Toàn tập mức phạt tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản

Mức phạt tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản càng được cần hiểu rõ khi các thủ đoạn chiếm đoạt tài khoản ngân hàng, làm giả thẻ tín dụng và lừa đảo qua sàn thương mại điện tử gia tăng trên không gian mạng. Nhiều bị hại lẫn người bị điều tra đều lúng túng khi cần xác định tội danh HS đúng theo Bộ luật Hình sự, dẫn đến áp dụng sai khung hình phạt hoặc bỏ lỡ quyền bào chữa. Luật Long Phan PMT phân tích cấu thành tội phạm, các khung hình phạt theo giá trị tài sản chiếm đoạt và hướng xử lý cho từng nhóm đối tượng liên quan.

Mức phạt tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản và các căn cứ xác định.
Điều 290 quy định các hành vi chiếm đoạt qua mạng và mức hình phạt có thể lên đến 20 năm tù.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản chỉ được áp dụng khi hành vi không thuộc tội trộm cắp tài sản hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo đoạn mở đầu khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Mức hình phạt cao nhất của tội danh này là phạt tù đến 20 năm, theo khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền đến 100.000.000 đồng và cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề, theo khoản 5 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thuộc khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 290, theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản là gì?

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là tội phạm được quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015. Theo đó, người sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 290 thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu hành vi không thuộc trường hợp quy định tại Điều 173 hoặc Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Trong thực tế, hành vi này có thể được thực hiện thông qua việc sử dụng trái phép thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản hoặc thực hiện các thủ đoạn gian dối trong giao dịch điện tử để chiếm đoạt tài sản. Việc xác định tội danh phải căn cứ vào phương thức thực hiện hành vi, công cụ được sử dụng và các dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể, không chỉ dựa vào việc tài sản bị chiếm đoạt qua môi trường mạng.

Theo khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, các hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh gồm:

  • Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
  • Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
  • Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

Lưu ý là không phải mọi hành vi chiếm đoạt tài sản qua Internet đều bị xử lý theo Điều 290. Vì vậy, khi định tội cần xác định cụ thể người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn nào và hành vi đó có thuộc một trong các trường hợp được liệt kê tại Điều 290 hay không.

Phân biệt với tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được áp dụng khi hành vi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 173 hoặc Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Vì vậy, việc phân biệt chủ yếu dựa vào phương thức chiếm đoạt và thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 có đặc trưng là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để làm cho người bị hại tin tưởng và tự nguyện giao tài sản, sau đó chiếm đoạt tài sản. Trong khi đó, tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 có đặc trưng là người phạm tội lén lút chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý.

Đối với Điều 290, hành vi chiếm đoạt được thực hiện thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử và thuộc một trong các phương thức mà điều luật quy định, chẳng hạn như sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng; sử dụng thẻ ngân hàng giả; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản nhằm chiếm đoạt tài sản; hoặc thực hiện các hành vi lừa đảo trong một số hoạt động giao dịch điện tử được điều luật liệt kê.

Do đó, không phải mọi hành vi chiếm đoạt tài sản qua Internet đều thuộc Điều 290. Ví dụ, nếu người phạm tội sử dụng mạng xã hội để đưa thông tin gian dối khiến bị hại tự nguyện chuyển tiền thì cần xem xét dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174; nếu người phạm tội bí mật lấy tài sản của người khác thì cần xem xét Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173. Chỉ khi hành vi phù hợp với các dấu hiệu của Điều 290 và không thuộc Điều 173, Điều 174 thì mới đặt vấn đề xử lý về tội danh này.

Trên thực tế, việc xác định tội danh có thể phức tạp khi hành vi vừa được thực hiện trên môi trường mạng vừa có yếu tố gian dối, truy cập trái phép hoặc sử dụng thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng. Vì vậy, cần phân tích toàn bộ quá trình thực hiện hành vi, phương thức chiếm đoạt, đối tượng bị tác động và vai trò của mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để xác định đúng tội danh.

Phân biệt tội chiếm đoạt qua mạng với trộm cắp và lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Việc xác định tội danh cần xem xét phương thức chiếm đoạt, thủ đoạn thực hiện và vai trò của phương tiện điện tử.

