Doanh nghiệp bị tố lừa đảo do vi phạm hợp đồng có thể đối diện rủi ro hình sự, nhưng chậm thanh toán hoặc không thực hiện đúng cam kết chưa đương nhiên cấu thành tội phạm. Việc xác định tội danh HS phải làm rõ doanh nghiệp hoặc người đại diện có sử dụng thủ đoạn gian dối ngay từ khi giao kết và có mục đích chiếm đoạt tài sản hay không, theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Trong 24 đến 48 giờ đầu, doanh nghiệp cần bảo toàn hồ sơ, đối chiếu nghĩa vụ đã thực hiện, thông báo phương án khắc phục và kiểm soát nội dung giải trình với sự hỗ trợ của Luật Long Phan PMT.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Vi phạm hợp đồng chỉ chuyển thành rủi ro hình sự khi có thủ đoạn gian dối gắn với mục đích chiếm đoạt tài sản.
- Trong 24 đến 48 giờ đầu, phải bảo toàn hợp đồng, chứng từ, email, tin nhắn và dữ liệu dòng tiền để chứng minh bản chất giao dịch.
- Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền; im lặng hoặc né tránh có thể làm bất lợi cho quá trình giải trình.
- Không ký văn bản thừa nhận “lừa đảo” hoặc “chiếm đoạt”; mức phạt vi phạm hợp đồng thương mại tối đa thường là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.
Phân định ranh giới pháp lý: Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thương mại và Tội chiếm đoạt tài sản
Việc chậm thanh toán, không giao hàng hoặc không thực hiện đúng hợp đồng không mặc nhiên cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) hoặc Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017). Ranh giới giữa tranh chấp dân sự, thương mại và trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào bản chất hành vi, phương thức chiếm đoạt và ý thức chủ quan của người thực hiện.
Theo khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự; đồng thời, cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực đối với các bên và phải được các bên tôn trọng. Vì vậy, việc đánh giá một vụ việc cần căn cứ vào toàn bộ quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, không chỉ dựa trên việc một bên chưa thanh toán hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ.
| Tiêu chí | Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thương mại | Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản/Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản |
| Bản chất | Một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết đã xác lập. | Người phạm tội chiếm đoạt tài sản thông qua hành vi gian dối (Điều 174) hoặc lợi dụng sự tin tưởng sau khi được giao tài sản hợp pháp rồi chiếm đoạt (Điều 175). |
| Yếu tố lỗi | Có thể phát sinh do khó khăn tài chính, rủi ro kinh doanh, sai sót quản trị, nguyên nhân khách quan. | Phải chứng minh có lỗi cố ý nhằm chiếm đoạt tài sản và đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. |
| Thời điểm hình thành ý chí | Khi giao kết hợp đồng, các bên có ý chí thực hiện giao dịch; việc vi phạm phát sinh trong quá trình thực hiện. | Điều 174: Ý định chiếm đoạt gắn với hành vi gian dối để được giao tài sản. Điều 175: Ban đầu việc nhận tài sản là hợp pháp, sau đó mới phát sinh hành vi chiếm đoạt theo các phương thức luật định. |
| Hướng xử lý | Buộc thực hiện hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, hủy bỏ hoặc chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật. | Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 hoặc 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. |
| Ngưỡng tài sản | Không phụ thuộc ngưỡng giá trị để phát sinh trách nhiệm hợp đồng. | Điều 174: từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp luật định. Điều 175: từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp luật định. |
| Chủ thể chịu trách nhiệm | Doanh nghiệp | pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự do đó nếu đủ dấu hiệu cấu thành thì sẽ tiến hành truy cứu các cá nhân liên quan (thông thường là giám đốc, kế toán, người phụ trách chính…) |
Giá trị tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 và khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chỉ là một trong các điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh có thủ đoạn gian dối nhằm làm cho người bị hại giao tài sản. Đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, phải chứng minh người phạm tội được giao tài sản hợp pháp nhưng sau đó thực hiện hành vi chiếm đoạt theo Điều 175. Chỉ việc không thực hiện đúng hợp đồng hoặc mất khả năng thanh toán không đương nhiên cấu thành tội phạm.
