Mức xử phạt trộm cắp điện là có thể khiến người vi phạm vừa bị xử phạt hành chính, vừa phải đối mặt với trách nhiệm hình sự nếu giá trị điện bị chiếm đoạt đủ lớn hoặc thuộc trường hợp luật định. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều khách hàng lúng túng khi bị lập biên bản kiểm tra sử dụng điện, không phân biệt được ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu hình sự theo Nghị định 133/2026/NĐ-CP và Bộ luật Hình sự 2015. Bài viết dưới đây phân tích cụ thể mức phạt, ngưỡng chuyển sang hình sự, thủ tục chuyển hồ sơ và hướng xử lý khi phát sinh vụ việc.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Hành vi trộm cắp điện dưới mọi hình thức có thể bị phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, theo khoản 6 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP.
- Khi giá trị điện bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới mức này nhưng thuộc trường hợp luật định, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
- Người có thẩm quyền xử phạt bắt buộc phải chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự theo khoản 1 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025).
- Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn phải hoàn trả số lợi bất hợp pháp đã chiếm đoạt cho bên bị thiệt hại, theo điểm b khoản 11 Điều 13 và Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 133/2026/NĐ-CP.
Hành vi chiếm đoạt điện năng được hiểu như thế nào theo pháp luật hiện hành?
Theo khoản 51 Điều 3 Luật Điện lực 2024, trộm cắp điện là hành vi lấy điện không qua công tơ điện, cố ý tác động làm sai lệch chỉ số đo đếm của công tơ điện và thiết bị điện khác có liên quan đến đo đếm. Đây là hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 2 Điều 9 Luật Điện lực 2024.
Như vậy, về mặt pháp lý, có thể hiểu hành vi chiếm đoạt điện năng chủ yếu bao gồm việc sử dụng điện không qua hệ thống đo đếm hoặc cố ý can thiệp vào hệ thống đo đếm để lượng điện thực tế sử dụng không được ghi nhận đầy đủ; được thực hiện dưới các hình thức như câu móc điện trái phép, tác động vào hệ thống đo đếm để làm sai lệch chỉ số công tơ, hoặc sử dụng điện mà không qua công tơ đo đếm.
Trên thực tế, đơn vị điện lực thường phát hiện hành vi vi phạm này thông qua công tác kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra đột xuất khi phát hiện chỉ số công tơ bất thường so với sản lượng tiêu thụ thực tế của khách hàng. Khi đó, biên bản kiểm tra sử dụng điện được lập tại chỗ sẽ là căn cứ quan trọng để xác định giá trị điện năng bị chiếm đoạt, từ đó xác định mức xử phạt hành chính hoặc xem xét trách nhiệm hình sự tương ứng.
Mức xử phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp điện
Hành vi này bị phạt bao nhiêu tiền phụ thuộc trực tiếp vào giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt, dao động từ 4.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân theo hai mức giá trị điện năng cụ thể. Mức phạt này áp dụng khi hành vi chưa đến ngưỡng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bảng mức phạt tiền theo giá trị sản lượng điện trộm cắp
Để xác định mức xử phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp điện, cần căn cứ vào giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt. Theo khoản 6 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, hành vi chiếm đoạt điện năng dưới mọi hình thức bị xử phạt theo hai khung giá trị sản lượng điện như sau:
| Giá trị sản lượng điện bị trộm cắp | Mức phạt tiền (cá nhân) |
| Dưới 1.000.000 đồng | Từ 4.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng |
| Từ 1.000.000 đồng đến dưới 2.000.000 đồng | Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng |
Cơ sở pháp lý: khoản 6 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP.
Trong đa số trường hợp, giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt được xác định căn cứ vào công suất thiết bị sử dụng trái phép, thời gian sử dụng ước tính và đơn giá điện áp dụng tại thời điểm phát hiện vi phạm, theo hướng dẫn nghiệp vụ của ngành điện. Doanh nghiệp, hộ gia đình bị lập biên bản nên yêu cầu đơn vị điện lực giải trình rõ căn cứ tính toán này trước khi ký xác nhận.
Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài mức phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục tình trạng ban đầu và ngăn ngừa tái diễn vi phạm.
Theo khoản 10 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP, hình thức xử phạt bổ sung áp dụng là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, ví dụ thiết bị câu móc điện trái phép hoặc thiết bị tác động vào hệ thống đo đếm.
Về biện pháp khắc phục hậu quả, theo điểm b, điểm h khoản 11 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP, người vi phạm buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm (bao gồm cả mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt; trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì số tiền chênh lệch phải nộp vào ngân sách nhà nước. Nếu tang vật, phương tiện vi phạm đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái quy định, người vi phạm buộc phải nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tang vật, phương tiện đó.
Mức phạt áp dụng riêng đối với tổ chức vi phạm
Khi chủ thể vi phạm là tổ chức, doanh nghiệp cần lưu ý mức phạt tiền áp dụng cao gấp đôi so với cá nhân cho cùng một hành vi vi phạm, theo nguyên tắc chung về xử phạt vi phạm hành chính.
Theo khoản 2 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025), đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định 133/2026/NĐ-CP thì hành vi trộm cắp điện quy định tại Điều 13 là áp dụng đối với cá nhân.
Như vậy, đối chiếu với khung phạt tại khoản 6 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP, tổ chức vi phạm có thể bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng tùy theo giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt.
>>> Xem thêm: Giải pháp ngăn chặn rủi ro và cách thức pháp lý để xử lý nhân viên chiếm đoạt dữ liệu
Khi nào hành vi trộm cắp điện bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Hành vi này có đi tù không phụ thuộc vào việc giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt có đạt ngưỡng cấu thành tội phạm hay không, hoặc hành vi có thuộc các trường hợp đặc biệt được luật định dù giá trị chưa đạt ngưỡng này.
Theo khoản 9 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP, khi phát hiện giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự, người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự, theo trình tự quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025).
Ngưỡng giá trị điện bị chiếm đoạt cấu thành tội trộm cắp tài sản
Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản. Đối với hành vi chiếm đoạt điện năng, giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt được xác định tương tự như giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong các tội xâm phạm sở hữu khác, làm căn cứ xác định khung hình phạt áp dụng.
Khung hình phạt cụ thể theo giá trị điện bị chiếm đoạt
Khi giá trị điện bị chiếm đoạt đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản, mức hình phạt được xác định theo giá trị tài sản và các tình tiết định khung quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Cụ thể, các khung hình phạt theo giá trị điện bị chiếm đoạt được thể hiện như sau:
| Khung hình phạt | Giá trị điện bị chiếm đoạt | Mức hình phạt chính |
| Khoản 1 Điều 173 | Từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng | Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm |
| Khoản 2 Điều 173 | Từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng | Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm |
| Khoản 3 Điều 173 | Từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng | Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm |
| Khoản 4 Điều 173 | Từ 500.000.000 đồng trở lên | Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm |
Cơ sở pháp lý: Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngoài giá trị điện bị trộm cắp, khung hình phạt thực tế áp dụng còn phụ thuộc vào các tình tiết định khung tăng nặng khác như phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hành hung để tẩu thoát hoặc tái phạm nguy hiểm.
Trường hợp dưới 2 triệu đồng vẫn bị xử lý hình sự
Ngay cả khi giá trị điện năng bị chiếm đoạt chưa đạt mức 2.000.000 đồng, người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp ngoại lệ quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cụ thể là các trường hợp: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản hoặc một trong các tội xâm phạm sở hữu khác được liệt kê tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Đây là nhóm trường hợp ngoại lệ mà khách hàng, đặc biệt là người từng bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, cần đặc biệt lưu ý.
Thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản và chuyển hồ sơ xử lý
Việc xác định ai có quyền kiểm tra sử dụng điện và quy trình chuyển hồ sơ giữa cơ quan xử phạt hành chính với cơ quan tố tụng hình sự là nội dung then chốt quyết định tính hợp pháp của toàn bộ quá trình xử lý vụ việc.
Theo Điều 9 Luật Điện lực 2024, hành vi cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền kiểm tra, giám sát hoạt động điện lực và sử dụng điện là hành vi bị nghiêm cấm; đồng thời khoản 1 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cản trở người có thẩm quyền kiểm tra việc sử dụng điện.
Quy trình chuyển hồ sơ vụ vi phạm sang cơ quan tố tụng hình sự
Khi xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện các bước sau theo khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025):
- Khi xem xét vụ việc để quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi có dấu hiệu tội phạm theo Điều 173 Bộ luật Hình sự, người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự, thay vì tự ra quyết định xử phạt hành chính.
- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự tiếp nhận, xem xét hồ sơ và có trách nhiệm trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ:
- Trường hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc phải trả hồ sơ vụ việc
- Trường hợp có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyết xử phạt vi phạm hành chính phải huỷ quyết định xử phạt và chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện, tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
- Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân, tổ chức bị lập biên bản vi phạm.
Trường hợp cơ quan hình sự không khởi tố, chuyển ngược lại xử phạt hành chính
Nếu sau quá trình xem xét mà cơ quan tiến hành tố tụng xác định được có không dấu hiệu hình sự mà hành vi chỉ có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì tuỳ trường hợp mà cách xử lý khác nhau:
- Trường hợp 1: vụ án do cơ quan khác giải quyết nhưng do có dấu hiệu hình sự mà chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự xem xét: phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực (khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025)
- Trường hợp 2: cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý giải quyết nhưng sau lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo bản án mà hành vi vẫn có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì theo khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025), người có thẩm quyền cơ quan đang thụ lý vụ án phải xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Nếu người này không có thẩm quyền thì phải chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc.
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, việc luân chuyển hồ sơ giữa hai hệ thống thủ tục hành chính và tố tụng hình sự thường kéo dài thêm thời gian giải quyết vụ việc, ảnh hưởng đến quyền lợi của cả bên bị chiếm đoạt điện năng lẫn người bị xem xét trách nhiệm. Người bị lập biên bản nên chủ động theo dõi tiến độ xử lý và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp văn bản thông báo kết quả giải quyết theo đúng quy định.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi chiếm đoạt điện năng
Ngoài trách nhiệm hành chính hoặc hình sự, người có hành vi trộm cắp điện còn có thể phải hoàn trả số lợi bất hợp pháp và bồi thường thiệt hại nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên bán điện hoặc chủ thể khác.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này hoặc luật khác có quy định khác.
Việc xác định mức bồi thường được thực hiện theo thiệt hại thực tế và các nguyên tắc quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, việc một người bị xử phạt về hành vi trộm cắp điện không đồng nghĩa với việc mức tiền phạt hành chính chính là khoản bồi thường dân sự cho bên bán điện.
Trường hợp phát sinh thêm yêu cầu bồi thường
Nếu hành vi trộm cắp điện gây ra thiệt hại khác ngoài giá trị điện năng bị chiếm đoạt, bên bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường nếu chứng minh được thiệt hại thực tế, hành vi gây thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại.
Do đó, khi giải quyết vụ việc cần tách riêng ba vấn đề: tiền phạt vi phạm hành chính, số lợi bất hợp pháp phải nộp lại và khoản bồi thường thiệt hại dân sự.
>>> Xem thêm: giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Kinh nghiệm thực tế xử lý các vụ việc chiếm đoạt điện năng
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là ký ngay vào biên bản kiểm tra sử dụng điện do nhân viên điện lực lập tại hiện trường mà chưa đọc kỹ nội dung, đặc biệt là phần mô tả cách thức tác động vào công tơ và cách tính giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt.