Cấu thành tội phạm tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản

Để xác định một hành vi có cấu thành tội danh này hay không, cần xem xét đầy đủ bốn yếu tố: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Thiếu một trong bốn yếu tố này, hành vi có thể không đủ căn cứ để xử lý hình sự theo Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015. Các nội dung dưới đây phân tích cụ thể từng yếu tố dựa trên cấu trúc điều luật.

Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội danh này là quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Đồng thời, hành vi còn xâm phạm trật tự quản lý an ninh, an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội danh này là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này ở mọi khung hình phạt.

Theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Riêng người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thuộc danh mục điều luật được liệt kê, trong đó có Điều 290. Vì khoản 3 Điều 290 (khung hình phạt tù 07-15 năm) được xếp vào loại tội phạm rất nghiêm trọng và khoản 4 Điều 290 (khung hình phạt tù 12-20 năm) được xếp vào loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi thỏa mãn tình tiết định khung tại khoản 3 hoặc khoản 4 của điều luật này.

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội danh này thể hiện qua năm nhóm hành vi cụ thể được liệt kê tại khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015. Người phạm tội chỉ cần thực hiện một trong năm hành vi này nhằm chiếm đoạt tài sản là đã đủ căn cứ cấu thành tội phạm.

Theo khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, năm nhóm hành vi khách quan bao gồm:

  • Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
  • Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
  • Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

Tội phạm có cấu thành hình thức, nghĩa là tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi trên nhằm chiếm đoạt tài sản, không phụ thuộc việc đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa.

Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội danh này là lỗi cố ý và mục đích chiếm đoạt tài sản.

Người phạm tội phải nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhận thức được việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt và hướng tới mục đích chiếm đoạt tài sản.

Nếu không có mục đích chiếm đoạt tài sản, hành vi có thể được xem xét theo các tội phạm khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông hoặc theo quy định pháp luật khác tùy thuộc vào hành vi cụ thể.

Các khung hình phạt tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản

Tội danh này có 04 khung hình phạt chính, từ cải tạo không giam giữ đến 20 năm tù, được phân định chủ yếu theo giá trị tài sản chiếm đoạt, mức thiệt hại gây ra và số lượng thẻ ngân hàng giả liên quan.

Theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, các khung hình phạt được quy định như sau:

Khung Mức hình phạt Tình tiết định khung chính
Khoản 1 Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Thực hiện một trong 05 hành vi tại khoản 1, chưa có tình tiết định khung tăng nặng
Khoản 2 Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm Có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm nguy hiểm; chiếm đoạt tài sản từ 50.000.000 đến dưới 200.000.000 đồng; gây thiệt hại từ 50.000.000 đến dưới 300.000.000 đồng; thẻ giả từ 50 đến dưới 200 thẻ
Khoản 3 Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm Chiếm đoạt tài sản từ 200.000.000 đến dưới 500.000.000 đồng; gây thiệt hại từ 300.000.000 đến dưới 500.000.000 đồng; thẻ giả từ 200 đến dưới 500 thẻ
Khoản 4 Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm Chiếm đoạt tài sản từ 500.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng trở lên; thẻ giả từ 500 thẻ trở lên

Có thể thấy, giá trị tài sản chiếm đoạt, mức thiệt hại và số lượng thẻ giả là những căn cứ quan trọng để xác định khung hình phạt theo Điều 290. Tuy nhiên, việc xác định khung hình phạt phải căn cứ vào đúng tình tiết định khung được quy định trong điều luật, không chỉ dựa vào tổng giá trị các giao dịch hoặc thiệt hại được trình bày trong vụ án.

Hình phạt bổ sung áp dụng kèm theo hình phạt chính

Ngoài hình phạt chính theo từng khung, người phạm tội còn có thể bị áp dụng đồng thời một hoặc nhiều hình phạt bổ sung. Các hình phạt này không thay thế hình phạt chính mà áp dụng song song để tăng tính răn đe.

Theo khoản 5 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tòa án có toàn quyền lựa chọn áp dụng một, một số hoặc toàn bộ các hình phạt bổ sung này tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân người phạm tội trong từng vụ án cụ thể.

