Cho vay lãi nặng nhiều lần giao dịch chỉ được cộng dồn số tiền thu lợi bất chính khi thỏa mãn đúng điều kiện tại Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, không tính gộp tùy tiện theo tổng các lần vay. Luật Long Phan PMT nhận thấy đây là vướng mắc phổ biến khi khách hàng cần xác định tội danh hình sự cho hành vi thực hiện nhiều hợp đồng vay với mức lãi suất, thời điểm khác nhau. Bài viết phân tích cách tính từng lần vay, nguyên tắc cộng dồn và mốc thời hiệu cần lưu ý.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Số tiền cho vay lãi nặng nhiều lần giao dịch chỉ được cộng dồn để xử lý hình sự khi thỏa mãn đồng thời điều kiện về mức thu lợi bất chính và thời hiệu truy cứu.
- Mỗi lần cho vay lãi nặng thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên còn bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”.
- Cách tính tiền lãi vượt mức trong từng lần vay phụ thuộc vào tình trạng khoản vay tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền xử lý, không áp dụng một công thức chung cho mọi trường hợp.
- Toàn bộ tiền gốc dùng để cho vay và tiền lãi vượt mức lãi suất hợp pháp đều có thể bị tịch thu sung công quỹ nhà nước sau khi có bản án có hiệu lực.
Nguyên tắc tính số tiền thu lợi bất chính trong từng lần giao dịch cho vay
Số tiền thu lợi bất chính của mỗi lần cho vay được xác định theo 03 tình huống cụ thể tùy vào tình trạng khoản vay tại thời điểm xử lý, làm căn cứ nền tảng trước khi thực hiện việc cộng dồn nhiều lần giao dịch. Ba tình huống này áp dụng độc lập cho từng hợp đồng vay riêng biệt.
Khoản vay đã hết thời hạn theo thỏa thuận
Theo Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, trường hợp cho vay lãi nặng đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận thì số tiền thu lợi bất chính bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay, sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự 2015 tính trong cả kỳ hạn vay. Cách tính này áp dụng cho những hợp đồng vay đã đến hạn thanh toán nhưng vẫn còn trong thời hiệu xử lý.
Khoản vay chưa hết thời hạn mà bị phát hiện
Với những hợp đồng còn đang trong thời hạn vay khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định số tiền thu lợi bất chính chỉ được tính đến thời điểm phát hiện và ngăn chặn, sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự. Quy định này tránh việc tính khống phần lãi suất chưa phát sinh trên thực tế của khoản vay chưa đến hạn.
Bên vay đã trả lãi trước hạn và các khoản thu trái pháp luật khác
Trường hợp bên vay tự nguyện trả lãi trước hạn cùng các khoản thu trái pháp luật khác, Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP xác định số tiền thu lợi bất chính là khoản tiền người vay đã thực tế trả cho người cho vay, sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự. Lưu ý, khoản tiền chưa thực tế trả dù đã ghi trong hợp đồng không được tính vào số tiền thu lợi bất chính của lần vay này, người vay và người cho vay cần phân biệt rõ số tiền đã trả thực tế với số tiền ghi trên giấy tờ vay nợ để tránh xác định sai trách nhiệm.
Cách xử lý số tiền cho vay khi có nhiều lần giao dịch cho vay lãi nặng
Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định 04 tình huống cụ thể để xử lý số tiền cho vay khi người phạm tội thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mỗi tình huống có cách cộng dồn và hệ quả pháp lý khác nhau. Đây là nội dung then chốt quyết định khung hình phạt cuối cùng áp dụng cho người cho vay.
