Khởi kiện khi công ty tự ý giảm lương người lao động là giải pháp pháp lý cuối cùng để bảo vệ quyền lợi tài chính. Hành vi đơn phương điều chỉnh tiền lương của người sử dụng lao động, không dựa trên thỏa thuận hoặc vi phạm các quy định pháp luật, là cơ sở để phát sinh tranh chấp. Quá trình này đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thủ tục và chứng cứ. Bài viết sau đây của Luật Long Phan PMT phân tích quy trình khởi kiện tại Tòa án.

Thời hiệu và thủ tục hòa giải lao động trước khi khởi kiện
Trước khi nộp đơn khởi kiện, người lao động phải tuân thủ hai điều kiện tiên quyết: thời hiệu và thủ tục hòa giải bắt buộc. Bỏ qua một trong hai yếu tố này có thể khiến Tòa án trả lại đơn khởi kiện.
Về thời hiệu, Điều 190 Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ) quy định rõ, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm. Thời điểm bắt đầu tính 01 năm này là “kể từ ngày phát hiện ra hành vi… vi phạm”. Đối với tranh chấp tiền lương, ngày này thường được xác định là ngày người lao động nhận lương và phát hiện số tiền thực nhận ít hơn thỏa thuận.
Về thủ tục hòa giải, Điều 188 BLLĐ 2019 quy định tranh chấp lao động cá nhân về tiền lương bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Đây không phải là một lựa chọn mà là yêu cầu pháp lý. Người lao động phải nộp đơn yêu cầu hòa giải viên hòa giải tranh chấp. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.
Chỉ khi hòa giải không thành (hoặc hết 05 ngày mà hòa giải không được tiến hành), người lao động mới có đủ điều kiện khởi kiện. Chứng cứ bắt buộc phải có khi nộp đơn ra Tòa là Biên bản hòa giải không thành.
Xác định thẩm quyền và lựa chọn Tòa án giải quyết
Sau khi có Biên bản hòa giải không thành, người lao động cần xác định đúng Tòa án có thẩm quyền để nộp đơn. Việc xác định sai thẩm quyền sẽ dẫn đến việc Tòa án trả lại đơn hoặc chuyển vụ án, gây mất thời gian.
Về thẩm quyền theo vụ việc, theo điểm b khoản 7 Điều 188 BLLĐ 2019 và khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 2 Điều 219 Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án. Về thẩm quyền theo cấp, tranh chấp khi công ty tự ý giảm lương do Tòa án nhân dân khu vực giải quyết (Điều 1 Luật số 81/2025/QH15).
Về thẩm quyền theo lãnh thổ, nguyên tắc chung tại điểm a khoản 1 Điều 39, điểm đ khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015 là Tòa án nơi bị đơn (công ty) đặt trụ sở chính hoặc Tòa án nơi người lao động cư trú/ làm việc có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, pháp luật lao động trao một quyền lợi đặc biệt cho người lao động.
Đơn khởi kiện và thành phần hồ sơ khuyến nghị chuẩn bị
Hồ sơ khởi kiện tranh chấp lao động do bị giảm lương và đơn khởi kiện phải được soạn thảo theo mẫu 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP. Đơn khởi kiện phải có các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015. Các tài liệu, chứng cứ nộp kèm có thể bao gồm:
- Bản sao công chứng/chứng thực Căn cước công dân.
- Bản sao Hợp đồng lao động, Phụ lục hợp đồng, Thỏa ước lao động tập thể (nếu có).
- Bản chính Biên bản hòa giải không thành của Hòa giải viên lao động.
- Chứng cứ chứng minh hành vi giảm lương: Sao kê tài khoản ngân hàng (thể hiện số tiền lương thực nhận), các Bảng lương, Phiếu lương, email, tin nhắn hoặc thông báo của công ty về việc giảm lương.
Thủ tục thụ lý đơn khởi kiện tranh chấp giảm lương người lao động
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Tuy nhiên, đối với tranh chấp về tiền lương, người lao động được hưởng quyền lợi đặc biệt là miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí theo khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Do đó, Người lao động khởi kiện cần nộp kèm hồ sơ khởi kiện là Đơn đề nghị miễn giảm tạm ứng án phí. Theo khoản 4 Điều 195 BLTTDS, nếu hồ sơ hợp lệ, Tòa án sẽ không ra thông báo nộp tạm ứng án phí mà sẽ thụ lý vụ án ngay.