Kinh nghiệm thực tế xử lý các vụ án sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận liên quan đến tội danh này, một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là tự ý thỏa thuận bồi thường hoặc thừa nhận toàn bộ số tiền cơ quan điều tra nêu ra mà chưa yêu cầu đối chiếu lại cách tính giá trị tài sản chiếm đoạt. Việc này có thể khiến người bị điều tra bị áp khung hình phạt cao hơn mức đáng lẽ phải chịu, trong khi việc định giá lại — đặc biệt với các giao dịch qua nhiều tài khoản trung gian hoặc ví điện tử — hoàn toàn có thể làm thay đổi kết quả xác định khung hình phạt.

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, cơ quan điều tra thường soi kỹ nhất ba nhóm dữ liệu: lịch sử giao dịch điện tử gắn với tài khoản nghi vấn, địa chỉ IP và thiết bị truy cập tại thời điểm thực hiện giao dịch, và dòng tiền qua các tài khoản trung gian dùng để rút hoặc chuyển tiếp tài sản chiếm đoạt. Đây cũng chính là những điểm mà bị hại nên chủ động cung cấp càng sớm càng tốt để rút ngắn thời gian xác minh.

Một vấn đề khác cần đặc biệt lưu ý là xác định đúng tội danh. Điều 290 chỉ được áp dụng khi hành vi thuộc một trong các trường hợp mà điều luật quy định và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 173 hoặc Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, khi hành vi được thực hiện qua Internet hoặc phương tiện điện tử, không thể chỉ căn cứ vào việc tài sản bị chiếm đoạt trên môi trường mạng để kết luận người thực hiện phạm tội theo Điều 290. Cần phân tích cụ thể thủ đoạn chiếm đoạt, cách thức tác động đến tài sản và vai trò của mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử trong hành vi đó.

Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, người bị buộc tội hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cần tập trung rà soát tội danh được áp dụng, giá trị tài sản chiếm đoạt, mức thiệt hại, dữ liệu điện tử và các tình tiết định khung. Việc đánh giá đầy đủ những nội dung này giúp bảo đảm việc xác định trách nhiệm hình sự và khung hình phạt được thực hiện trên cơ sở các chứng cứ hợp pháp và đúng quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự

Lưu ý pháp lý dành cho bị hại và người bị điều tra, truy tố

Người liên quan đến vụ việc chiếm đoạt tài sản qua mạng thường thuộc hai nhóm có quyền và nghĩa vụ khác nhau: bị hại cần tố giác tội phạm đúng thủ tục để bảo vệ tài sản, còn người bị điều tra, truy tố cần thực hiện đầy đủ quyền bào chữa để tránh bị xử lý oan sai hoặc quá mức. Mỗi nhóm cần lưu ý những nội dung pháp lý riêng dưới đây.

Lưu ý khi là bị hại — tố giác tội phạm

Cá nhân, tổ chức phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm có quyền tố giác, báo tin về tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền, đồng thời cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi và thiệt hại phát sinh. Theo Điều 144 và Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định.

Theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn kiểm tra, xác minh và ra quyết định giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn này có thể được kéo dài theo các điều kiện và giới hạn luật định. Vì vậy, người bị thiệt hại nên cung cấp sớm lịch sử giao dịch, chứng từ chuyển tiền, thông tin tài khoản, dữ liệu giao dịch điện tử và các tài liệu khác có liên quan.

>>> Xem thêm: Trình tự, thủ tục giải quyết tố giác tội phạm

Lưu ý khi bị điều tra, truy tố

Người bị điều tra, truy tố về tội danh này có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, đồng thời được suy đoán là không có tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.

Theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội theo trình tự, thủ tục luật định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Bên cạnh đó, Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 bảo đảm người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho họ thực hiện đầy đủ quyền này.

Lưu ý pháp lý cho bị hại và người bị điều tra trong vụ án chiếm đoạt tài sản qua mạng.
Bị hại cần cung cấp chứng cứ liên quan, còn người bị điều tra có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ vụ án sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến tội danh này với các công việc sau:

