Hướng dẫn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai

Hướng dẫn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai giúp các bên làm sáng tỏ ranh giới hoặc chữ ký giả mạo bằng chứng cứ khoa học. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để Tòa án phân định đúng sai khi các chứng cứ giấy tờ mâu thuẫn nhau. Đương sự cần nộp đơn yêu cầu đúng thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Việc chuẩn bị mẫu giám định sai quy chuẩn có thể khiến yêu cầu bị bác bỏ hoặc cho kết quả sai lệch. Nhằm hỗ trợ Quý khách tối ưu hóa quyền lợi và nắm vững quy trình này, Luật Long Phan PMT xin tư vấn chi tiết ngay sau đây.

Hướng dẫn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai chi tiết nhất.
Luật Long Phan PMT tư vấn căn cứ giám định, chuẩn bị hồ sơ yêu cầu và theo dõi sát sao tiến độ giải quyết của Tòa án.

Nội Dung Bài Viết

Khi nào cần yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai?

Việc yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định là thủ tục cần thực hiện ngay khi hồ sơ vụ án xuất hiện các tình tiết phức tạp. Đương sự nên chủ động sử dụng quyền này nhằm củng cố tính xác thực của chứng cứ, đặc biệt khi có sự mâu thuẫn về ranh giới đo đạc hoặc nghi ngờ tính hợp pháp của các giấy tờ, hợp đồng chuyển nhượng.

Dấu hiệu cho thấy cần giám định để bảo vệ quyền lợi

Các tình huống điển hình phát sinh nhu cầu giám định trong tranh chấp đất đai bao gồm:

  • Tranh chấp ranh giới thửa đất: bản đồ địa chính, sơ đồ hiện trạng có sai lệch số liệu so với thực địa.
  • Nghi ngờ tài liệu giả mạo: chữ ký, con dấu, nội dung hợp đồng chuyển nhượng, giấy tờ nguồn gốc đất bị làm giả.
  • Xác định giá trị quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền để tính toán bồi thường, chia tài sản.
  • Xác định thời điểm lập văn bản, dấu hiệu sửa chữa tẩy xóa tài liệu.
  • Đánh giá chất lượng công trình xây dựng trên đất tranh chấp.

Trường hợp Tòa án tự mình trưng cầu giám định

Theo điểm c khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sau đây gọi là BLTTDS 2015), quy định trong những trường hợp luật định, Tòa án có quyền tự mình tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ, trong đó có trưng cầu giám định. Đồng thời, theo khoản 2 Điều 102 BLTTDS 2015, tòa án có quyền tự mình ra quyết định trưng cầu giám định “khi xét thấy cần thiết” để giải quyết vụ án, kể cả khi không có yêu cầu của đương sự.

>> Xem thêm: Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định trong vụ án dân sự

Căn cứ pháp lý để yêu cầu trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai

Yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải được thực hiện trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, bảo đảm đúng thẩm quyền, điều kiện và trình tự luật định. Việc xác định và viện dẫn chính xác căn cứ pháp lý là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm tính hợp lệ và khả năng được chấp nhận của yêu cầu.

Quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Căn cứ theo khoản 1 Điều 102 BLTTDS 2015 quy định đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định. Trường hợp Tòa án không chấp nhận, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định. Tại khoản 2 Điều này quy định chi tiết quyết định trưng cầu giám định của, trong đó nêu rõ tên tổ chức giám định, họ tên người giám định, đối tượng cần giám định, nội dung yêu cầu giám định, thời hạn giám định.

Căn cứ vào các khoản 3, 4, 5 Điều 102 BLTTDS 2015, khi kết luận giám định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng hoặc có căn cứ cho rằng không chính xác, vi phạm pháp luật, đương sự có quyền yêu cầu và Tòa án có thẩm quyền xem xét việc giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trường hợp cần thiết, Tòa án có thể yêu cầu người giám định giải thích kết luận, triệu tập tham gia phiên tòa để làm rõ nội dung chuyên môn. Đồng thời, việc trưng cầu giám định bổ sung được đặt ra khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết đã được giám định trước đó. Quy định này bảo đảm tính khách quan, toàn diện của chứng cứ và là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình tố tụng.