Đặc biệt, trường hợp giá trị sản lượng điện được xác định gần ngưỡng 2.000.000 đồng — ngưỡng có thể dẫn đến việc chuyển hồ sơ để xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP — thì các chứng cứ kỹ thuật và phương pháp tính sản lượng điện cần được kiểm tra kỹ.
Các tài liệu như biên bản kiểm tra, kết quả kiểm định công tơ, tình trạng niêm phong, hình ảnh hiện trường, thông số thiết bị và tài liệu xác định thời gian sử dụng điện có thể có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm tra tính chính xác của kết quả xác định sản lượng điện bị chiếm đoạt.
Rủi ro pháp lý cần lưu ý khi bị lập biên bản kiểm tra sử dụng điện
Việc bị lập biên bản kiểm tra sử dụng điện không đồng nghĩa với việc cá nhân, tổ chức đã mặc nhiên thừa nhận toàn bộ nội dung được ghi nhận trong biên bản. Trường hợp có căn cứ cho rằng hành vi vi phạm, tình trạng công tơ hoặc sản lượng điện bị xác định chưa chính xác, người bị kiểm tra có quyền đưa ra ý kiến, cung cấp chứng cứ và sử dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Quyền giải trình, khiếu nại quyết định xử phạt
Theo Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi bổ sung 2022, trong những trường hợp luật định, cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình bằng văn bản hoặc trực tiếp với người có thẩm quyền xử phạt. Người vi phạm có quyền đưa ra ý kiến và chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước khi quyết định xử phạt được ban hành.
Theo Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, cá nhân, tổ chức bị xử lý có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính. Việc khiếu nại nên chỉ rõ nội dung không đồng ý và kèm chứng cứ chứng minh.
Quyền cung cấp chứng cứ và yêu cầu xem xét lại
Người bị xử lý có thể cung cấp hóa đơn điện, dữ liệu tiêu thụ, hình ảnh hiện trạng, kết quả kiểm định và tài liệu kỹ thuật để chứng minh.
Khi bị lập biên bản, người bị kiểm tra nên đặc biệt kiểm tra cách thức xác định hành vi vi phạm, thời điểm bắt đầu và kết thúc hành vi, công suất được sử dụng để tính toán, tình trạng và kết quả kiểm định công tơ, cũng như phương pháp xác định sản lượng điện bị trộm cắp.
Nếu phát hiện nội dung biên bản hoặc phương pháp tính toán không phù hợp với thực tế, cần ghi nhận ý kiến của mình trong quá trình lập biên bản và chủ động cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
>> Xem thêm: Mẫu đơn khiếu nại hành vi xử phạt vi phạm hành chính trái luật

Dịch vụ luật sư hỗ trợ khách hàng khi bị xử lý về hành vi chiếm đoạt điện năng
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc bị lập biên bản, xử phạt hoặc bị xem xét trách nhiệm hình sự liên quan đến việc sử dụng điện với các công việc sau:
- Rà soát biên bản vi phạm, kiểm tra nội dung mô tả hành vi, hồ sơ tài liệu hiện có.
- Đánh giá phương pháp tính giá trị sản lượng điện bị cho là chiếm đoạt.
- Kiểm tra tính hợp pháp của trình tự kiểm tra, lập biên bản và thu thập tài liệu.
- Tư vấn khách hàng về nội dung cần lưu ý trước và trong quá trình ký biên bản kiểm tra.
- Hướng dẫn khách hàng ghi nhận ý kiến hoặc bảo lưu quan điểm đối với nội dung kiểm tra.
- Tư vấn, rà soát, tiến hành thu thập hóa đơn điện, dữ liệu tiêu thụ, hình ảnh hiện trạng và tài liệu kỹ thuật để bảo vệ quyền lợi.