  • Rà soát hồ sơ và xác định tội danh: Phân tích hành vi, phương thức thực hiện, chứng cứ điện tử và mục đích chiếm đoạt; đối chiếu dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 290 Bộ luật Hình sự và phân biệt với tội trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • Đánh giá khung hình phạt và trách nhiệm pháp lý: Rà soát giá trị tài sản chiếm đoạt, thiệt hại, số lượng thẻ ngân hàng liên quan, vai trò của từng người và các tình tiết định khung để xác định căn cứ pháp lý áp dụng.
  • Bào chữa cho người bị buộc tội: Luật sư tham gia từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử; nghiên cứu hồ sơ, tham gia hỏi cung và các hoạt động tố tụng theo quy định, kiểm tra chứng cứ buộc tội – gỡ tội và xây dựng phương án bào chữa phù hợp.
  • Bảo vệ quyền lợi cho bị hại: Tư vấn tố giác tội phạm, hỗ trợ chuẩn bị chứng cứ về giao dịch, tài khoản và thiệt hại; tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và yêu cầu hoàn trả tài sản, bồi thường thiệt hại theo quy định.
  • Tham gia giải quyết vụ án với cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án theo tư cách tố tụng phù hợp; theo dõi quá trình giải quyết vụ án và thực hiện các quyền kiến nghị, đề nghị, khiếu nại cần thiết để bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về mức phạt tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi liên quan đến tội danh này. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 hiện hành.

1. Chiếm đoạt bao nhiêu tiền qua mạng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Theo khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản không quy định mức giá trị tài sản tối thiểu để cấu thành tội phạm. Người thực hiện một trong các hành vi được liệt kê tại khoản 1, với mục đích chiếm đoạt tài sản và không thuộc trường hợp bị xử lý về tội trộm cắp tài sản hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Giá trị tài sản chủ yếu được sử dụng để xác định khung hình phạt trong các khoản tiếp theo.

2. Dùng thông tin thẻ ngân hàng của người khác mua hàng online có bị xử lý hình sự không?

Có thể. Theo điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, việc sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ thuộc một trong các hành vi được quy định tại Điều 290. Việc xử lý hình sự còn phụ thuộc vào việc hành vi thực tế có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm và không thuộc trường hợp phải định tội danh khác hay không.

3. Tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản khác tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở điểm nào?

Sự khác biệt nằm ở thủ đoạn thực hiện. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 đòi hỏi người phạm tội đưa ra thông tin gian dối trực tiếp khiến nạn nhân tự nguyện giao tài sản. Trong khi đó, theo đoạn mở đầu khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, quy định này áp dụng cho các thủ đoạn công nghệ như truy cập trái phép, dùng thông tin thẻ đánh cắp hoặc thẻ giả, không có yếu tố gian dối trực diện với chủ tài sản.

4. Người dưới 18 tuổi phạm tội này bị xử lý thế nào?

Theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về tội này ở mọi khung hình phạt. Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi thuộc khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 290, tức khung hình phạt từ 07 năm tù trở lên.

5. Bị hại cần làm gì khi phát hiện tài khoản bị chiếm đoạt qua mạng?

Bị hại nên tố giác ngay đến Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát theo Điều 144 và Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đồng thời giữ lại toàn bộ tin nhắn, email, lịch sử giao dịch điện tử liên quan để làm chứng cứ. Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết tố giác trong thời hạn 20 ngày, có thể gia hạn với vụ việc phức tạp.

Kết luận

Tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản có mức hình phạt nghiêm khắc, từ cải tạo không giam giữ đến 20 năm tù, nhưng việc xác định đúng tội danh và khung hình phạt phụ thuộc rất nhiều vào cách phân tích thủ đoạn thực hiện, giá trị tài sản chiếm đoạt và chứng cứ điện tử thu thập được. Dù là bị hại cần bảo vệ quyền lợi hay người bị điều tra cần bảo đảm quyền bào chữa, việc có luật sư tham gia sớm đều giúp quá trình giải quyết vụ việc diễn ra đúng trình tự pháp luật. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ đánh giá hồ sơ và tư vấn phương án xử lý phù hợp; quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , ,

Vũ Viết Năng

Luật sư Vũ Viết Năng nguyên là Chánh án, Thẩm phán TAND huyện Hải Hậu, Nam Định. Hiện là Luật sư Cộng sự của Công ty Luật Long Phan PMT. Luật sư có 35 năm kinh nghiệm trong công tác xét xử, chuyên môn trong các lĩnh vực Hành chính, dân sự, hợp đồng. Luật sư luôn sẵn sàng tư vấn pháp lí miễn phí cho các đối tượng khó khăn và là điểm tựa để thân chủ đặt niềm tin khi đang gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87