Bản chất của vi phạm hợp đồng (Tranh chấp dân sự/thương mại)
Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phát sinh khi một bên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết. Trong quan hệ thương mại, hành vi này không mặc nhiên làm phát sinh trách nhiệm hình sự mà trước hết được xử lý theo các cơ chế của pháp luật dân sự và thương mại.
Trên thực tế, doanh nghiệp có thể chậm giao hàng, chậm thanh toán hoặc không hoàn thành nghĩa vụ do nhiều nguyên nhân như khó khăn tài chính, biến động thị trường, rủi ro trong hoạt động kinh doanh hoặc các yếu tố khách quan khác. Những tình huống này chưa đủ căn cứ để xác định có hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu không có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Theo Điều 292 Luật Thương mại 2005, khi có vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm có thể áp dụng một hoặc nhiều chế tài sau:
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng nhằm yêu cầu tiếp tục giao hàng, thanh toán hoặc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.
- Phạt vi phạm nếu hợp đồng có thỏa thuận về phạt vi phạm.
- Buộc bồi thường thiệt hại khi có thiệt hại thực tế và đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo điều kiện luật định hoặc theo thỏa thuận.
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng khi có căn cứ áp dụng chế tài.
- Hủy bỏ hợp đồng nếu thuộc trường hợp pháp luật hoặc hợp đồng cho phép.
Các chế tài này nhằm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm hoặc bù đắp thiệt hại phát sinh, thể hiện bản chất dân sự, thương mại của quan hệ tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết vụ việc, các tài liệu thể hiện việc doanh nghiệp tiếp tục thực hiện một phần nghĩa vụ, chủ động đàm phán, đề xuất phương án khắc phục hoặc thiện chí thanh toán là những tình tiết quan trọng để đánh giá bản chất của quan hệ pháp lý. Tuy nhiên, đây không phải là căn cứ đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự nếu cơ quan có thẩm quyền xác định vẫn có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Rủi ro tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Rủi ro hình sự phát sinh khi người thực hiện sử dụng thủ đoạn gian dối làm cho người bị hại tin tưởng và tự nguyện giao tài sản nhằm chiếm đoạt. Dấu hiệu quan trọng không phải là việc sau đó không thực hiện cam kết, mà là hành vi gian dối phải có trước thời điểm người bị hại giao tài sản và là nguyên nhân khiến họ giao tài sản.
Theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì thuộc khung hình phạt cơ bản. Trường hợp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng, người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội chiếm đoạt tài sản quy định tại Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Như vậy, việc mất khả năng thanh toán hoặc không thực hiện đúng hợp đồng không đồng nghĩa với hành vi lừa đảo. Cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, đặc biệt là hành vi gian dối có trước thời điểm giao tài sản và mục đích chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, các tài liệu chứng minh năng lực thực hiện hợp đồng, quá trình thực hiện giao dịch, việc giao hàng, thanh toán, trao đổi giữa các bên và các phương án khắc phục khi phát sinh vi phạm đều là nguồn chứng cứ quan trọng để đánh giá bản chất của vụ việc và phân định giữa tranh chấp hợp đồng với trách nhiệm hình sự.
Rủi ro bị truy cứu về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khác với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phát sinh khi người phạm tội được giao tài sản một cách hợp pháp thông qua các giao dịch như vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản theo hợp đồng, sau đó mới thực hiện hành vi chiếm đoạt theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người nào vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi thực hiện một trong các hành vi sau nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
- Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.
- Đến thời hạn trả tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.
- Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả.
Khung hình phạt cơ bản áp dụng đối với trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Trường hợp tài sản trị giá dưới 4.000.000 đồng, người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội chiếm đoạt tài sản quy định tại Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Do đó, không phải mọi trường hợp chậm thanh toán hoặc không hoàn trả tài sản đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh người nhận tài sản đã thực hiện một trong các hành vi quy định tại Điều 175 và có mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn tài chính, vẫn thiện chí thực hiện hợp đồng, tích cực đàm phán, thanh toán một phần nghĩa vụ hoặc chủ động đề xuất phương án khắc phục thì đây là những tình tiết quan trọng để đánh giá bản chất vụ việc, mặc dù không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự nếu vẫn có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng, Điều 175 thường được viện dẫn nhiều hơn Điều 174 khi tài sản được giao cho bên nhận một cách hợp pháp thông qua hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công, hợp đồng đại lý hoặc các giao dịch thương mại khác. Vì vậy, việc chứng minh năng lực thực hiện hợp đồng, thiện chí khắc phục vi phạm và nguyên nhân khách quan dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định giữa vi phạm hợp đồng và hành vi chiếm đoạt tài sản.
