Trường hợp nào mẹ không được nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Trường hợp nào mẹ không được nuôi con dưới 36 tháng tuổi hiện nay chưa được quy định chi tiết trong luật hôn nhân và gia đình. Theo luật thì khi có tranh chấp quyền nuôi con thì Tòa án sẽ ưu tiên cho người mẹ nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên nếu trong trường hợp người mẹ không đảm bảo được điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng thì có được quyền nuôi con hay không ?. Vấn đề này sẽ được Luật Long Phan PMT giải đáp qua bài viết sau.

Các trường hợp mẹ không được nuôi con dưới 36 tháng tuổiCác trường hợp mẹ không được nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Quy định về vấn đề con chung khi ly hôn

Quy định về con chung khi ly hôn là một phần quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình xác định quyền lợi, trách nhiệm, và thời gian chăm sóc của cha, mẹ đối với con. Những quy định này nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển toàn diện của trẻ trong bối cảnh gia đình đã chia rẽ.

Căn cứ theo Điều 88 Luật hôn nhân gia đình 2014 nêu rõ các quy định về vấn đề con chung khi ly hôn. Cụ thể,

  • Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
  • Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
  • Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
  • Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Việc xác nhận con chung cần tuân theo các điều kiện pháp luật quy định. Vậy nên việc nhận hay từ bỏ con chung phải được xác lập bằng các thủ tục hoặc được Tòa án xem xét và xác định.

Để giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi cần những điều kiện gì?

Căn cứ theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định rõ ràng việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Cụ thể được quy định như sau: Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, theo như nội dung được đề cập ở trên thì quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi ưu tiên thuộc về người mẹ. Tuy nhiên không phải tuyệt đối sẽ giao quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ. Nếu trong trường hợp người mẹ không đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con hoặc  vợ chồng có thỏa thuận khác về nuôi con thì quyền nuôi con có thể thuộc về người cha.

>>> Xem thêm: Khi nào bố được quyền nuôi con khi ly hôn.

Khi nào mẹ không được trực tiếp nuôi dưỡng con dưới 36 tháng tuổi

Căn cứ theo quy định pháp luật  thì con dưới 36 tháng tuổi đương nhiên thuộc về người mẹ. Tuy nhiên, một số điều kiện khiến lợi ích của con không được đảm bảo dẫn đến người mẹ không được trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi, theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, sẽ hạn chế quyền của mẹ đối với con nếu thuộc một trong các điều kiện sau:

  • Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • Phá tán tài sản của con.
  • Có lối sống đồi trụy.
  • Xúi dục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Ngoài ra còn một số điều kiện hạn chế quyền nuôi con trực tiếp, nếu mặt tinh thần và vật chất nuôi dưỡng không đảm bảo, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của con, người mẹ có thể không được trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi như:

  • Điều kiện về kinh tế: người mẹ không có việc làm ổn định, không có bất kỳ một khoản thu nhập nào, thu nhập không ổn định, có nhiều khoản nợ riêng, không có khoản tiền tích lũy nào, người mẹ sau ly hôn không có chỗ ở ổn định.
  • Điều kiện về tinh thần: bỏ bê con cái không có thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
  • Người mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự, mất tích, có dấu hiệu mắc các bệnh về tâm thần, mắc các bệnh hiểm nghèo, nan y, sức khỏe yếu cần phải điều trị mà không thể chăm sóc con được.

 Tranh chấp quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi.  Tranh chấp quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi

>>> Xem thêm: Có được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi ly thân không.

Thủ tục khởi kiện giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn

Hồ sơ khởi kiện

Đối với hồ sơ khởi kiện giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi sẽ bao gồm các loại giấy tờ sau đây:

  • Đơn khởi kiện Mẫu số 23-DS Danh mục ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP. Cũng như, việc yêu cầu thay đổi quyền nuôi con đảm bảo nội dung, hình thức đơn khởi kiện tại điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • Chứng minh Nhân dân/Căn cước công dân/Hộ chiếu còn hạn.
  • Giấy khai sinh của con, giấy chứng sinh (nếu có).
  • Các chứng minh về khoản thu nhập cá nhân, tài sản chứng minh khả năng tài chính.
  • Các bằng chứng, chứng minh việc người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để nuôi con.
  • Các chứng cứ chứng minh cho việc khởi kiện thay đổi quyền trực tiếp nuôi con (áp dụng trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc khởi kiện thay đổi quyền nuôi con khi người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để nuôi con).

Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án

Cơ sở pháp lý: Khoản 4 và khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Trình tự thủ tục giải quyết

Những tranh chấp về nuôi con, giành quyền nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vì vậy thủ tục khởi kiện dân sự được áp dụng cho thủ tục khởi kiện giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trình tự thủ tục khởi kiện bao gồm:

Bước 1: Nộp đơn khởi kiện.

Người khởi kiện có thể nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi hồ sơ khởi kiện thông qua bưu điện hay thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia (cơ sở pháp lý điều 190, BLTTDS 2015)

Bước 2: Tòa tiếp nhận và xử lý đơn kiện

Theo Điều 191 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sau khi nhận đơn khởi kiện Tòa án phải thực hiện các công việc sau:

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

  • Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
  • Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
  • Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
  • Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện.

Bước 3. Tòa án thụ lý vụ án và thông báo về việc thụ lý vụ án

Căn cứ theo quy định tại Điều 195, 196, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 việc Tòa án thụ lý vụ án được quy định như sau:

  • Sau khi nhận đơn khởi kiện nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
  • Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
  • Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án

Bước 4: Chuẩn bị xét xử vụ án

Thời gian chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày Tòa thụ lý.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng.

Căn cứ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các công việc sau đây:

  • Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
  • Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;
  • Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;
  • Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;
  • Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
  • Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

Bước 5: Đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa sơ thẩm

Trong 01 tháng kể từ ngày quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa mở phiên tòa sơ thẩm; nếu có lý do chính đáng thì thời hạn này có thể kéo dài đến 02 tháng.

Bước 6: Thực hiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị

Căn cứ theo quy định tại Điều 270, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, khi xét thấy bản quyết định chưa đảm bảo quyền đúng quyền lợi cho mình thì nguyên đơn, bị đơn, người có quyền có nghĩa vụ liên quan có quyền thực hiện thủ tục kháng cáo.

Luật sư tư vấn tranh chấp giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Luật Long Phan cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ các thủ tục về tranh chấp giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Sau đây là các nội dung công việc chính mà chúng tôi sẽ cung cấp cho vụ việc tranh chấp này:

  • Luật sư tư vấn quy định pháp luật, quyền lợi của con và điều kiện để cha/mẹ giành quyền nuôi con.
  • Luật sư tư vấn, giải thích thắc mắc về quy trình khởi kiện.
  • Luật sư tư vấn, hướng dẫn thu thập tài liệu chứng minh điều kiện nuôi con.
  • Luật sư thực hiện soạn thảo đơn từ liên quan đến tranh chấp.
  • Luật sư thực hiện soạn đơn kháng cáo.
  • Luật sư cùng thân chủ tham gia tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

Luật sư tư vấn tranh chấp quyền nuôi conLuật sư tư vấn tranh chấp quyền nuôi con

Theo quy định thì trong trường hợp người mẹ không đáp ứng được các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con hay người mẹ rơi vào các trường hợp về hạn chế quyền nuôi con hoặc vợ chồng có thỏa thuận về quyền nuôi con thì quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi có thể thuộc về người cha. Trường hợp quý khách có thắc mắc gì về vấn đề này vui lòng liên hệ Hotline 1900.63.63.87 để được đội ngũ Luật sư hôn nhân gia đình tư vấn và hỗ trợ. Xin cảm ơn!

>>> Một số bài viết liên quan có thể bạn quan tâm:

Scores: 4.5 (45 votes)

Tham vấn Luật sư: Nguyễn Trần Phương - Tác giả: Trần Hường

Trần Hường – Chuyên Viên Pháp Lý tại Công ty Luật Long Phan PMT. Tư vấn đa lĩnh vực từ dân sự, thừa kế, hôn nhân gia đình và pháp luật lao động. Nhiệt huyết với khách hàng, luôn tận tâm để giải quyết các vấn đề mà khách hàng gặp phải. Đại diện làm việc với các cơ quan chức năng, cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ lợi ích hợp pháp của thân chủ.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

o

  Miễn Phí: 1900.63.63.87