Quy định tại Luật Giám định tư pháp 2025

Căn cứ Điều 22 và Điều 23 Luật Giám định tư pháp 2025 (có hiệu lực 01/05/2026), pháp luật ghi nhận rõ các quyền của người trưng cầu và người yêu cầu giám định tư pháp trong quá trình giải quyết vụ việc. Theo đó, chủ thể có quyền trưng cầu hoặc yêu cầu giám định; yêu cầu trả kết luận đúng nội dung, thời hạn; yêu cầu giải thích kết luận giám định và đề nghị triệu tập người giám định tham gia phiên tòa để trình bày chuyên môn. Đồng thời, họ có quyền đề nghị hoặc quyết định việc giám định bổ sung, giám định lại khi có căn cứ theo luật định. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng.

Theo Điều 32 Luật Giám định tư pháp 2025, việc giám định bổ sung được đặt ra khi nội dung kết luận giám định chưa rõ ràng, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được giám định trước đó. Đồng thời, giám định lại được thực hiện khi có căn cứ nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác theo quy định của pháp luật. Người trưng cầu giám định có thẩm quyền quyết định việc giám định lại, kể cả theo đề nghị của người yêu cầu giám định, và phải thông báo bằng văn bản nếu không chấp nhận. Quy định này là cơ sở pháp lý trực tiếp để đương sự yêu cầu trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại nhằm bảo đảm tính khách quan, toàn diện của chứng cứ.

Thời điểm nộp đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai

Thời điểm nộp yêu cầu giám định quyết định khả năng được Tòa án chấp nhận và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải quyết vụ tranh chấp đất đai. Mỗi giai đoạn tố tụng có đặc điểm và hạn chế riêng đối với việc tiếp nhận yêu cầu giám định. Do đó, cần xác định chính xác vụ án đang ở giai đoạn nào để nộp yêu cầu đúng thời hạn và đúng hình thức.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Căn cứ khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định trước thời điểm Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Quy định này xác định giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là thời điểm phù hợp và thuận lợi nhất để thực hiện quyền yêu cầu giám định, bảo đảm chứng cứ được thu thập, đánh giá đầy đủ trước khi mở phiên tòa. Việc nộp yêu cầu trong giai đoạn này không chỉ bảo đảm quyền chứng minh của đương sự mà còn góp phần tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Theo Điều 203 BLTTDS 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tranh chấp đất đai là 04 tháng kể từ ngày thụ lý, có thể gia hạn không quá 02 tháng. Trong giai đoạn này, đương sự nộp đơn yêu cầu trực tiếp đến thẩm phán được phân công, kèm theo tài liệu chứng minh sự cần thiết của giám định.

Tại phiên tòa

Về thực tiễn, đương sự vẫn có quyền đề nghị hội đồng xét xử trưng cầu giám định tại phiên tòa. Việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu trong thời điểm này do Hội đồng xét xử quyết định. Nếu chấp thuận, Hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại  điểm c, điểm d khoản 1 Điều 259 BLTTDS 2015. Nếu không chấp nhận, Hội đồng xét xử sẽ đưa ra lý do từ chối và tiếp tục phiên toà dựa trên tài liệu, chứng cứ hiện đang có.

Trường hợp yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại

Căn cứ khoản 3, 4 và 5 Điều 102 BLTTDS 2015, trong trường hợp kết luận giám định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, có vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng không chính xác, đương sự có quyền yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Yêu cầu này có thể được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án, kể cả tại phiên tòa, khi phát sinh tình tiết mới hoặc khi xuất hiện nghi vấn về tính khách quan của kết luận giám định trước đó. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm việc đánh giá chứng cứ được toàn diện, chính xác.

Tại phiên tòa, nếu đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ không đồng ý với kết luận giám định đã công bố và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, Hội đồng xét xử xem xét tính cần thiết để quyết định. Trường hợp chấp nhận yêu cầu, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả giám định theo quy định tại khoản 4 Điều 257 và điểm d khoản 1 Điều 259 của BLTTDS 2015. Việc tạm ngừng phải được ghi nhận trong biên bản phiên tòa và tuân thủ thời hạn luật định, bảo đảm đúng trình tự, thủ tục tố tụng.

Nghĩa vụ tạm ứng và thanh toán chi phí giám định

Chi phí giám định tư pháp là khoản tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sử dụng kết quả giám định làm chứng cứ tại phiên tòa tranh chấp đất đai. Việc không thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính này không chỉ gây ảnh hưởng đến yêu cầu giám định mà còn có thể gây bất lợi trong phán quyết cuối cùng của Tòa án.