Cẩm nang xử lý khẩn cấp trong 24 – 48 giờ đầu khi doanh nghiệp bị tố lừa đảo do vi phạm hợp đồng
24 – 48 giờ đầu là khoảng thời gian nghiệp vụ để doanh nghiệp bảo toàn chứng cứ và kiểm soát phát ngôn. Đây không phải thời hạn luật định. Mục tiêu chính là chứng minh vụ việc phát sinh từ vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, không phải thủ đoạn được chuẩn bị nhằm chiếm đoạt tài sản.
Doanh nghiệp nên triển khai theo trình tự sau:
- Sao lưu toàn bộ hồ sơ giao dịch, gồm hợp đồng, phụ lục, hóa đơn, chứng từ thanh toán, email, tin nhắn và dữ liệu giao nhận.
- Lập bảng đối chiếu nghĩa vụ, xác định rõ phần đã thực hiện, phần còn thiếu, thời điểm vi phạm và nguyên nhân phát sinh.
- Phân loại nguyên nhân vi phạm, tách biệt khó khăn khách quan với sai sót quản trị hoặc quyết định chủ quan của người phụ trách.
- Gửi thông báo bằng văn bản, nêu tình trạng thực hiện, nguyên nhân và phương án khắc phục có thời hạn cụ thể.
Việc xử lý sớm giúp hạn chế nguy cơ đối tác cho rằng doanh nghiệp cố tình né tránh nghĩa vụ hoặc có dấu hiệu che giấu hành vi vi phạm.
Rà soát hồ sơ giao dịch và thực hiện nghĩa vụ thông báo khẩn
Hồ sơ cần phản ánh đầy đủ diễn biến từ khi đàm phán đến thời điểm phát sinh vi phạm. Doanh nghiệp không nên chỉ tập hợp tài liệu có lợi, vì sự thiếu nhất quán có thể làm giảm độ tin cậy của bản giải trình.
Quy trình rà soát nên thực hiện như sau:
- Kiểm tra năng lực cung ứng, nguồn hàng, nhân sự và tài chính tại thời điểm ký hợp đồng.
- Đối chiếu từng lần giao hàng, nghiệm thu, thanh toán hoặc hoàn trả với chứng từ tương ứng.
- Xác định thời điểm doanh nghiệp biết mình không thể thực hiện đúng hạn.
- Lập văn bản thông báo khó khăn, phương án gia hạn, đổi hàng hoặc hoàn tiền.
Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thể thực hiện đúng thời hạn, theo Khoản 2 Điều 353 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng thương mại, doanh nghiệp cũng phải thông báo ngay cho bên kia theo Điều 315 Luật Thương mại 2005.
Thông báo phải có bằng chứng gửi và nhận. Nội dung không nên thừa nhận “lừa đảo”, “chiếm đoạt” hoặc “cố ý gian dối” khi bản chất pháp lý chưa được xác định.
Chiến lược chứng minh doanh nghiệp không có “mục đích chiếm đoạt tài sản”
Mất khả năng thanh toán do kinh doanh thua lỗ không tự động cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trọng tâm là chứng minh doanh nghiệp có căn cứ hợp lý để tin rằng mình có khả năng thực hiện hợp đồng và không sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm nhận tài sản của đối tác.
Bộ hồ sơ phản biện nên thể hiện các dữ kiện sau:
- Doanh nghiệp có hàng hóa, nhà cung cấp, nhân sự, giấy phép hoặc nguồn lực phù hợp tại thời điểm ký kết.
- Doanh nghiệp đã thực hiện một phần nghĩa vụ, giao một phần hàng hoặc hoàn trả một phần tiền.
- Khó khăn phát sinh đã được thông báo và có tài liệu chứng minh nguyên nhân.
- Người đại diện vẫn duy trì liên lạc, làm việc tại địa chỉ đăng ký và phối hợp xử lý.
