràng buộc Tòa án, không liệt kê đương sự như chủ thể có nghĩa vụ áp dụng án lệ. Tuy vậy, theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền tự định đoạt và có quyền trình bày lập luận hỗ trợ yêu cầu của mình.

  • Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình.
  • Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: đương sự đưa ra yêu cầu phải thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh yêu cầu là có căn cứ.
  • Khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: đơn khởi kiện phải nêu các nội dung chính, trong đó có yêu cầu cụ thể đề nghị Tòa án giải quyết.

Theo thực tiễn áp dụng, án lệ nên được trình bày như lập luận bổ trợ trong phần căn cứ pháp lý của đơn khởi kiện, không đứng độc lập thay cho điều luật nội dung.

Phân biệt án lệ, dự thảo án lệ và bản án thông thường

Ba loại nguồn dưới đây thường bị nhầm lẫn khi soạn hồ sơ, dẫn đến lập luận bị Tòa án bác bỏ ngay từ đầu. Bảng sau giúp phân loại để chọn đúng cách trình bày.

Tiêu chí Án lệ đã công bố Dự thảo án lệ Bản án đã có hiệu lực thông thường
Người ban hành Hội đồng Thẩm phán lựa chọn, Chánh án công bố Cơ quan đề xuất, chưa công bố Tòa án xét xử vụ việc cụ thể
Có số hiệu Có, dạng số/năm/AL Chưa có Không, chỉ có số bản án
Giá trị với Tòa án Phải nghiên cứu, áp dụng; không áp dụng phải nêu lý do Không ràng buộc Không ràng buộc, chỉ có giá trị tham khảo
Cách ghi trong đơn Ghi số, tên, tình huống và giải pháp pháp lý Chỉ nên nêu như lập luận tham khảo Nêu như ví dụ thực tiễn xét xử, không gọi là án lệ
Rủi ro khi viện dẫn Thấp nếu tình huống tương tự Cao, dễ bị cho là viện dẫn sai nguồn Trung bình, dễ bị cho là không liên quan

Phân biệt án lệ đã công bố, dự thảo án lệ và bản án thông thường khi soạn hồ sơ khởi kiện
Án lệ đã công bố có số hiệu và Tòa án phải nghiên cứu, áp dụng; dự thảo chưa có số hiệu, không ràng buộc; bản án thông thường chỉ có giá trị tham khảo.

Quy trình viện dẫn án lệ khi khởi kiện tranh chấp sở hữu trí tuệ từ chuẩn bị hồ sơ đến phiên tòa

Quy trình viện dẫn án lệ gồm bảy bước, đi từ xác định đúng tranh chấp, tra cứu án lệ đã công bố, so sánh tình huống đến trình bày tại phiên tòa. Làm đủ các bước giúp hồ sơ có lập luận chặt chẽ, tránh viện dẫn sai nguồn hoặc sai thời điểm áp dụng.

Bảy bước viện dẫn án lệ khi khởi kiện

  1. Xác định loại tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền. Theo khoản 2 Điều 26 và điểm b khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ có thể là tranh chấp dân sự hoặc kinh doanh, thương mại tùy mục đích lợi nhuận của các bên.
  2. Tóm tắt vấn đề pháp lý cần Tòa án giải quyết, ví dụ cách xác định mức bồi thường, ai phải chứng minh quyền tác giả hay thẩm quyền chấm dứt hiệu lực văn bằng.
  3. Tra cứu án lệ theo vấn đề pháp lý chứ không chỉ theo lĩnh vực, vì án lệ về tố tụng, hợp đồng hay bồi thường có thể phù hợp với vụ sở hữu trí tuệ.
  4. Kiểm tra án lệ đã được công bố chính thức, có số hiệu và đã qua mốc 30 ngày theo khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
  5. So sánh tình huống pháp lý của vụ việc với tình huống trong án lệ, chỉ ra những điểm giống mang tính quyết định.
  6. Ghi vào đơn khởi kiện hoặc bản luận cứ: số và tên án lệ, tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý và lý do vụ việc của mình tương tự.
  7. Chuẩn bị chứng cứ chứng minh các tình tiết tương tự, trình bày tại phiên tòa và đề nghị Tòa án nêu rõ việc áp dụng hoặc không áp dụng án lệ trong bản án.

Bước năm và bước sáu là hai bước dễ sai nhất. Chỉ cần tình tiết cốt lõi khác nhau, Tòa án có thể kết luận không có tình huống pháp lý tương tự và không áp dụng án lệ, dù hai vụ việc cùng thuộc một nhóm tranh chấp.