Mỗi lần cho vay đều thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, nếu mỗi lần cho vay lãi nặng đều thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên, mỗi lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người phạm tội bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của tất cả các lần cộng lại. Ngoài khung hình phạt theo tổng số tiền, người phạm tội còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Mỗi lần cho vay thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng nhưng tổng cộng từ 30.000.000 đồng trở lên
Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định nếu từng lần cho vay đều thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính của tất cả các lần đạt từ 30.000.000 đồng trở lên, đồng thời các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền cộng dồn. Điểm khác biệt quan trọng so với trường hợp trên là không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Lưu ý, điều kiện “chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính” tại trường hợp này căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020, 2025) và Điều 6 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, theo đó thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là 01 năm kể từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm nếu hành vi đã chấm dứt, đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm. Như vậy, nếu một lần cho vay đã quá 01 năm mà chưa bị xử lý, lần đó không còn đủ điều kiện để cộng dồn vào tổng số tiền thu lợi bất chính.
Một lần cho vay đủ 30.000.000 đồng trở lên, các lần còn lại dưới 30.000.000 đồng
Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP xử lý tình huống hỗn hợp: trong nhiều lần cho vay, có một lần thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, còn các lần khác thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của toàn bộ các lần cho vay, nhưng cũng không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”.
Chưa thu được lợi bất chính hoặc thu dưới 30.000.000 đồng vì nguyên nhân ngoài ý muốn
Theo khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, nếu người cho vay lãi nặng có ý định thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn mà chưa thu được hoặc chỉ thu được dưới 30.000.000 đồng, người này vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính mà họ nhằm đạt được. Việc xác định số tiền thu lợi bất chính trong trường hợp này vẫn thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP đã trình bày ở phần trên.
Lưu ý, đây là trường hợp phạm tội chưa đạt, khi quyết định hình phạt Tòa án áp dụng đồng thời Điều 15 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015, theo đó mức hình phạt đối với phạm tội chưa đạt thường được xem xét nhẹ hơn so với trường hợp tội phạm đã hoàn thành.
>>> Xem thêm: Vay nóng, cho vay nóng – Cần lưu ý gì để không phạm pháp?

So sánh các trường hợp cộng dồn số tiền cho vay lãi nặng qua nhiều lần giao dịch
Để thuận tiện tra cứu, doanh nghiệp và cá nhân có thể đối chiếu tình huống thực tế của mình với bảng tổng hợp căn cứ tại Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP dưới đây trước khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền.
| Căn cứ | Mức thu lợi mỗi lần | Điều kiện thời hiệu | Áp dụng tình tiết tăng nặng “02 lần trở lên” |
| Khoản 1 Điều 7 | Mỗi lần từ 30.000.000 đồng trở lên | Mỗi lần chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự | Có |
| Khoản 2 Điều 7 | Mỗi lần dưới 30.000.000 đồng, tổng cộng từ 30.000.000 đồng trở lên | Chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính | Không |
| Khoản 3 Điều 7 | Một lần từ 30.000.000 đồng trở lên, các lần còn lại dưới 30.000.000 đồng | Lần đủ mức chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; các lần còn lại chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính | Không |
Thời hiệu ảnh hưởng thế nào đến việc cộng dồn số tiền cho vay nhiều lần?
Điều kiện “chưa hết thời hiệu” là yếu tố bắt buộc trong cả 03 tình huống cộng dồn nêu trên, do đó việc xác định chính xác thời hiệu áp dụng cho từng lần cho vay có ý nghĩa quyết định đến tổng số tiền cuối cùng bị xem xét trách nhiệm.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay lãi nặng
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025 có mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tù đến 03 năm, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng theo điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự. Theo điểm a khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 05 năm kể từ ngày tội phạm được thực hiện. Như vậy, một lần cho vay lãi nặng chỉ còn được cộng dồn theo khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP nếu chưa quá 05 năm.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chưa đến mức xử lý hình sự
Đối với các lần cho vay lãi nặng có mức thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập, thời hiệu áp dụng là thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Theo khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020, 2025) và Điều 6 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, theo đó thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là 01 năm kể từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm nếu hành vi đã chấm dứt, đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.