- Doanh nghiệp có phương án gia hạn, đổi hàng, thanh toán hoặc hoàn tiền khả thi.
- Không có dữ kiện về sử dụng thông tin giả.
- Không có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản hoặc cố ý cắt đứt liên lạc nhằm trốn tránh nghĩa vụ.
Theo Điều 174 và Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng chỉ bị xử lý hình sự khi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Do đó, lời giải trình của doanh nghiệp chỉ có giá trị khi được đối chiếu với hồ sơ giao dịch, chứng từ kế toán, dữ liệu thanh toán và các chứng cứ khách quan khác.

Xử lý rủi ro khi đối tác đe dọa “bóc phốt” và khủng hoảng truyền thông
Bài đăng tố cáo có thể khiến tranh chấp hợp đồng nhanh chóng trở thành khủng hoảng uy tín. Doanh nghiệp cần phản hồi dựa trên hồ sơ, tránh tranh cãi cảm tính hoặc công khai dữ liệu chưa được kiểm chứng. Mục tiêu trước mắt là thông tin kịp thời về việc doanh nghiệp đang giải quyết vụ việc, đồng thời hạn chế việc các thông tin một chiều dẫn đến những nhận định hoặc suy diễn chưa được cơ quan có thẩm quyền kết luận.
Khi nội dung đăng tải chứa thông tin sai sự thật hoặc có tính chất xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật, cá nhân bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bảo vệ uy tín. Căn cứ Khoản 1, Khoản 2 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân được pháp luật bảo vệ.
Kỹ năng phát hành thông báo pháp lý trung lập
Thông báo pháp lý trung lập không nhằm phủ nhận mọi trách nhiệm hợp đồng. Văn bản phải xác nhận đúng phạm vi tranh chấp, thể hiện thiện chí xử lý và không chứa lời thừa nhận dấu hiệu hình sự.
Nội dung thông báo nên tập trung vào các điểm sau:
- Xác nhận giữa các bên đang tồn tại tranh chấp về thực hiện hợp đồng, chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
- Nêu rõ doanh nghiệp đang rà soát hồ sơ, đối chiếu nghĩa vụ và làm việc với bên liên quan.
- Đề nghị các bên không đăng tải thông tin chưa được kiểm chứng hoặc sử dụng từ ngữ quy kết tội phạm.
- Công bố một đầu mối tiếp nhận tài liệu và phản hồi nhằm tránh phát ngôn không thống nhất.
- Không công khai dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh hoặc chứng cứ chưa được kiểm tra.
- Khẳng định doanh nghiệp sẽ phối hợp với cơ quan có thẩm quyền và tôn trọng kết quả giải quyết theo quy định pháp luật.
Căn cứ yêu cầu cải chính và bồi thường thiệt hại do xâm phạm uy tín
Khi bài đăng chứa thông tin sai sự thật về cá nhân quản lý doanh nghiệp, người bị ảnh hưởng có thể yêu cầu gỡ bỏ và cải chính. Thông tin đăng trên phương tiện nào phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện đó hoặc bằng phương tiện khác nếu việc cải chính trên phương tiện cũ không thực hiện được, theo Khoản 3 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015.
Các quyền dân sự có thể được xem xét gồm:
- Yêu cầu bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm hoặc uy tín.
- Yêu cầu người đăng bài gỡ bỏ và cải chính công khai trên chính kênh đã phát tán thông tin.
- Yêu cầu xin lỗi công khai nếu nội dung đã gây tổn hại đến cá nhân bị nhắc tên.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chứng minh được hành vi, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin là không đúng nếu không xác định được người đưa tin, theo Khoản 4 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015.
Ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin, cá nhân bị ảnh hưởng còn có quyền yêu cầu xin lỗi, cải chính và bồi thường thiệt hại, căn cứ Khoản 5 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp thông tin được đăng tải trên môi trường mạng, tùy tính chất vụ việc, người bị ảnh hưởng còn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về an ninh mạng và quản lý thông tin trên mạng.