Cách ghi viện dẫn án lệ trong đơn khởi kiện và bản luận cứ

Phần viện dẫn nên ngắn gọn, đủ bốn thành phần để Tòa án đối chiếu ngay mà không phải tự tra cứu. Nội dung này đặt sau phần căn cứ pháp luật nội dung và trước phần yêu cầu cụ thể của người khởi kiện.

  • Số hiệu và tên án lệ được công bố, kèm quyết định công bố và ngày áp dụng.
  • Tình huống pháp lý của án lệ, tóm tắt trong một đến hai câu.
  • Giải pháp pháp lý mà án lệ xác lập, trích đúng nội dung đã được công bố.
  • Lý do vụ việc của người khởi kiện có tình huống pháp lý tương tự, gắn với chứng cứ đã nộp.

Bảng đối chiếu tình huống pháp lý tương tự

Nếu có từ hai tiêu chí trở lên không khớp, nên dùng án lệ như lập luận tham khảo thay vì căn cứ chính.

Tiêu chí đối chiếu Câu hỏi cần trả lời Dấu hiệu tương tự
Loại quyền Quyền tác giả, nhãn hiệu, sáng chế hay quyền liên quan? Cùng loại quyền hoặc cùng nguyên tắc pháp lý
Hành vi bị tranh chấp Xâm phạm, chuyển giao hay hủy bỏ văn bằng? Bản chất hành vi giống nhau
Tình tiết quyết định Tình tiết nào làm Tòa án đưa ra giải pháp pháp lý? Tình tiết đó có mặt trong vụ việc của bạn
Điều luật áp dụng Có cùng điều luật nội dung được áp dụng không? Cùng điều hoặc điều tương ứng sau sửa đổi
Chứng cứ Bạn có chứng cứ chứng minh tình tiết tương tự không? Có chứng cứ hợp lệ, đã nộp cho Tòa án
Quy trình 7 bước viện dẫn án lệ khi khởi kiện, từ xác định loại tranh chấp đến chuẩn bị chứng cứ
Bảy bước từ xác định loại tranh chấp, tra cứu và kiểm tra án lệ đã công bố, so sánh tình huống đến ghi vào đơn khởi kiện và chuẩn bị chứng cứ.

Viện dẫn án lệ lĩnh vực khác và các trường hợp ngoại lệ

Vì chưa có án lệ sở hữu trí tuệ đã công bố, người khởi kiện có thể xem xét án lệ thuộc lĩnh vực khác nếu tình huống pháp lý tương tự. Việc này có giới hạn rõ ràng và cần cân nhắc theo từng vụ việc để tránh bị đánh giá là viện dẫn lạc đề.

Khi nào án lệ ngoài lĩnh vực sở hữu trí tuệ vẫn dùng được

Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP gắn việc áp dụng với tình huống pháp lý tương tự chứ không giới hạn theo tên lĩnh vực. Vì vậy, án lệ về tố tụng, hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại có thể được xem xét nếu vấn đề pháp lý cốt lõi trùng khớp.

Ví dụ, Án lệ số 86/2026/AL về sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ kháng nghị tái thẩm là án lệ tố tụng, nên về nguyên tắc có thể liên quan đến mọi loại vụ án dân sự, trong đó có tranh chấp sở hữu trí tuệ. Việc có áp dụng được hay không còn phụ thuộc vào nội dung cụ thể của án lệ và tình tiết vụ việc.

Theo thực tiễn áp dụng, nên đọc toàn văn án lệ trên cổng thông tin án lệ của Tòa án nhân dân tối cao trước khi viện dẫn, vì tình huống và giải pháp pháp lý nằm ở nội dung chi tiết chứ không ở tên án lệ.

Ngoại lệ thứ nhất: vụ việc phát sinh trước thời điểm án lệ có hiệu lực áp dụng

Khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP quy định án lệ được áp dụng sau 30 ngày kể từ ngày công bố. Nếu Tòa án xét xử trước mốc này, đương sự không thể yêu cầu Tòa án có nghĩa vụ áp dụng án lệ đó.

Lời khuyên cho khách hàng trong trường hợp này là vẫn nên trình bày nguyên tắc pháp lý của án lệ như một lập luận bổ trợ gắn với điều luật. Cách làm này giúp Tòa án xem xét nội dung mà không vướng ở vấn đề thời điểm áp dụng.