Quá trình giải quyết tranh chấp giảm lương người lao động tại Tòa án
Sau khi thụ lý, vụ án sẽ trải qua các giai đoạn tố tụng chính thức. Giai đoạn đầu tiên là chuẩn bị xét xử. Thời hạn chuẩn bị xét xử tranh chấp khi công ty giảm lương người lao động là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng (Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Tiếp theo, Tòa án sẽ triệu tập các bên để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Thẩm phán sẽ phân tích các quy định pháp luật để các bên tự thỏa thuận (Điều 210 BLTTDS 2015). Nếu hòa giải thành, Tòa án sẽ lập biên bản và ra “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự”. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nếu hòa giải tại Tòa không thành, Thẩm phán sẽ ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa. Trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. rong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng (Điều 286 BLTTDS 2015).
>>> Xem thêm: Tranh chấp lao động cá nhân và thủ tục giải quyết hiệu quả

Căn cứ xác định người sử dụng lao động tự ý giảm lương
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người lao động phải chứng minh hành vi giảm lương của công ty là vi phạm pháp luật. Căn cứ pháp lý cốt lõi dựa trên nguyên tắc “thỏa thuận” của hợp đồng lao động.
Điều 21 BLLĐ 2019 xác định “lương” (bao gồm mức lương, phụ cấp, khoản bổ sung) là nội dung chủ yếu, bắt buộc của Hợp đồng lao động. Điều 33 BLLĐ 2019 quy định rõ, mọi sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động (bao gồm tiền lương) đều phải thông qua thỏa thuận của hai bên bằng việc ký kết Phụ lục hợp đồng. Pháp luật không cho phép công ty đơn phương thay đổi. Những lý do như “công ty khó khăn”, “tái cơ cấu”, “cắt giảm chi phí” đều không phải là căn cứ pháp lý để tự ý giảm lương nếu không được người lao động đồng ý bằng văn bản.
Ngoại lệ duy nhất cho phép Người sử dụng lao động tạm thời thay đổi công việc (và có thể ảnh hưởng lương) là Điều 29 BLLĐ 2019. Trường hợp này chỉ áp dụng khi gặp khó khăn đột xuất (thiên tai, dịch bệnh…) hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Kể cả khi đó, người sử dụng lao động chỉ được tạm chuyển người lao động tối đa 60 ngày làm việc cộng dồn/năm.
Khi đó, người lao động được trả lương công việc mới. Trong trường hợp lương công việc mới thấp hơn công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Sau đó tiền lương theo công việc mới ít nhất bằng 85% lương cũ và không thấp hơn lương tối thiểu. Hết thời hạn tạm chuyển người lao động sang làm công việc khác, người sử dụng lao động phải phục hồi lương.
Khi công ty tự ý giảm lương, phần tiền lương bị thiếu được xem là “trả lương chậm”. Theo Điều 97 BLLĐ 2019, nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải phải trả thêm tiền lãi trên phần chậm trả.
Nếu công ty tự hạ bậc lương/giảm phụ cấp/giảm “gross” (tổng thu nhập) hoặc “net” (lương thực nhận) không có thỏa thuận, đó là hành vi vi phạm.
Dịch vụ luật sư tư vấn và tham gia giải quyết tranh chấp giảm lương người lao động
Luật Long Phan PMT sẽ cung cấp sự hỗ trợ pháp lý toàn diện để bảo vệ quyền lợi cho Quý khách. Dịch vụ của chúng tôi bao gồm:
- Tiếp nhận hồ sơ, rà soát pháp lý Hợp đồng lao động, Phụ lục HĐLĐ, và các thông báo, quyết định giảm lương của công ty.
- Đánh giá tính hợp pháp của hành vi giảm lương.
- Tính toán chính xác số tiền lương bị giảm, số tiền lãi chậm trả và các thiệt hại khác (nếu có).
- Tư vấn chiến lược pháp lý: đánh giá ưu, nhược điểm của việc hòa giải, khiếu nại hay khởi kiện.
