Hướng dẫn xử lý khi di chúc bị thất lạc

0

Hướng dẫn cách xử lý khi di chúc bị thất lạc có thể gây ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế. Di chúc là văn bản thể hiện ý chí của người có tài sản trước khi chết nhằm phân chia tài sản đó. Tuy nhiên trong một số trường hợp, di chúc bị thất lạc do nhiều nguyên nhân khác nhau như thiên tai, trộm cắp…Như vậy, khi đó chúng ta sẽ giải quyết di sản của người chết để lại như thế nào?

Di chúc cha mẹ để lại bị thất lạc thì di sản được chia theo quy định của pháp luật

Chia di sản thừa kế theo pháp luật khi di chúc bị thất lạc

Khi di chúc cha mẹ để lại bị thất lạc, chúng ta không còn có căn cứ để chia di sản thừa kế theo ý nguyện của người để lại di sản. Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 642 BLDS 2015 có những hướng giải quyết sau:

  • Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.
  • Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.
  • Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.

Khi di chúc thất lạc thì di sản của người chết để lại sẽ được chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì có ba hàng thừa kế theo pháp luật:

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Di sản thừa kế được chia theo nguyên tắc sau:

Những người cùng chung hàng thừa kế được chia phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Di chúc thất lạc tìm lại được xử lý như thế nào

Di chúc bị thất lạc tuy nhiên sau đó tìm lại được, có nội dung chứng minh được ý chí, nguyện vọng của người để lại di sản sẽ được giải quyết theo quy định tại khoản 2,3 Điều 642 BLDS 2015:

Phát sinh tranh chấp chia thừa kế cha mẹ để lại do di chuc bị thất lạc
  • Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.
  • Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.

Di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc

Trường hợp di sản thừa kế chưa được chia và tìm lại được di chúc bị thất lạc thì di sản sẽ được chia theo nội dung quy định trong di chúc.

Khi đó sẽ phát sinh ra nhiều vấn đề như:

  • Di chúc có hợp pháp hay không;
  • Hiệu lực của bản di chúc.

Khi tìm thấy di chúc và chia tài sản theo ý chí của người để lại di sản thì điều đầu tiên phải quan tâm đến đó chính là tính pháp lý của di chúc. Di chúc có được lập đúng với quy định của pháp luật hay không.

Căn cứ quy định tại Điều 630 BLDS quy định về điều kiện để di chúc hợp pháp:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
  • Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
  • Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 630 BLDS 2015

Di chúc cần phải tuân thủ chặt chẽ những quy định đối với những trường hợp cần phải công chứng, chứng thực hay cần có người làm chứng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Một bản di chúc được lập ra không phải lúc nào toàn bộ nội dung của nó cũng có hiệu lực kể từ thời điểm người để lại di sản chết. Có những trường quy định tại Điều 643 BLDS 2015 về những trường hợp di chúc không có hiệu lực hoặc chỉ có hiệu lực một phần khi di sản để lại không còn hoặc còn một phần tại thời điểm mở thừa kế.

Di chúc phải tuân thủ những quy định về nội dung cũng như hình thức

Như vậy, khi di chúc bị thất lạc mà tìm lại được thì phải tiến hành chia di sản theo nội dung di chúc khi mà di sản thừa kế đó chưa được chia. Ngoài những phân tích phía trên, thì di sản thừa kế sẽ được chia cho những người được theo ý chí, nguyện vọng của người để lại di chúc.

Trường hợp những người như con chưa thành niên, vợ, cha, mẹ, con thành niên mà không có khả năng lao động mà không được cho hưởng di sản theo di chúc hoặc được cho hưởng nhưng ít hơn 2/3 phần của một người hưởng di sản nếu chia thừa kế theo pháp luật thì những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015 về thừa kế không theo nội dung di chúc.

Đã tiến hành chia di sản mà tìm lại được di chúc

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 642 BLDS 2015, trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.

Căn cứ quy định tại Điều 623 BLDS 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản được quy định như sau:

  • Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
  • Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
  • Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
  • Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Trong khoảng thời gian này, khi có yêu cầu của những người được thừa kế theo di chúc thì dù cho di sản đã được chia theo quy định về thừa kế theo pháp luật thì vẫn phải chia lại di sản theo nội dung của di chúc đã thất lạc mà tìm lại được để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế theo di chúc.

Trên đây là tư vấn hướng giải quyết, thủ tục liên quan đến vấn đề di chúc thất lạc. Mọi thắc mắc, tranh chấp thừa kế phát sinh xin liên hệ hotline để được tư vấn chi tiết và cụ thể. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết./.

Scores: 4.1 (20 votes)

Luật sư: Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. Với 7 năm kinh nghiệm của mình đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý của khách hàng.

Trả lời

Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai.
Chúng tôi sẽ phản hồi giải đáp thông tin bình luận của bạn trên website, email, điện thoại, chậm nhất sau 24h tiếp nhận. Chân thành cảm ơn!

  Hotline: 1900.63.63.87