Ngoại lệ thứ hai: tình huống chỉ tương tự một phần

Một án lệ thường giải quyết một vấn đề pháp lý hẹp. Nếu vụ việc của bạn có thêm tình tiết khác, ví dụ nhiều chủ thể đồng sở hữu hoặc có hợp đồng chuyển quyền kèm theo, Tòa án có thể cho rằng tình huống không tương tự hoàn toàn.

Lời khuyên cho khách hàng là tách vấn đề pháp lý thành từng phần nhỏ và chỉ viện dẫn án lệ cho phần nào thật sự trùng khớp. Phần còn lại cần được chứng minh bằng điều luật nội dung và chứng cứ cụ thể, thay vì mở rộng phạm vi án lệ quá mức.

Ngoại lệ thứ ba: tranh chấp có yếu tố hình sự hoặc hành chính

Một số tranh chấp sở hữu trí tuệ đồng thời phát sinh vấn đề hình sự, như định tội danh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hoặc vấn đề hành chính, như khiếu kiện quyết định về văn bằng bảo hộ. Mỗi loại vụ án có tố tụng riêng.

Lời khuyên cho khách hàng là xác định trước vụ việc đang theo đuổi là dân sự, hành chính hay hình sự để chọn đúng nhóm án lệ và đúng thủ tục. Viện dẫn án lệ dân sự trong vụ án hình sự hoặc ngược lại thường không đạt hiệu quả mong muốn.

Căn cứ pháp luật nội dung sau lần sửa đổi năm 2025

Vì chưa có án lệ sở hữu trí tuệ đã công bố, luật nội dung là nền tảng chính của đơn khởi kiện. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025) đã được sửa đổi năm 2025, phần sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.

Thẩm quyền xử lý và các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm

Theo khoản 1 Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Tòa án và người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đều có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các biện pháp xử lý, trong đó phần sửa đổi năm 2025 bổ sung biện pháp buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đối với nội dung, tài khoản, trang điện tử, ứng dụng liên quan đến hành vi xâm phạm, và buộc tiêu hủy hàng giả mạo nhãn hiệu, hàng sao chép lậu.

Mức bồi thường thiệt hại và vai trò của lập luận án lệ

Theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, nếu không xác định được thiệt hại vật chất theo các căn cứ khác, Tòa án quyết định mức bồi thường tùy theo mức độ thiệt hại nhưng không quá một tỷ đồng.

Khoản 2 Điều 205 cho phép nguyên đơn chứng minh được thiệt hại tinh thần yêu cầu bồi thường trong khoảng từ mười đến một trăm lần mức lương cơ sở, tùy mức độ thiệt hại. Đây là điểm mà dự thảo án lệ về bồi thường xâm phạm quyền tác giả phần mềm có thể gợi mở cách lập luận khi án lệ được công bố.

Theo thực tiễn áp dụng, khó khăn lớn nhất ở nhóm vụ việc này là chứng minh thiệt hại do xâm phạm và giá trị kinh tế của đối tượng bị xâm phạm. Người khởi kiện nên chuẩn bị chứng cứ về giá bán, doanh thu, số lượng sản phẩm xâm phạm và chi phí hợp lý ngay từ đầu.

Với hành vi xâm phạm diễn ra trước ngày 01/4/2026, nên xem xét cả thời điểm xảy ra hành vi và thời điểm Tòa án thụ lý để xác định quy định áp dụng.

Kinh nghiệm thực tế khi viện dẫn án lệ trong vụ kiện sở hữu trí tuệ

Trong thực tế xử lý các vụ tranh chấp sở hữu trí tuệ, khách hàng thường tìm đến khi đã mất doanh thu vì hàng nhái. Họ hỏi ngay có án lệ nào để thắng không, trong khi thắng thua thường nằm ở chứng cứ và việc xác định đúng chủ thể quyền.

Một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là lấy tin báo chí về dự thảo án lệ làm căn cứ chính trong đơn khởi kiện. Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, Tòa án thường chỉ ghi nhận phần này như ý kiến tham khảo, còn yêu cầu bổ sung chứng cứ về quyền và về hành vi xâm phạm.

Điều thường chỉ nhận ra khi đã xử lý nhiều hồ sơ là Tòa án rất chú ý đến tình tiết cụ thể: ai là chủ thể quyền, bằng chứng thể hiện quyền ra sao, hành vi xâm phạm được ghi nhận bằng phương thức nào. Lập luận án lệ hay đến đâu cũng không bù được chứng cứ yếu về những điểm này.

