Hướng dẫn phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp từ đất

Phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp là quyền của doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân khi có căn cứ cho rằng cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng sai công thức, sai thời điểm định giá đất hoặc tính sai số năm vi phạm trong quyết định xử phạt vi phạm thủ tục hành chính về đất đai. Luật Long Phan PMT nhận thấy đây là nội dung phát sinh khiếu nại khá phổ biến kể từ khi Nghị định 123/2024/NĐ-CP có hiệu lực, bởi công thức tính số lợi bất hợp pháp gắn trực tiếp với giá đất, loại đất và mốc thời gian vi phạm — những yếu tố rất dễ bị cơ quan xử phạt xác định sai trên thực tế. Bài viết dưới đây phân tích công thức tính theo quy định hiện hành, các sai sót thường gặp và thủ tục khiếu nại tố cáo để người bị xử phạt bảo vệ quyền lợi đúng trình tự, đúng thời hạn.

Hướng dẫn phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp từ đất khi quyết định xử phạt có sai sót.
Người bị xử phạt cần xác định đúng sai sót, chuẩn bị tài liệu chứng minh và thực hiện khiếu nại hoặc khởi kiện đúng thời hạn.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Số lợi bất hợp pháp trong lĩnh vực đất đai được xác định theo công thức riêng cho từng nhóm hành vi vi phạm căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
  • Người bị xử phạt có quyền khiếu nại quyết định xử phạt trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định, theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011.
  • Trong thời gian giải quyết khiếu nại hoặc khởi kiện, người bị xử phạt vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, trừ trường hợp được tạm đình chỉ thi hành theo khoản 3 Điều 15 và khoản 1 Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
  • Cách xác định số lợi bất hợp pháp tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 281/2026/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 31/8/2026, bổ sung quy định khấu trừ khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm.

Cách tính số lợi bất hợp pháp theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP

Số lợi bất hợp pháp là số lợi tính thành tiền mà tổ chức, cá nhân có được từ việc sử dụng đất sau vi phạm, phải nộp vào ngân sách nhà nước theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Cách xác định cụ thể phụ thuộc vào nhóm hành vi vi phạm, được quy định chi tiết tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này. Việc đối chiếu đúng công thức áp dụng cho từng hành vi là bước đầu tiên để xác định có căn cứ phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp hay không. Nếu hành vi vi phạm do nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện trên một thửa đất, số lợi bất hợp pháp phải nộp được chia đều cho các chủ thể cùng vi phạm theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP).

Công thức tính đối với hành vi sử dụng đất sai mục đích

Công thức áp dụng cho các hành vi sử dụng đất sai mục đích quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11 và 12 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, tính bằng chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất trước và sau vi phạm. Đây là nhóm hành vi phổ biến nhất trong thực tế xử phạt đất đai của hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp.

Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, số lợi bất hợp pháp được xác định như sau:

Số lợi bất hợp pháp = (Giá trị quyền sử dụng đất theo loại đất sau vi phạm − Giá trị quyền sử dụng đất theo loại đất trước vi phạm) x Số năm vi phạm, trong đó mỗi giá trị quyền sử dụng đất được tính bằng diện tích đất vi phạm nhân giá đất theo bảng giá đất.

Trong đó:

  • Diện tích đất và giá đất được xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.
  • Loại đất trước khi vi phạm xác định theo Điều 10 Luật Đất đai 2024; loại đất sau khi vi phạm xác định theo hiện trạng tại thời điểm lập biên bản.
  • Số năm vi phạm tính từ thời điểm sử dụng đất sang mục đích khác đến thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.

Công thức tính đối với hành vi lấn đất, chiếm đất

Đối với hành vi lấn đất hoặc chiếm đất quy định tại Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, số lợi bất hợp pháp được tính trực tiếp trên giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đã lấn hoặc chiếm, không so sánh chênh lệch như nhóm sử dụng sai mục đích.

Theo điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, số lợi bất hợp pháp = Diện tích đất vi phạm x Giá đất theo bảng giá đất x Số năm vi phạm.

Trong đó:

  • Diện tích và giá đất được xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính;
  • Loại đất vi phạm là loại đất theo hiện trạng sử dụng tại thời điểm đó; số năm vi phạm tính từ thời điểm lấn, chiếm đến thời điểm lập biên bản. Trường hợp diện tích lấn, chiếm chưa có giá trong bảng giá đất, cơ quan có thẩm quyền lấy giá đất của thửa đất cùng loại ở vị trí gần nhất để xác định số lợi bất hợp pháp.