Ai phải nộp tiền tạm ứng?

Căn cứ theo Điều 161 BLTTDS 2015, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không quy định khác, người yêu cầu Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng đó phải nộp tiền tạm ứng chi phí. Khoản tiền này được nộp trước khi Tòa án tiến hành hoạt động chuyên môn nhằm bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện. Việc nộp tạm ứng không đồng nghĩa với việc người đó phải chịu chi phí cuối cùng, bởi nghĩa vụ chịu chi phí thực tế sẽ được xác định sau khi có kết quả giải quyết vụ án. Cụ thể:

Trường hợp 1: Người yêu cầu giám định nhưng yêu cầu không có căn cứ

  • Nếu người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định và kết quả giám định cho thấy yêu cầu của họ không có căn cứ, thì người này phải chịu toàn bộ chi phí giám định.
  • Trường hợp kết quả giám định chỉ chứng minh một phần yêu cầu có căn cứ, người yêu cầu phải chịu chi phí tương ứng với phần yêu cầu không được chứng minh.

Trường hợp 2: Bên phản đối việc giám định

  • Nếu một đương sự không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định của bên kia, nhưng kết quả giám định lại chứng minh yêu cầu giám định là có căn cứ, thì người phản đối phải chịu chi phí giám định.
  • Trường hợp yêu cầu giám định chỉ đúng một phần, chi phí sẽ được phân bổ tương ứng với phần yêu cầu được chứng minh là có căn cứ.

Trường hợp 3: Vụ án bị đình chỉ giải quyết

  • Nếu vụ án bị đình chỉ theo quy định về rút đơn khởi kiện, thì nguyên đơn phải chịu chi phí giám định.
  • Nếu việc xét xử phúc thẩm bị đình chỉ, thì người kháng cáo phải chịu chi phí giám định.

Trường hợp 4: Đương sự tự mình yêu cầu giám định

  • Trong trường hợp đương sự tự yêu cầu giám định theo quy định pháp luật, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu đó có căn cứ, thì người thua kiện phải chịu chi phí giám định.
  • Ngược lại, nếu yêu cầu giám định chỉ đúng một phần, người yêu cầu phải chịu chi phí tương ứng với phần yêu cầu không được chứng minh.

Trường hợp 5: Các trường hợp đình chỉ khác

Đối với những trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác, nếu trước đó có yêu cầu trưng cầu giám định thì người yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu chi phí này.

Thời hạn nộp tạm ứng chi phí giám định

Căn cứ theo khoản 3 và 4 Điều 6 Nghị định 204/2025/NĐ-CP và Điều 38 Pháp lệnh Chi phí tố tụng, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu giám định, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định phải gửi hồ sơ đề nghị tạm ứng chi phí giám định đến cơ quan tiến hành tố tụng. Trên cơ sở đó, Tòa án ban hành thông báo về mức tiền tạm ứng và ấn định thời hạn nộp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Mức tạm ứng không được vượt quá tổng chi phí giám định đã được tính toán hợp lệ trong hồ sơ đề nghị.

Hậu quả pháp lý nếu không nộp chi phí tạm ứng và chi phí giám định

Chi phí giám định và tiền tạm ứng chi phí giám định được xác định là một trong các khoản chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do đó, đương sự có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng đúng thời hạn do Tòa án ấn định trong thông báo hợp lệ. Trường hợp nguyên đơn không thực hiện nghĩa vụ này mà không có lý do chính đáng, Tòa án có quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

> Xem thêm: Ai chịu án phí trong vụ án giải quyết tranh chấp đất đai?

Đương sự phải nộp tạm ứng và thanh toán chi phí giám định nhà đất.
Luật sư hỗ trợ tính toán mức phí tạm ứng chính xác, thực hiện thủ tục nộp tiền đúng hạn và tư vấn khiếu nại nếu có sai sót.

Sau khi có kết luận giám định đương sự cần làm gì?

Kết luận giám định tư pháp là chứng cứ được quy định tại Điều 94 BLTTDS 2015, có giá trị chứng minh trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, kết luận giám định không đương nhiên được chấp nhận toàn bộ mà phải được đánh giá như các chứng cứ khác, dựa trên tính hợp pháp, tính liên quan và tính xác thực.