Việc yêu cầu gỡ bỏ, cải chính hoặc bồi thường thiệt hại không thay thế nghĩa vụ giải quyết tranh chấp hợp đồng. Doanh nghiệp nên đồng thời xử lý quan hệ hợp đồng, chuẩn bị chứng cứ và kiểm soát truyền thông để hạn chế rủi ro pháp lý và bảo vệ uy tín trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.
Giá trị pháp lý của việc tự nguyện khắc phục hậu quả
Việc doanh nghiệp chủ động hoàn tiền, bồi thường hoặc thực hiện các biện pháp khắc phục có thể là tình tiết quan trọng khi đánh giá bản chất vụ việc. Tuy nhiên, việc khắc phục hậu quả không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự nếu cơ quan có thẩm quyền xác định có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Trường hợp cá nhân bị xem xét trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với doanh nghiệp, việc hoàn tiền hoặc bồi thường vẫn có ý nghĩa trong việc chứng minh thiện chí thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, giảm thiểu thiệt hại và hỗ trợ làm rõ bản chất của quan hệ dân sự, thương mại. Tuy nhiên, giá trị chứng minh của các hành vi này sẽ được đánh giá cùng với toàn bộ chứng cứ của vụ việc.
Lưu ý khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra khi có đơn tố giác
Trong giai đoạn tiếp nhận, kiểm tra, xác minh tố giác về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ thu thập tài liệu, làm việc với các bên liên quan để làm rõ bản chất vụ việc. Doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ và trình bày thống nhất với các tài liệu, chứng cứ đã phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Hướng dẫn cấu trúc bản giải trình/tường trình sự việc
Bản giải trình phải trình bày theo trục thời gian, có tài liệu đối chiếu và không sử dụng kết luận pháp lý cảm tính. Cấu trúc phù hợp gồm:
- Quá trình đàm phán: Nêu chủ thể tham gia, nhu cầu giao dịch và thông tin đã cung cấp trước khi ký.
- Thời điểm giao kết: Làm rõ căn cứ để doanh nghiệp tin rằng mình có khả năng thực hiện hợp đồng tại thời điểm giao kết, như nguồn hàng, đối tác cung ứng, năng lực tài chính, nhân sự hoặc các nguồn lực khác.
- Quá trình thực hiện: Liệt kê các lần giao hàng, thanh toán, nghiệm thu hoặc hoàn trả đã hoàn thành.
- Nguyên nhân vi phạm: Phân biệt khó khăn khách quan với sai sót quản trị nội bộ.
- Biện pháp khắc phục: Trình bày phương án gia hạn, đổi hàng, thanh toán hoặc hoàn tiền.
- Danh mục chứng cứ: Đính kèm hợp đồng, hóa đơn, sao kê, email, tin nhắn và biên bản làm việc.
Bản giải trình phải thống nhất với dữ liệu kế toán và chứng từ gốc. Mâu thuẫn về thời điểm, số tiền hoặc mục đích sử dụng dòng tiền có thể làm giảm giá trị của toàn bộ nội dung trình bày.
Quyền và nguyên tắc ký biên bản ghi lời khai
Người làm việc cần bảo đảm biên bản phản ánh đúng nội dung đã trình bày và tài liệu đã giao nộp.
Các nguyên tắc cần tuân thủ gồm:
- Đọc toàn bộ biên bản trước khi ký, nhất là phần mô tả mục đích nhận và sử dụng tiền.
- Yêu cầu sửa nội dung ghi sai thời gian, số tiền, chủ thể hoặc diễn biến giao dịch.
- Đề nghị ghi nhận tài liệu thể hiện doanh nghiệp đã thực hiện một phần nghĩa vụ và vẫn chủ động khắc phục.
- Không ký vào phần còn trống hoặc nội dung chưa được đọc đầy đủ.
- Yêu cầu được đọc lại hoặc tự đọc toàn bộ biên bản trước khi ký.
- Yêu cầu ghi nhận đầy đủ ý kiến bổ sung hoặc chỉnh sửa nếu nội dung chưa phản ánh đúng lời trình bày.
Mọi câu trả lời phải bám vào chứng cứ. Việc suy đoán, phủ nhận tuyệt đối hoặc thay đổi lời trình bày nhiều lần có thể khiến quá trình đánh giá vụ việc trở nên bất lợi.