- Đại diện hoặc hỗ trợ Quý khách hàng thực hiện thủ tục hòa giải bắt buộc tại hòa giải viên lao động.
- Soạn thảo Đơn khởi kiện, chuẩn bị hồ sơ và các tài liệu, chứng cứ (sao kê ngân hàng, bảng lương…).
- Đại diện bảo vệ quyền lợi Quý khách hàng tại Tòa án.

Các câu hỏi thường gặp (FAQ) về thủ tục khởi kiện khi công ty tự ý giảm lương người lao động
Dưới đây là phần giải đáp một số thắc mắc pháp lý thường gặp trong quá trình giải quyết tranh chấp khi bị công ty tự ý giảm lương:
Công ty có thể viện lý do kinh doanh khó khăn, thua lỗ để giảm lương không?
Công ty không được viện lý do kinh doanh khó khăn hay thua lỗ để tự ý giảm lương của người lao động. Đây không phải là căn cứ pháp lý hợp lệ để điều chỉnh mức lương đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Theo quy định pháp luật, mức lương chỉ được thay đổi khi có sự đồng ý của người lao động. Hai bên phải thương lượng và thống nhất lại các điều khoản liên quan. Việc này cần được thể hiện bằng phụ lục hợp đồng theo Điều 33 Bộ luật Lao động 2019.
Nên chọn “khởi kiện” ra Tòa án hay “khiếu nại” lên Sở Nội vụ?
Đây là hai con đường khác nhau. “Khởi kiện” là thủ tục tư pháp tại Tòa án để đòi lại quyền lợi tài chính (tiền lương) cho cá nhân Quý khách. “Khiếu nại” là thủ tục hành chính yêu cầu cơ quan quản lý lao động vào cuộc, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty. Nếu mục tiêu chính là đòi lại tiền, khởi kiện là con đường trực tiếp và hiệu quả hơn.
Tiền lãi chậm trả được tính cụ thể như thế nào?
Tiền lãi chậm trả được tính dựa trên số tiền lương bị trả chậm hoặc bị giảm trái luật. Doanh nghiệp phải tính khoản lãi này theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản trả lương. Mức lãi suất được xác định tại thời điểm thực tế trả lương cho người lao động. Đây là mức lãi suất được ngân hàng công bố công khai và có thể kiểm tra dễ dàng. Quy định này căn cứ theo khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Điều gì xảy ra nếu hòa giải viên lao động không hòa giải trong 05 ngày làm việc?
Nếu hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, người lao động có quyền khởi kiện trực tiếp ra Tòa án theo Điều 188 Bộ luật Lao động. Trường hợp này, người lao động không cần xuất trình Biên bản hòa giải không thành như thủ tục thông thường. Tuy nhiên, người lao động phải chứng minh mình đã nộp yêu cầu hòa giải cho hòa giải viên. Bằng chứng có thể là biên nhận đơn hoặc tài liệu xác nhận đã gửi theo đúng thủ tục. Đây là cơ sở pháp lý để Tòa án thụ lý vụ việc mà không cần qua bước hòa giải bắt buộc.
Ngoài tiền lương bị thiếu, có thể yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần không?
Ngoài tiền lương bị thiếu, người lao động không thể yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần. Đây là vì tranh chấp tiền lương được pháp luật xác định là tranh chấp về tài sản, không phải tranh chấp về nhân thân. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ xem xét nghĩa vụ thanh toán tiền lương còn thiếu cho người lao động. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải trả tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động 2019. Do đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại tinh thần sẽ không được chấp nhận trong vụ việc tranh chấp tiền lương.
Kết luận
Việc khởi kiện khi công ty tự ý giảm lương là một quy trình pháp lý phức tạp, đòi hỏi sự am hiểu về pháp luật lao động và tố tụng. Để bảo vệ quyền lợi tài chính chính đáng, việc thu thập chứng cứ và tuân thủ thủ tục là tối quan trọng. Nếu Quý khách đang gặp vướng mắc, hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900.63.63.87 để được luật sư hỗ trợ kịp thời.
Tags: Giảm lương trái luật, Khởi kiện công ty tự ý giảm lương, Thủ tục khởi kiện tranh chấp lao động, Tranh chấp tiền lương

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.