Quyền yêu cầu giải thích kết luận

Theo khoản 3 Điều 102 BLTTDS 2015 quy định đương sự có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận tại phiên tòa. Đây là cơ chế kiểm tra chéo quan trọng, đặc biệt khi kết luận sử dụng thuật ngữ kỹ thuật chuyên ngành trắc địa, địa chính, xây dựng mà hội đồng xét xử và đương sự không nắm rõ. Việc đặt câu hỏi có trọng tâm với người giám định tại phiên tòa là công cụ tranh tụng hiệu quả để làm rõ hoặc giới hạn phạm vi áp dụng của kết luận.

Yêu cầu giám định bổ sung

Căn cứ khoản 4 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi nội dung kết luận giám định chưa rõ ràng, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được giám định trước đó, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định bổ sung. Việc yêu cầu phải nêu rõ nội dung cụ thể chưa được kết luận, câu hỏi chưa được trả lời hoặc vấn đề chuyên môn cần làm rõ thêm, nhằm bảo đảm có căn cứ xem xét, chấp nhận.

Yêu cầu giám định lại khi có căn cứ

Giám định lại được thực hiện khi có căn cứ rõ ràng cho rằng kết luận không chính xác, theo khoản 5 Điều 102 BLTTDS 2015 và khoản 2 Điều 32 Luật Giám định tư pháp 2025 (có hiệu lực từ 01/05/2026). Căn cứ phổ biến bao gồm: sai phương pháp giám định, vi phạm quy trình, số liệu đầu vào không đúng, người giám định không đủ năng lực chuyên môn. Tổ chức thực hiện giám định lại phải khác với tổ chức đã giám định lần đầu.

Cách sử dụng kết luận giám định để bảo vệ quyền lợi tại phiên tòa

Kết luận giám định chỉ có giá trị chứng cứ khi nó đảm bảo được tính khách quan, khoa học và tuân thủ nghiêm ngặt trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Do đó, đương sự cần có chiến lược để sử dụng kết luận giám định để bảo vệ quyền lợi tại phiên tòa:

  • Kiểm tra tính hợp pháp và logic của văn bản kết luận giám định
    • Kết luận giám định chỉ được coi là nguồn chứng cứ hợp pháp nếu quy trình thực hiện đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn pháp lý về chủ thể và phương pháp.
    • Thẩm định năng lực và tính độc lập của giám định viên theo Luật Giám định tư pháp.
    • Kiểm soát quy trình thu thập và niêm phong mẫu vật.
    • Đương sự cần đối chiếu phần lập luận chuyên môn với phần kết luận cuối cùng.
  • Thực hiện quyền yêu cầu giám định bổ sung, giám định lại và đối chất tại phiên tòa. Khi phát hiện kết luận giám định có dấu hiệu sai sót hoặc chưa làm rõ được các vấn đề cần thiết, đương sự phải chủ động vận dụng các quyền tố tụng như:
    • Yêu cầu triệu tập giám định viên: Căn cứ khoản 2 Điều 102 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án triệu tập giám định viên đến phiên tòa để giải thích về kết luận giám định.
    • Nếu kết luận giám định chưa rõ ràng, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn, đương sự cần căn cứ khoản 3 Điều 102 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 để yêu cầu giám định bổ sung. Đặc biệt, theo Điều 32 Luật Giám định tư pháp, trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác hoặc có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đương sự phải quyết liệt yêu cầu giám định lại.
    • Sử dụng kết luận của người bảo vệ quyền lợi hoặc chuyên gia độc lập: Mặc dù chỉ có kết luận của người giám định tư pháp mới là nguồn chứng cứ chính thức, nhưng đương sự có thể mời các chuyên gia tư vấn độc lập để phân tích các sai sót trong bản kết luận của Tòa án.

Những tình huống thực tế thường gặp khi yêu cầu trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai

Phần lớn các quyết định trưng cầu giám định trên thực tế đều xuất phát từ yêu cầu làm rõ hành vi giả mạo chữ ký, tẩy xóa di chúc hoặc tranh chấp chồng lấn diện tích giữa các thửa đất liền kề. Nắm bắt chính xác các tình huống điển hình này là cơ sở để đương sự chuẩn bị tốt tài liệu đối chứng và định hướng chiến lược tranh tụng hiệu quả trước cơ quan tài phán.