Các trường hợp doanh nghiệp nên mời luật sư hỗ trợ
Luật sư nên tham gia ngay khi vụ việc có khả năng vượt khỏi một tranh chấp hợp đồng đơn lẻ. Các tín hiệu rủi ro cao gồm:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu giám đốc, kế toán trưởng hoặc nhân sự chủ chốt làm việc.
- Có nhiều khách hàng hoặc đối tác cùng gửi tố giác về một phương thức giao dịch.
- Giá trị tài sản lớn hoặc dòng tiền đã được chuyển qua nhiều tài khoản.
- Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán kéo dài, không có phương án khắc phục hoặc không hợp tác giải quyết với đối tác.
- Có dấu hiệu sử dụng tiền của khách hàng sau để thực hiện nghĩa vụ với khách hàng trước hoặc sử dụng dòng tiền không đúng mục đích đã cam kết.
- Người đại diện ngừng liên lạc, rời khỏi địa chỉ hoạt động hoặc bị tố tẩu tán tài sản.
- Hồ sơ thể hiện doanh nghiệp đã cam kết vượt quá năng lực thực tế tại thời điểm ký kết.
Trong các trường hợp trên, doanh nghiệp nên mời luật sư rà soát hồ sơ, đánh giá trách nhiệm pháp lý của từng cá nhân liên quan (nếu có), chuẩn bị tài liệu và hỗ trợ làm việc với cơ quan có thẩm quyền. Việc chuẩn bị từ giai đoạn đầu giúp bảo đảm lời trình bày thống nhất với chứng cứ và hạn chế phát sinh những bất lợi trong quá trình giải quyết vụ việc.

Dịch vụ luật sư bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp trong các vụ án kinh tế tại Luật Long Phan PMT
Tố giác lừa đảo từ tranh chấp hợp đồng đòi hỏi đánh giá đồng thời chứng cứ giao dịch, dòng tiền và trách nhiệm của từng cá nhân. Luật sư tham gia sớm là phương án an toàn để kiểm soát bản giải trình, hoạt động thương lượng và nguy cơ hình sự hóa quan hệ kinh tế. Luật Long Phan PMT thực hiện các công việc chuyên môn sau:
- Thẩm định rủi ro hình sự từ hợp đồng, phụ lục, hóa đơn, sao kê, email và hồ sơ thực hiện nghĩa vụ.
- Xây dựng bảng đối chiếu nghĩa vụ, dòng tiền và diễn biến giao dịch nhằm phản biện dấu hiệu thủ đoạn gian dối hoặc mục đích chiếm đoạt.
- Soạn thảo bản tường trình, bản giải trình và danh mục chứng cứ phục vụ quá trình xác minh tố giác.
- Cử Luật sư tham gia làm việc cùng giám đốc, người đại diện, kế toán trưởng hoặc chuyên viên pháp lý tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.
- Rà soát nội dung biên bản ghi lời khai, đề nghị điều chỉnh thông tin sai lệch và kiểm soát các phát ngôn có thể gây bất lợi.
- Đại diện đàm phán phương án gia hạn, hoàn tiền, bồi thường hoặc xử lý phần nghĩa vụ hợp đồng chưa hoàn thành.
- Kiểm tra câu chữ trong biên bản thỏa thuận để tránh việc khắc phục hậu quả bị diễn giải thành lời thừa nhận hành vi phạm tội.
- Soạn thông báo pháp lý trung lập và văn bản yêu cầu chấm dứt đăng tải thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín.
Quý khách hàng vui lòng gửi hồ sơ vụ việc qua Email: pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo: 0939.846.973 để Luật Long Phan PMT đánh giá sơ bộ rủi ro và phương án xử lý.
Câu hỏi thường gặp về cách xử lý khẩn cấp khi doanh nghiệp bị tố lừa đảo do vi phạm hợp đồng
Khủng hoảng pháp lý khi “doanh nghiệp bị tố lừa đảo do vi phạm hợp đồng” thường xuất phát từ việc lúng túng trong nỗ lực thương lượng, gỡ bài đăng bôi nhọ hoặc xác định rủi ro án tích. Việc phân định chính xác ranh giới giữa trách nhiệm dân sự, thương mại và trách nhiệm hình sự sẽ giúp doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Danh mục hỏi đáp chuyên sâu này cung cấp định hướng pháp lý trực diện cho những tình huống rủi ro cấp bách nhất.
1. Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán hợp đồng có bị khép vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Việc mất khả năng thanh toán khách quan do thua lỗ không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu không có hành vi gian dối làm cho đối tác tin tưởng giao tài sản nhằm chiếm đoạt. Trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới mức này trong một số ngoại lệ căn cứ Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
2. Doanh nghiệp cần làm gì để bảo vệ quyền lợi khi đối tác đăng bài bôi nhọ, tố cáo “lừa đảo” sai sự thật trên mạng xã hội?
Doanh nghiệp hoặc cá nhân bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu đối tác gỡ bỏ bài đăng sai sự thật, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại đối với uy tín bị xâm phạm. Thông tin làm ảnh hưởng xấu đến uy tín được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện đó theo quy định tại Khoản 3, Khoản 5 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015. Doanh nghiệp cần chủ động lập vi bằng làm chứng cứ thay vì công kích ngược lại.
3. Doanh nghiệp có được tự ý hủy bỏ hợp đồng thương mại khi đối tác vi phạm cam kết và cắt đứt liên lạc không?
Doanh nghiệp có thể hủy bỏ hợp đồng nếu thuộc trường hợp luật định hoặc hợp đồng cho phép, chẳng hạn khi đối tác có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp, bên huỷ bỏ hợp đồng thương mại bắt buộc phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ này theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 312 và Điều 315 Luật Thương mại 2005. Việc tự ý chấm dứt mà không thực hiện thủ tục thông báo có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngược lại.
4. Giới hạn mức phạt vi phạm hợp đồng thương mại tối đa khi thương lượng khắc phục rủi ro thanh toán là bao nhiêu?
Các bên chỉ được quyền áp dụng chế tài phạt vi phạm khi trong hợp đồng thương mại có thỏa thuận trước về điều khoản này. Mức phạt vi phạm do doanh nghiệp và đối tác tự do thỏa thuận, nhưng tổng mức phạt tuyệt đối không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm căn cứ Điều 300, Điều 301 Luật Thương mại 2005. Khi lập biên bản thương lượng, doanh nghiệp cần đối chiếu tỷ lệ này để tránh việc đối tác áp đặt các khoản phạt vô lý.
5. Việc chủ động hoàn trả toàn bộ tài sản cho đối tác có giúp doanh nghiệp và người đại diện thoát khỏi án hình sự lừa đảo không?
Việc tự nguyện hoàn trả tài sản, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đối với cá nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đây có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
6. Hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng có giá trị dưới 2.000.000 đồng thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản dưới mức 2.000.000 đồng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu sự việc thuộc một trong các trường hợp ngoại lệ. Pháp luật xử lý hình sự đối với mức tài sản này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích, hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội, hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại căn cứ Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Kết luận
Doanh nghiệp bị tố lừa đảo do vi phạm hợp đồng cần nhanh chóng chứng minh bản chất là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, đồng thời phản biện rõ thủ đoạn gian dối và mục đích chiếm đoạt tài sản của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc bảo toàn hồ sơ, kiểm soát nội dung giải trình, thương lượng đúng pháp lý và xử lý thông tin sai lệch phải được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu. Chậm phản ứng, phát ngôn thiếu kiểm soát hoặc ký văn bản thừa nhận bất lợi có thể làm gia tăng rủi ro hình sự. Liên hệ Hotline 1900.63.63.87 để Luật Long Phan PMT đánh giá hồ sơ và xây dựng phương án bảo vệ quyền lợi kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Dân sự 2015
- Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
- Luật Thương mại 2005
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Đại diện đàm phán mức phạt và bồi thường thiệt hại, Đánh giá nguy cơ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Hỗ trợ soạn thảo và phát hành thông báo pháp lý trung lập, Hướng dẫn quy trình bảo toàn chứng cứ hồ sơ giao dịch, Soạn thảo bản tường trình và giải trình sự việc chi tiết, Thẩm định rủi ro tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tư vấn chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông doanh nghiệp, Tư vấn giải quyết vi phạm hợp đồng thương mại, Tư vấn phân định ranh giới trách nhiệm hình sự và dân sự

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.