Trong thực tiễn xử lý các vụ việc lấn, chiếm đất, việc chưa có giá đất tương ứng trong bảng giá đất là tình huống ngoại lệ khá thường gặp, đặc biệt ở khu vực đất chưa sử dụng hoặc đất có nguồn gốc phức tạp. Với những trường hợp này, người bị xử phạt nên yêu cầu cơ quan xử phạt cung cấp căn cứ cụ thể xác định “thửa đất cùng loại ở vị trí gần nhất” được dùng để tính giá, vì đây thường là điểm dễ phát sinh sai lệch và là căn cứ có giá trị để phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp nếu việc lựa chọn thửa đất so sánh không hợp lý.

Công thức tính đối với chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện

Nhóm hành vi này áp dụng cho các giao dịch quyền sử dụng đất không đủ điều kiện chuyển nhượng, cho thuê hoặc góp vốn theo quy định, thường gặp trong các vụ việc doanh nghiệp giao dịch đất chưa đủ pháp lý.

Theo điểm c và điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, số lợi bất hợp pháp đối với chuyển nhượng, góp vốn được xác định bằng giá trị chuyển nhượng, góp vốn thực tế theo hợp đồng đã ký, nhưng không thấp hơn giá trị tính theo bảng giá đất tại thời điểm lập biên bản; số năm vi phạm tính từ thời điểm ký hợp đồng đến thời điểm lập biên bản. Đối với hành vi cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất không đủ điều kiện, số lợi bất hợp pháp được xác định bằng giá trị cho thuê thực tế theo hợp đồng, tính trong thời gian đã cho thuê, nhưng không thấp hơn giá trị tính theo đơn giá thuê đất trả tiền hằng năm tại thời điểm lập biên bản. Trường hợp người vi phạm đã nộp một phần tiền vào ngân sách nhà nước từ giao dịch đó, số lợi bất hợp pháp được xác định bằng số tiền tính theo công thức nêu trên trừ đi số tiền đã nộp, theo điểm đ khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

Thời điểm áp dụng giá đất, xác định loại đất và cách tính số năm vi phạm

Ba yếu tố then chốt của mọi công thức tính số lợi bất hợp pháp là thời điểm chốt giá đất, cách xác định loại đất trước/sau vi phạm và cách tính số năm vi phạm — sai một trong ba yếu tố này đều làm sai kết quả tính toán cuối cùng. Đây cũng là nhóm nội dung được người bị xử phạt viện dẫn nhiều nhất khi phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp trên thực tế.

Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, diện tích đất, giá đất, loại đất trước và sau vi phạm đều được xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, không phải thời điểm ra quyết định xử phạt hay thời điểm phát hiện vi phạm. Đối với hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định 123/2024/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 04/10/2024), khoản 2 Điều 35 Nghị định này quy định thời gian xác định số lợi bất hợp pháp phải nộp được tính từ khi Nghị định có quy định về nghĩa vụ nộp số lợi bất hợp pháp đối với hành vi đó có hiệu lực thi hành, hoặc tính từ ngày xảy ra vi phạm nếu vi phạm xảy ra sau ngày Nghị định 102/2014/NĐ-CP (Nghị định xử phạt đất đai đầu tiên có quy định nộp số lợi bất hợp pháp, có hiệu lực từ ngày 25/12/2014) đã có hiệu lực. Việc tính số lợi bất hợp pháp cụ thể vẫn áp dụng theo công thức tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP dù hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm nghị định này có hiệu lực.

Đây là một trường hợp áp dụng điều khoản chuyển tiếp khá phức tạp, dễ bị cơ quan xử phạt tính nhầm mốc thời gian bắt đầu tính số năm vi phạm. Với các vụ việc có hành vi vi phạm kéo dài qua nhiều thời kỳ pháp luật, người bị xử phạt nên yêu cầu cơ quan xử phạt nêu rõ căn cứ xác định mốc thời gian bắt đầu tính số lợi bất hợp pháp trong biên bản và quyết định xử phạt, để có cơ sở đối chiếu và phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp nếu mốc thời gian bị xác định sai.