- Đại diện khách hàng làm việc với đơn vị điện lực, cơ quan chức năng liên quan hành vi xử phạt hoặc đăng ký bào chữa trong trường hợp bị khởi tố hình sự.
- Hỗ trợ khách hàng soạn thảo các văn bản, đơn từ xin giảm nhẹ, kiến nghị phản ánh, kêu cứu… khi có dấu hiệu xử lý không phù hợp.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về mức xử phạt hành vi trộm cắp điện
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi bị lập biên bản hoặc xử lý về hành vi vi phạm liên quan đến sử dụng điện. Các câu trả lời dựa trên quy định hiện hành tại Nghị định 133/2026/NĐ-CP, Bộ luật Hình sự 2015 và Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
1. Trộm cắp điện bị phạt bao nhiêu tiền?
Mức phạt tiền đối với cá nhân dao động từ 4.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng tùy theo giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt, theo khoản 6 Điều 13 Nghị định 133/2026/NĐ-CP. Đối với tổ chức, mức phạt bằng 02 lần mức phạt cá nhân theo khoản 2 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
2. Chiếm đoạt điện năng bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Hành vi chiếm đoạt điện năng với giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Dưới mức này, người vi phạm vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc các trường hợp ngoại lệ được quy định cụ thể tại cùng điều khoản.
3. Có bị đồng thời xử phạt hành chính và truy cứu hình sự về cùng một hành vi không?
Về nguyên tắc, không xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm để đồng thời xử lý hình sự về chính hành vi đó. Khi xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự theo khoản 1 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi bổ sung 2022.
Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành nhưng sau đó phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, người đã ra quyết định phải tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt và chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Nếu có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
4. Nếu cơ quan điều tra không khởi tố thì vụ việc được xử lý thế nào?
Nếu cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ra quyết định không khởi tố vụ án hoặc các quyết định tương tự nhưng hành vi vẫn có dấu hiệu vi phạm hành chính thì tuỳ trường hợp mà người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp ban hành quyết định xử phạt hành chính hoặc, hồ sơ sẽ được chuyển ngược lại cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, theo khoản 3 Điều 62 và khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012,sửa đổi 2022.
5. Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn phải trả những khoản nào khác?
Người vi phạm còn phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm, bao gồm cả chi phí phát sinh, để hoàn trả cho bên bị chiếm đoạt theo điểm b khoản 11 Điều 13 và Phụ lục Nghị định 133/2026/NĐ-CP. Đồng thời, bên bán điện có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự tương ứng theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 nếu có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
6. Nếu không đồng ý với kết quả kiểm tra sử dụng điện thì phải làm gì?
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. Việc khiếu nại cần nêu rõ căn cứ không đồng ý với cách xác định giá trị sản lượng điện bị chiếm đoạt hoặc trình tự kiểm tra, lập biên bản đã áp dụng.
Kết luận
Trộm cắp điện là hành vi có thể kéo theo hậu quả pháp lý ở nhiều cấp độ khác nhau, từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, tùy thuộc vào giá trị điện năng bị chiếm đoạt và các tình tiết cụ thể của từng vụ việc. Việc xác định đúng ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu hình sự, cũng như thực hiện đúng quyền khiếu nại khi cần thiết, là yếu tố quyết định đến kết quả xử lý vụ việc. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tư vấn phương án xử lý phù hợp khi bị lập biên bản hoặc xem xét trách nhiệm liên quan đến hành vi này. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025)
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Nghị định 133/2026/NĐ-CP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Bồi thường thiệt hại do trộm điện, Chiếm đoạt điện năng, Giá trị điện bị chiếm đoạt, Khiếu nại xử phạt hành chính, tội trộm cắp tài sản, Trách nhiệm hình sự trộm cắp điện, Trộm cắp điện, Trộm điện bị phạt bao nhiêu, Xử phạt hành chính trong lĩnh vực điện, Xử phạt vi phạm điện lực

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.