Yêu Cầu Giám Định Không Rõ Nội Dung

Theo khoản 2 Điều 102 BLTTDS 2015 và khoản 3 Điều 27 Luật Giám định tư pháp 2025, đơn yêu cầu trưng cầu giám định phải xác định rõ ba yếu tố: đối tượng giám định (tài liệu nào, thửa đất nào, công trình nào), câu hỏi giám định cụ thể (cần xác định điều gì), và điều luật làm căn cứ yêu cầu. Đơn chỉ ghi “đề nghị giám định đất tranh chấp” mà không xác định rõ thửa đất theo số thửa, tờ bản đồ, không nêu câu hỏi cụ thể sẽ không được tòa án chấp nhận, hoặc dẫn đến kết luận giám định không đúng trọng tâm vụ án, gây lãng phí thời gian và chi phí tố tụng.

Nộp Đơn Quá Muộn

Việc nộp yêu cầu giám định sau khi Tòa án đã thông báo kết thúc giai đoạn thu thập chứng cứ hoặc sau khi Hội đồng xét xử vào nghị án về nguyên tắc sẽ không được xem xét, trừ trường hợp đương sự chứng minh được lý do khách quan theo khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo Điều 203 của Bộ luật này, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án dân sự là 04 tháng kể từ ngày thụ lý, có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng, đây là khoảng thời gian để thực hiện quyền yêu cầu giám định. Do đó, đương sự cần chủ động theo dõi tiến trình tố tụng và thực hiện yêu cầu giám định trong thời hạn luật định để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Nhầm Lẫn Giữa Giám Định Và Định Giá Tài Sản

Việc nhầm lẫn thường xảy ra khi đương sự cho rằng mọi hoạt động đánh giá tài sản đều là một. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của hai hoạt động này hoàn toàn khác biệt:

  • Bản chất của Giám định: Căn cứ khoản Điều 3 Luật Giám định tư pháp 2025, giám định là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động tố tụng. Đối tượng của giám định rất rộng, từ ADN, dấu vân tay, chất lượng công trình xây dựng cho đến tính xác thực của chữ ký.
  • Bản chất của Định giá: Theo Điều 104 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, định giá là hoạt động nhằm xác định giá trị của tài sản tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án (như xác định nghĩa vụ bồi thường, chia tài sản hoặc tính án phí). Đối tượng duy nhất của định giá là giá trị bằng tiền.
  • Chủ thể thực hiện: Giám định phải do Giám định viên tư pháp hoặc tổ chức giám định tư pháp thực hiện. Ngược lại, định giá tài sản có thể do Hội đồng định giá do Tòa án quyết định thành lập hoặc tổ chức thẩm định giá độc lập thực hiện theo quy định của Luật Giá.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ các vấn đề pháp lý khi yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai

Trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, kết quả trưng cầu giám định (như giám định chữ ký, con dấu, hiện trạng ranh giới) là chứng cứ cốt lõi. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên sâu, hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định một cách chính xác, khách quan và hiệu quả thông qua các hạng mục công việc sau:

  • Tư vấn các quy định pháp luật về điều kiện, trình tự và thủ tục yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong quá trình tố tụng dân sự.
  • Đánh giá hồ sơ, xác định chính xác đối tượng cần giám định (chữ ký, vân tay trên hợp đồng chuyển nhượng, di chúc, hoặc đo đạc kỹ thuật ranh giới, mốc giới thửa đất).
  • Soạn thảo Đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định.
  • Hướng dẫn và hỗ trợ khách hàng thu thập, chuẩn bị các tài liệu, mẫu vật chuẩn (tài liệu so sánh) hợp lệ, đảm bảo tính nguyên vẹn.
  • Phân tích, đánh giá tính khách quan, hợp pháp của Kết luận giám định sau khi cơ quan chuyên môn ban hành.
  • Soạn thảo đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại nếu phát hiện Kết luận giám định ban đầu có dấu hiệu sai lệch, vi phạm nghiêm trọng quy trình.
  • Đề nghị Tòa án triệu tập giám định viên đến tham gia phiên tòa xét xử để trực tiếp giải thích, đối chất và làm rõ các nội dung chuyên môn còn mâu thuẫn.
  • Xây dựng bản luận cứ bảo vệ tại phiên tòa dựa trên Kết luận giám định có lợi, đồng thời phản bác các tài liệu, chứng cứ giả mạo của đối phương.