Với tranh chấp quyền tác giả, khách hàng hay thiếu bằng chứng về thời điểm sáng tạo và quá trình tạo ra tác phẩm, nhất là phần mềm do nhiều người cùng phát triển. Chúng tôi thường khuyên lưu giữ mã nguồn gốc, lịch sử phiên bản, hợp đồng thuê phát triển và thỏa thuận chuyển giao quyền ngay từ khi dự án bắt đầu.

Với tranh chấp bồi thường, sai lầm thường gặp khác là chỉ nêu con số yêu cầu mà không có căn cứ tính toán. Một hồ sơ có bảng tính thiệt hại gắn với chứng cứ, kèm lập luận về mức bồi thường theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, thường dễ được Tòa án xem xét hơn một con số không có nền tảng.

Về chiến lược, chúng tôi thường soạn song song hai lớp lập luận. Lớp thứ nhất dựa hoàn toàn vào luật nội dung và chứng cứ để hồ sơ đứng vững dù không có án lệ. Lớp thứ hai là lập luận bổ trợ về nguyên tắc pháp lý, sẵn sàng chuyển thành viện dẫn án lệ khi án lệ được công bố và qua mốc 30 ngày.

Câu hỏi thường gặp về viện dẫn án lệ khi khởi kiện tranh chấp sở hữu trí tuệ

Dưới đây là những câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi muốn dùng án lệ trong vụ kiện sở hữu trí tuệ. Các câu trả lời dựa trên quy định đã kiểm tra tại ngày 17/10/2026. Vụ việc cụ thể vẫn cần được đánh giá riêng.

1. Hiện nay có án lệ nào về sở hữu trí tuệ để viện dẫn không?

Chưa có. Tính đến ngày 17/10/2026, trong 90 án lệ đã công bố chưa có án lệ nào về quyền tác giả, nhãn hiệu hay sáng chế. Ba dự thảo án lệ về sở hữu trí tuệ mới được Hội đồng Thẩm phán thông qua ngày 24/9/2026 và chưa có quyết định công bố. Theo Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, chỉ án lệ đã công bố mới là án lệ.

2. Có thể viện dẫn dự thảo án lệ trong đơn khởi kiện không?

Không nên coi dự thảo là án lệ. Dự thảo chưa có số hiệu, chưa có quyết định công bố nên không thuộc nguồn mà khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP ràng buộc Tòa án. Bạn chỉ nên dùng nội dung dự thảo làm lập luận tham khảo và luôn gắn với điều luật nội dung cụ thể.

3. Án lệ có hiệu lực áp dụng từ khi nào?

Theo khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công bố. Ví dụ, các án lệ công bố theo Quyết định 162/QĐ-CA ngày 29/5/2026 được áp dụng từ ngày 01/7/2026 theo quyết định này.

4. Tòa án không áp dụng án lệ tôi viện dẫn thì sao?

Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, khi có tình huống pháp lý tương tự mà không áp dụng án lệ, Tòa án phải nêu rõ lý do trong bản án. Nếu không đồng ý, bạn có thể kháng cáo trong thời hạn 15 ngày theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và nêu rõ nội dung này.

5. Mức bồi thường tối đa khi không xác định được thiệt hại là bao nhiêu?

Theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, nếu không xác định được thiệt hại vật chất theo các căn cứ khác, Tòa án quyết định mức bồi thường tùy mức độ thiệt hại nhưng không quá một tỷ đồng. Phần sửa đổi này có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.

6. Tranh chấp sở hữu trí tuệ nộp đơn tại Tòa án nào?

Theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền Tòa án, trừ trường hợp thuộc điểm b khoản 1 Điều 30 là tranh chấp kinh doanh, thương mại giữa các bên đều có mục đích lợi nhuận. Cấp Tòa án cụ thể phụ thuộc tính chất vụ việc và yếu tố nước ngoài, nên cần xác định trước khi nộp đơn.

Kết luận

Viện dẫn án lệ khi khởi kiện tranh chấp sở hữu trí tuệ chỉ hiệu quả khi án lệ đã công bố, đã qua mốc áp dụng và có tình huống tương tự. Đến ngày 17/10/2026, chưa có án lệ sở hữu trí tuệ nào được công bố, nên luật nội dung và chứng cứ vẫn là nền tảng. Nếu bạn đang chuẩn bị khởi kiện hoặc bị kiện về quyền tác giả, nhãn hiệu, sáng chế, hãy liên hệ Luật Long Phan PMT qua hotline 1900.63.63.87 để được đánh giá hồ sơ và xây dựng lập luận phù hợp, sẵn sàng bổ sung án lệ khi được công bố. Xem thêm Dịch vụ luật sư hỗ trợ sở hữu trí tuệ của chúng tôi.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87