Những căn cứ thực tế thường được sử dụng để phản đối cách tính

Phần lớn khiếu nại về số lợi bất hợp pháp không tranh chấp về việc có hành vi vi phạm hay không, mà tập trung vào sai sót khi áp dụng công thức tính tại Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP vào hồ sơ cụ thể. Dưới đây là các căn cứ thực tế thường được sử dụng, dựa trên đối chiếu khoản 1, khoản 2 Điều 6 và khoản 2 Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP với biên bản vi phạm hành chính của từng vụ việc:

  • Sai thời điểm lấy giá đất: cơ quan xử phạt lấy giá đất tại thời điểm phát hiện vi phạm hoặc thời điểm ra quyết định, thay vì thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính theo đúng quy định.
  • Xác định sai loại đất trước hoặc sau vi phạm: nhầm lẫn giữa loại đất theo giấy tờ pháp lý (Điều 10 Luật Đất đai 2024) và loại đất theo hiện trạng sử dụng thực tế.
  • Tính sai số năm vi phạm: xác định sai thời điểm bắt đầu vi phạm, đặc biệt với các vụ việc có yếu tố chuyển tiếp theo khoản 2 Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP hoặc vụ việc vi phạm gián đoạn nhiều giai đoạn.
  • Đo đạc sai diện tích đất vi phạm so với thực tế hiện trạng, dẫn đến số lợi bất hợp pháp bị tính cao hơn mức thực tế.
  • Áp dụng nhầm bảng giá đất của địa phương hoặc thời kỳ không đúng với thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.

Mỗi căn cứ trên đều cần được chứng minh bằng tài liệu cụ thể — bản đồ địa chính, hồ sơ giao đất, biên bản đo đạc hiện trạng, bảng giá đất tại thời điểm lập biên bản — chứ không chỉ nêu ý kiến chủ quan. Đối với trường hợp diện tích đất vi phạm chưa có giá trong bảng giá đất tại thời điểm lập biên bản, người bị xử phạt nên chủ động yêu cầu cơ quan xử phạt công khai căn cứ lựa chọn thửa đất so sánh, vì đây là ngoại lệ dễ bị áp dụng thiếu nhất quán và là điểm mấu chốt để phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp một cách có căn cứ.

>>> Xem thêm: Đất chưa nhận tiền đền bù: Áp dụng bồi thường thu hồi đất theo giá mới?

Các căn cứ phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp gồm giá đất, loại đất và diện tích.
Việc phản đối cần gắn từng sai sót với tài liệu về giá đất, loại đất, diện tích và thời gian vi phạm.

Kinh nghiệm xử lý thực tế các vụ việc phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đất đai, một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là chỉ phản đối mức tiền phạt ghi trong quyết định mà bỏ qua việc yêu cầu cơ quan xử phạt công khai chi tiết cách tính số lợi bất hợp pháp — trong khi đây mới là khoản tiền lớn nhất và dễ bị tính sai nhất trong toàn bộ quyết định xử phạt. Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, nhiều quyết định xử phạt chỉ ghi kết quả cuối cùng của số lợi bất hợp pháp mà không kèm theo bảng tính chi tiết diện tích, giá đất, số năm vi phạm theo từng bước của công thức tại Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP – đây chính là căn cứ để khiếu nại về hình thức lẫn nội dung của quyết định.

Một điểm khác chỉ nhận ra được khi đã xử lý nhiều hồ sơ tương tự là cơ quan xử phạt cấp huyện, cấp xã đôi khi áp dụng bảng giá đất đã hết hiệu lực tại thời điểm lập biên bản, do bảng giá đất địa phương thường được điều chỉnh hằng năm và có độ trễ cập nhật trong hệ thống hành chính. Việc đối chiếu đúng bảng giá đất đang có hiệu lực tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính là bước kiểm tra bắt buộc trước khi quyết định có phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp hay không, vì sai sót này có thể làm chênh lệch đáng kể số tiền phải nộp.

Thủ tục khiếu nại quyết định xử phạt có nội dung buộc nộp số lợi bất hợp pháp

Khi có căn cứ cho rằng cách tính số lợi bất hợp pháp trong quyết định xử phạt không đúng quy định, người bị xử phạt cần thực hiện thủ tục khiếu nại theo đúng trình tự và thời hạn luật định để bảo vệ quyền lợi. Thủ tục này bao gồm khiếu nại lần đầu, khiếu nại lần hai và khởi kiện vụ án hành chính nếu không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại.

Điều kiện và thời hạn khiếu nại lần đầu

Người bị xử phạt có quyền khiếu nại đến chính người đã ra quyết định xử phạt trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định xử phạt có nội dung buộc nộp số lợi bất hợp pháp.

Theo Điều 7 Luật Khiếu nại 2011, khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính; trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Trình tự giải quyết khiếu nại lần đầu và lần hai

Quy trình giải quyết khiếu nại được thực hiện qua hai cấp, mỗi cấp có thời hạn giải quyết riêng và người khiếu nại có quyền tiếp tục khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện nếu không đồng ý với kết quả lần đầu.