Câu hỏi thường gặp (FAQs) về yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định trong tranh chấp đất đai

Trong các vụ án tranh chấp đất đai, khi ranh giới bị chồng lấn hay chữ ký bị nghi ngờ giả mạo, kết quả giám định chính giúp xác định sự thật khách quan. Việc nắm rõ quy trình yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định giúp đương sự bảo vệ quyền lợi của mình một cách chủ động, khoa học và đúng luật.

1. Khi nào đương sự cần yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định?

Đương sự nên yêu cầu giám định khi cần làm rõ các vấn đề chuyên môn kỹ thuật như ranh giới thửa đất, tính xác thực của chữ ký trên hợp đồng hoặc chất lượng công trình gắn liền với đất. Quyền này được quy định tại khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Điều 22 Luật Giám định Tư pháp 2025 nhằm cung cấp bằng chứng khoa học cho Hội đồng xét xử.

2. Tòa án có quyền tự mình ra quyết định trưng cầu giám định không?

Có, Tòa án có quyền tự mình trưng cầu giám định nếu xét thấy cần thiết để giải quyết vụ án theo điểm c khoản 2 Điều 97 và khoản 2 Điều 102 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Điều này thường xảy ra khi các chứng cứ trong hồ sơ mâu thuẫn nhau mà Tòa án không thể tự xác định nếu thiếu kết luận chuyên môn.

3. Thời hạn nộp đơn yêu cầu trưng cầu giám định được quy định ra sao?

Thời điểm nộp đơn tốt nhất là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (thường là 04 đến 06 tháng theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015). Nếu nộp quá muộn khi vụ án đã đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử có quyền từ chối trừ khi có lý do khách quan chính đáng.

4. Ai là người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định?

Người đưa ra yêu cầu trưng cầu giám định có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng theo Điều 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên, nghĩa vụ chịu phí thực tế cuối cùng sẽ do bên thua kiện chịu hoặc phân bổ theo tỷ lệ thắng/thua dựa trên bản án có hiệu lực của Tòa án.

5. Sự khác biệt giữa Giám định tư pháp và Định giá tài sản trong tranh chấp đất đai?

Giám định tư pháp tập trung vào chuyên môn kỹ thuật để xác định sự thật khách quan (như ranh giới, chữ ký). Trong khi đó, Định giá tài sản nhằm mục đích xác định giá trị bằng tiền của tài sản tranh chấp để làm căn cứ chia tài sản hoặc tính án phí.

6. Đương sự có quyền yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại không?

Có, đương sự có quyền yêu cầu giám định bổ sung nếu kết luận ban đầu chưa rõ ràng, hoặc yêu cầu giám định lại nếu có căn cứ nghi ngờ kết quả sai lệch. Theo Điều 32 Luật Giám định Tư pháp 2025, tổ chức thực hiện giám định lại phải khác với tổ chức đã giám định lần đầu.

7. Hậu quả pháp lý nếu đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định?

Nếu nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng đúng hạn, Tòa án có thể đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Đối với bị đơn, nếu không nộp phí, Tòa án sẽ giải quyết vụ án dựa trên các chứng cứ hiện có mà không thực hiện giám định.

8. Có thể yêu cầu người giám định đến giải thích trực tiếp tại phiên tòa không?

Có, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án triệu tập người giám định đến phiên tòa. Theo khoản 3 Điều 102 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, người giám định có nghĩa vụ tham gia để trình bày, giải thích và trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung kết luận giám định.

Kết luận

Việc yêu cầu trưng cầu giám định là giải pháp then chốt để làm rõ ranh giới đất và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự. Kết quả này cung cấp chứng cứ khách quan nhất giúp Tòa án giải quyết tranh chấp một cách triệt để và công bằng. Quý khách nên chuẩn bị hồ sơ kỹ lưỡng để quy trình giám định thực địa diễn ra thuận lợi, đúng pháp luật. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ Dịch vụ luật sư đất đai để bảo vệ quyền lợi tối đa. Hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được tư vấn chi tiết.

>> Có thể bạn đọc sẽ quan tâm: 

Tags: , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Nguyễn Thu Hương

Luật sư Nguyễn Thu Hương thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội - hiện đang là Luật sư Cộng sự tại Luật Long Phan PMT. Với hơn 10 năm hoạt động, Luật sư Hương đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực luật khác nhau như Dân sự, Doanh nghiệp, Đất đai, Thương mại, Lao động, hôn nhân gia đình, v.v.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87