Hậu quả pháp lý đối với số tiền cho vay và tiền lãi thu được qua nhiều lần giao dịch
Sau khi tổng số tiền thu lợi bất chính được xác định theo các nguyên tắc cộng dồn nêu trên, Tòa án phải xử lý toàn bộ vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm theo quy định riêng, không đơn thuần chỉ tuyên hình phạt đối với người cho vay.
Khoản tiền, tài sản dùng để cho vay và tiền lãi vượt mức bị tịch thu sung công quỹ nhà nước
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, các khoản sau đây bị tịch thu sung quỹ nhà nước: khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay; tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay; tiền, tài sản khác mà người phạm tội có thêm được từ việc sử dụng tiền lãi và các khoản thu bất hợp pháp khác. Quy định này áp dụng cho toàn bộ các lần cho vay đã được xác định trong vụ án, không chỉ riêng lần thu lợi bất chính vượt ngưỡng.
Trường hợp số tiền thu lợi bất chính được trả lại cho người vay
Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định số tiền thu lợi bất chính mà người phạm tội thực tế đã thu được trả lại cho người vay, trừ trường hợp người vay sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy, lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp ngoại lệ này, khoản tiền thu lợi bất chính không được trả lại mà bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Lưu ý, người vay muốn được nhận lại khoản tiền lãi đã trả vượt mức cần chủ động cung cấp chứng cứ chứng minh mục đích sử dụng khoản vay hợp pháp ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin tội phạm, tránh để đến giai đoạn xét xử mới đưa ra chứng cứ.

Rủi ro pháp lý cần lưu ý khi thực hiện nhiều lần giao dịch cho vay lãi nặng
Khi hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện qua nhiều lần giao dịch, trách nhiệm hình sự có thể không chỉ được xem xét riêng lẻ đối với từng khoản vay mà còn phụ thuộc vào tổng số tiền thu lợi bất chính, số lần thực hiện hành vi và các hành vi phát sinh trong quá trình đòi nợ. Vì vậy, người cho vay cần đặc biệt lưu ý các rủi ro pháp lý dưới đây để đánh giá đầy đủ phạm vi trách nhiệm có thể phát sinh.
Rủi ro bị áp dụng đồng thời khung hình phạt cộng dồn và tình tiết tăng nặng
Người thực hiện nhiều lần cho vay lãi nặng với mỗi lần đều đủ 30.000.000 đồng trở lên đối mặt với rủi ro kép: vừa bị tính khung hình phạt theo tổng số tiền thu lợi bất chính của tất cả các lần theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, vừa bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sự cộng hưởng này khiến mức hình phạt thực tế thường cao hơn đáng kể so với trường hợp chỉ thực hiện một lần cho vay với cùng tổng số tiền thu lợi.
Rủi ro phát sinh thêm tội danh khác từ hành vi đòi nợ
Theo khoản 4 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, nếu người cho vay lãi nặng thực hiện thêm các hành vi liên quan đến đòi nợ như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người vay, tùy từng trường hợp họ còn bị xử lý hình sự thêm về tội phạm tương ứng nếu đủ yếu tố cấu thành. Lưu ý, đây là tình tiết thường gặp trong thực tiễn khi các khoản vay nhiều lần không được người vay thanh toán đúng hạn, người cho vay cần đặc biệt thận trọng trong cách thức đòi nợ để tránh phát sinh thêm trách nhiệm hình sự về các tội danh khác ngoài tội cho vay lãi nặng.
Dịch vụ luật sư bào chữa và tư vấn vụ án cho vay lãi nặng nhiều lần
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc xác định số tiền cho vay lãi nặng qua nhiều lần giao dịch với các công việc sau:
- Rà soát toàn bộ hợp đồng vay, giấy tờ giao nhận tiền và các chứng cứ liên quan đến từng lần giao dịch cho vay.
- Tính toán số tiền thu lợi bất chính của từng lần cho vay.
- Đánh giá điều kiện cộng dồn và thời hiệu áp dụng cho từng lần cho vay.