Trình tự giải quyết khiếu nại về số lợi bất hợp pháp được thực hiện như sau:

  1. Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định xử phạt trong thời hạn 90 ngày theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011.
  2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thụ lý và ra quyết định giải quyết trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011.
  3. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, hoặc hết thời hạn quy định tại Điều 28 mà khiếu nại không được giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lần hai đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định giải quyết lần đầu hoặc kể từ ngày hết thời hạn giải quyết lần đầu, theo Điều 33 Luật Khiếu nại 2011.
  4. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ra quyết định giải quyết trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, theo Điều 37 Luật Khiếu nại 2011.

>>> Xem thêm: Thời hạn giải quyết khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính 

Khởi kiện vụ án hành chính khi không đồng ý kết quả giải quyết khiếu nại

Sau khi có kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai mà vẫn không đồng ý, người bị xử phạt có quyền lựa chọn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án để yêu cầu xem xét lại tính hợp pháp của cách tính số lợi bất hợp pháp trong quyết định xử phạt.

Theo Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó, hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền nhưng hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết, hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại. Theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính; trường hợp đã khiếu nại theo đúng quy định đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được tính lại kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai, hoặc kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết.

>>> Xem thêm: Hồ sơ khởi kiện hành chính trực tuyến

Thủ tục khiếu nại quyết định xử phạt và khởi kiện liên quan số lợi bất hợp pháp.
Người bị xử phạt có thể khiếu nại theo trình tự luật định hoặc lựa chọn khởi kiện vụ án hành chính.

Rủi ro cần lưu ý trong quá trình phản đối cách tính

Việc khiếu nại hoặc khởi kiện về cách tính số lợi bất hợp pháp không đương nhiên làm dừng hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt, nên người bị xử phạt cần cân nhắc kỹ các rủi ro sau trước khi quyết định phương án xử lý:

  • Trong thời gian giải quyết khiếu nại hoặc khởi kiện, người bị xử phạt vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, kể cả phần số lợi bất hợp pháp, trừ trường hợp người giải quyết khiếu nại hoặc khởi kiện ra quyết định tạm đình chỉ thi hành vì xét thấy việc thi hành sẽ gây hậu quả khó khắc phục, theo khoản 1 Điều 73 và khoản 3 Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
  • Nếu khiếu nại hoặc khởi kiện không thành công, số lợi bất hợp pháp đã nộp không được hoàn trả và người vi phạm có thể phải chịu thêm chi phí, thời gian theo đuổi vụ việc.
  • Việc chuẩn bị tài liệu chứng minh sai sót trong cách tính (bảng giá đất, hồ sơ đo đạc, biên bản hiện trạng) đòi hỏi thời gian, trong khi thời hiệu khiếu nại chỉ có 90 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết quyết định.
  • Với các vụ việc có yếu tố chuyển tiếp theo khoản 2 Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, việc xác định mốc thời gian tính số lợi bất hợp pháp phức tạp hơn, dễ phát sinh tranh cãi kéo dài giữa các bên nếu không có phân tích pháp lý rõ ràng ngay từ đầu.

Dịch vụ luật sư đất đai tại Luật Long Phan PMT

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp từ đất với các công việc sau:

  • Rà soát quyết định xử phạt vi phạm hành chính, biên bản vi phạm và các tài liệu làm căn cứ xác định số lợi bất hợp pháp.
  • Đối chiếu công thức tính số lợi bất hợp pháp theo từng hành vi vi phạm quy định tại Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
  • Kiểm tra thời điểm áp dụng giá đất, xác định bảng giá đất được sử dụng có đúng thời điểm lập biên bản vi phạm hay không.
  • Kiểm tra việc xác định loại đất trước và sau vi phạm, đặc biệt trường hợp cơ quan xử phạt xác định loại đất theo hiện trạng không phù hợp với hồ sơ pháp lý của thửa đất.
  • Rà soát diện tích đất bị xác định là vi phạm, đối chiếu với hồ sơ địa chính, bản đồ, biên bản đo đạc và hiện trạng sử dụng đất.
  • Kiểm tra cách xác định số năm vi phạm và mốc thời gian bắt đầu tính số lợi bất hợp pháp, nhất là các vụ việc có hành vi kéo dài hoặc thuộc trường hợp chuyển tiếp.
  • Kiểm tra căn cứ lựa chọn giá đất của thửa đất so sánh trong trường hợp diện tích đất vi phạm chưa có giá trong bảng giá đất.
  • Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp, giải trình bảng tính và căn cứ xác định số lợi bất hợp pháp khi quyết định xử phạt chưa thể hiện rõ phương pháp tính.
  • Phân tích các căn cứ pháp lý và chứng cứ có thể sử dụng để phản đối số tiền bị buộc nộp.
  • Soạn thảo đơn khiếu nại quyết định xử phạt có nội dung buộc nộp số lợi bất hợp pháp.
  • Soạn thảo đơn khiếu nại lần hai khi khách hàng không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu.
  • Tư vấn lựa chọn phương án khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định xử phạt hoặc cách tính số lợi bất hợp pháp trái pháp luật.
  • Chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ và lập luận pháp lý phục vụ quá trình khiếu nại hoặc khởi kiện.
  • Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan xử phạt, cơ quan giải quyết khiếu nại.
  • Tham gia tố tụng tại Tòa án trong vụ án hành chính liên quan đến quyết định xử phạt và khoản tiền số lợi bất hợp pháp.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về hướng dẫn phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp từ đất

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi muốn phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp từ đất. Các câu trả lời dựa trên quy định của Nghị định 123/2024/NĐ-CP, Luật Khiếu nại 2011 và Luật Tố tụng hành chính 2015 hiện đang có hiệu lực.

1. Thời hạn khiếu nại quyết định xử phạt có nội dung buộc nộp số lợi bất hợp pháp là bao lâu?

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định xử phạt, theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011. Nếu có trở ngại khách quan như ốm đau, thiên tai khiến không thể khiếu nại đúng thời hạn, khoảng thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu. Sau khi hết thời hiệu, người bị xử phạt cần cân nhắc phương án khởi kiện trực tiếp nếu vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo Luật Tố tụng hành chính 2015.

2. Tôi có thể khởi kiện ngay ra Tòa án mà không cần khiếu nại trước không?

Có. Theo Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), người bị xử phạt có quyền lựa chọn khởi kiện thẳng ra Tòa án ngay từ đầu mà không bắt buộc phải khiếu nại trước. Thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định xử phạt, theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015.

3. Trong thời gian khiếu nại, tôi có phải nộp số lợi bất hợp pháp ngay không?

Về nguyên tắc, người bị xử phạt vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, bao gồm khoản số lợi bất hợp pháp, trong thời gian khiếu nại hoặc khởi kiện, theo khoản 1 Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Chỉ khi người giải quyết khiếu nại hoặc khởi kiện xét thấy việc thi hành sẽ gây hậu quả khó khắc phục và ra quyết định tạm đình chỉ theo khoản 3 Điều 15 của Luật này thì nghĩa vụ chấp hành mới tạm dừng.

4. Cách tính số lợi bất hợp pháp đối với vi phạm xảy ra trước ngày 04/10/2024 có khác không?

Có. Theo khoản 2 Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, đối với hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực, thời gian xác định số lợi bất hợp pháp được tính từ khi quy định về nghĩa vụ nộp số lợi bất hợp pháp đối với hành vi đó có hiệu lực, hoặc từ ngày xảy ra vi phạm nếu vi phạm xảy ra sau ngày Nghị định 102/2014/NĐ-CP có hiệu lực. Công thức tính cụ thể vẫn áp dụng theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

5. Nếu khiếu nại lần đầu không được giải quyết đúng thời hạn thì tôi phải làm gì?

Nếu hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011 (30 ngày, vụ việc phức tạp không quá 45 ngày) mà khiếu nại không được giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lần hai đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai trong thời hạn 30 ngày, theo Điều 33 Luật Khiếu nại 2011, hoặc lựa chọn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Kết luận

Phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp từ đất là quyền hợp pháp của người bị xử phạt khi có căn cứ cho rằng cơ quan có thẩm quyền áp dụng sai công thức, sai thời điểm định giá hoặc sai số năm vi phạm theo quy định tại Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Việc xác định đúng sai sót cụ thể, chuẩn bị đầy đủ tài liệu chứng minh và thực hiện đúng thời hạn khiếu nại hoặc khởi kiện là yếu tố quyết định kết quả bảo vệ quyền lợi. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đánh giá căn cứ pháp lý và tư vấn phương án xử lý phù hợp với từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Nghị định 123/2024/NĐ-CP
  • Luật Đất đai 2024
  • Luật Khiếu nại 2011
  • Luật Tố tụng hành chính 2015
  • Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87