- Tư vấn phương án bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho người bị điều tra, truy tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Đại diện khách hàng làm việc với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
>>> Xem thêm: Thủ tục nhờ luật sư tham gia bào chữa trong án cho vay nặng lãi
Câu hỏi thường gặp về hướng dẫn xử lý số tiền cho vay lãi nặng nhiều lần giao dịch
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi có nhiều lần giao dịch cho vay lãi nặng cần xác định trách nhiệm hình sự. Các câu trả lời dựa trên quy định của Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP và Bộ luật Hình sự 2015.
1. Nhiều lần cho vay lãi nặng có bị cộng dồn số tiền để xử lý hình sự không?
Có, nếu mỗi lần cho vay hoặc tổng các lần cho vay đáp ứng điều kiện về mức thu lợi bất chính và còn thời hiệu theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP. Việc cộng dồn không áp dụng tùy tiện mà phải phân loại đúng từng tình huống tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 7 như đề cập trên. Nếu một lần cho vay đã hết thời hiệu, số tiền của lần đó không được tính vào tổng số tiền thu lợi bất chính.
2. Cho vay lãi nặng nhiều lần có luôn bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” không?
Không phải mọi trường hợp đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng này. Theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, tình tiết tăng nặng chỉ áp dụng khi mỗi lần cho vay đều thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên. Nếu thuộc trường hợp tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 7 trên, người phạm tội không bị áp dụng tình tiết tăng nặng này dù vẫn bị tính khung hình phạt theo tổng số tiền cộng dồn.
3. Một lần cho vay đã quá thời hiệu thì có được tính vào tổng số tiền thu lợi bất chính không?
Không. Điều kiện bắt buộc để cộng dồn số tiền thu lợi bất chính là từng lần cho vay phải còn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, tùy theo mức thu lợi của lần đó. Theo khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020, 2025) và Điều 6 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, theo đó thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là 01 năm kể từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm nếu hành vi đã chấm dứt, đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.
4. Tiền gốc dùng để cho vay lãi nặng có bị tịch thu không?
Có. Theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay bị tịch thu sung quỹ nhà nước cùng với tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu được. Quy định này áp dụng cho toàn bộ số tiền dùng để thực hiện các lần cho vay trong vụ án, không chỉ riêng phần vượt mức lãi suất hợp pháp.
5. Người vay có được nhận lại tiền lãi đã trả vượt mức không?
Có, theo khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, số tiền thu lợi bất chính mà người phạm tội thực tế đã thu được trả lại cho người vay. Tuy nhiên, nếu người vay sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khoản tiền này sẽ bị tịch thu sung quỹ nhà nước thay vì trả lại.
6. Nếu chưa thu được tiền lãi từ lần cho vay mới nhất thì có bị xử lý hình sự không?
Có thể bị xử lý theo khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP nếu người cho vay có ý định thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn mà chưa thu được hoặc chỉ thu được dưới mức này. Khi đó, Tòa án áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền nhằm đạt được, đồng thời áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 về phạm tội chưa đạt để xem xét mức hình phạt phù hợp.
Kết luận
Số tiền cho vay lãi nặng nhiều lần giao dịch không được cộng dồn theo cách tính đơn giản, mà phải xác định chính xác mức thu lợi bất chính, thời hiệu áp dụng và tình tiết tăng nặng của từng lần cho vay theo đúng nguyên tắc tại Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP và Bộ luật Hình sự 2015. Việc xác định sai một trong các yếu tố này có thể dẫn đến khung hình phạt chênh lệch đáng kể cho người cho vay, hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi được nhận lại tiền của người vay. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tính toán chính xác số tiền thu lợi bất chính trong từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn chi tiết có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
- Bộ luật Dân sự 2015
- Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP
- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020)
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: cho vay lãi nặng, cho vay lãi nặng nhiều lần, cộng dồn tiền thu lợi bất chính, hời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, tịch thu tiền cho vay, tiền lãi bất chính, tội cho vay lãi nặng, xử lý hình sự cho vay lãi nặng

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.