Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng là vấn đề Luật Long Phan PMT nhận được rất nhiều câu hỏi từ chủ đầu tư và nhà thầu trong lĩnh vực hợp đồng xây dựng kể từ khi Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế cơ chế cũ tại Nghị định 37/2015/NĐ-CP (đã được hợp nhất với Nghị định 50/2021/NĐ-CP). Quy định mới siết chặt hơn căn cứ điều chỉnh giá đối với hợp đồng xây dựng trọn gói, đồng thời làm rõ ranh giới giữa biến động giá thông thường và các trường hợp ngoại lệ được phép điều chỉnh.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Từ ngày 01/7/2026, việc điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng áp dụng theo Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP, dẫn chiếu khoản 2, khoản 3 Điều 84 Luật Xây dựng 2025.
- Hợp đồng xây dựng ký trước ngày 01/7/2026 tiếp tục thực hiện theo quy định pháp luật về hợp đồng xây dựng có hiệu lực tại thời điểm giao kết, trừ trường hợp thuộc khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng 2025.
- Đối với hợp đồng trọn gói, giá hợp đồng về nguyên tắc là giá cố định, chỉ được điều chỉnh khi có sự kiện bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản hoặc thay đổi phạm vi công việc theo điểm d khoản 2 Điều 84 Luật Xây dựng 2025.
Hợp đồng ký trước và sau ngày 01/7/2026 áp dụng quy định nào
Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng là một bước quan trọng khi xử lý yêu cầu điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng.
Từ ngày 01/7/2026, Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210/2026/NĐ-CP về hợp đồng xây dựng có hiệu lực. Nghị định 210/2026/NĐ-CP đồng thời bãi bỏ Nghị định 37/2015/NĐ-CP, Nghị định 50/2021/NĐ-CP và Điều 9 Nghị định 35/2023/NĐ-CP.
Tuy nhiên, hợp đồng đã ký trước ngày 01/7/2026 không đương nhiên chuyển sang áp dụng toàn bộ quy định mới. Việc xác định pháp luật áp dụng phải căn cứ vào Điều 95 Luật Xây dựng 2025 và Điều 33 Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
| Tiêu chí | Hợp đồng ký trước 01/7/2026 | Hợp đồng ký từ 01/7/2026 |
|---|---|---|
| Căn cứ pháp lý áp dụng | Nghị định 37/2015/NĐ-CP (hợp nhất với Nghị định 50/2021/NĐ-CP) | Điều 84 Luật Xây dựng 2025; Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP |
| Nguyên tắc chuyển tiếp | Thời điểm giao kết, loại dự án, nội dung hợp đồng và Điều 95 Luật Xây dựng 2025, Điều 33 Nghị định 210/2026/NĐ-CP | Áp dụng trực tiếp quy định mới ngay từ khi giao kết |
| Căn cứ ngoại lệ để áp dụng luật mới | Chỉ khi rơi vào trường hợp chuyển tiếp đặc thù theo khoản 7 Điều 95 | Không cần điều kiện chuyển tiếp |
| Thủ tục điều chỉnh giá | Theo thỏa thuận hợp đồng và Nghị định 37/2015/NĐ-CP | Theo Điều 22, Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP |
Hợp đồng ký trước 01/7/2026
Đối với hợp đồng xây dựng đã giao kết trước ngày 01/7/2026, cần xác định pháp luật áp dụng theo quy định chuyển tiếp, thay vì mặc nhiên kết luận toàn bộ hợp đồng tiếp tục áp dụng Nghị định 37/2015/NĐ-CP và Nghị định 50/2021/NĐ-CP.
Khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng 2025 quy định hợp đồng xây dựng đã ký trước ngày 01/7/2026 tiếp tục thực hiện theo Luật Xây dựng 2014; Luật Xây dựng 2025 được áp dụng khi xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Điều 33 Nghị định 210/2026/NĐ-CP quy định cụ thể xử lý chuyển tiếp đối với hợp đồng xây dựng.
Đối với dự án đầu tư công, dự án PPP, cần xác định tình trạng hồ sơ mời thầu/hồ sơ yêu cầu, dự thảo hợp đồng và thời điểm đóng thầu để áp dụng quy định chuyển tiếp tương ứng.
Đối với các dự án khác, trường hợp hợp đồng đã giao kết và đang thực hiện trước ngày Nghị định 210/2026/NĐ-CP có hiệu lực, các bên xem xét, thỏa thuận áp dụng Nghị định mới. Nếu không có thỏa thuận, thực hiện theo pháp luật về hợp đồng xây dựng và pháp luật liên quan tại thời điểm giao kết hợp đồng. Các tình huống được phép điều chỉnh được tổng hợp tại các trường hợp được điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng.
Hợp đồng ký từ 01/7/2026 trở đi
Đối với hợp đồng được giao kết từ ngày 01/7/2026, về nguyên tắc, việc sửa đổi và điều chỉnh giá hợp đồng được thực hiện theo khung pháp luật mới gồm Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
Điều 84 Luật Xây dựng 2025 quy định về sửa đổi hợp đồng xây dựng, trong đó có các nội dung liên quan đến khối lượng, tiến độ, thời gian thực hiện, đơn giá, giá hợp đồng và các nội dung khác theo thỏa thuận và quy định pháp luật.
Nghị định 210/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về sửa đổi hợp đồng và điều chỉnh đơn giá, giá hợp đồng. Khi áp dụng, doanh nghiệp vẫn phải căn cứ vào loại hợp đồng, hình thức giá hợp đồng, điều khoản điều chỉnh giá và sự kiện thực tế phát sinh, chứ không phải mọi biến động chi phí đều đương nhiên được điều chỉnh giá.
Các trường hợp được điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng theo quy định mới
Không phải mọi biến động chi phí đều đương nhiên là căn cứ để điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng. Theo Luật Xây dựng 2025, việc sửa đổi hợp đồng, trong đó có điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng, có thể được thực hiện khi thuộc các trường hợp luật định hoặc trường hợp khác do các bên thỏa thuận phù hợp với pháp luật.
Khoản 2 Điều 84 Luật Xây dựng 2025 quy định các trường hợp có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng xây dựng gồm: Nhà nước thay đổi chính sách, pháp luật làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng; thay đổi yêu cầu về nội dung, phạm vi công việc và các điều kiện đã thỏa thuận; xảy ra sự kiện bất khả kháng; hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản; và các trường hợp khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định pháp luật.
Thay đổi chính sách, pháp luật hoặc yêu cầu công việc
Khi Nhà nước thay đổi chính sách, pháp luật làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng hoặc khi các bên thay đổi, điều chỉnh yêu cầu về nội dung, phạm vi công việc, kỹ thuật, chất lượng, tiến độ, điều kiện tạm ứng, thanh toán đã thỏa thuận, các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng, trong đó có thể bao gồm điều chỉnh đơn giá hoặc giá hợp đồng.
Đây là căn cứ được quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Xây dựng 2025. Tuy nhiên, không phải mọi thay đổi đều tự động làm phát sinh quyền tăng giá. Các bên vẫn phải xác định phần công việc, chi phí bị tác động và phương pháp điều chỉnh phù hợp với hợp đồng.
Sự kiện bất khả kháng
Sự kiện bất khả kháng là một trong những căn cứ để các bên thỏa thuận sửa đổi hợp đồng xây dựng theo điểm c khoản 2 Điều 84 Luật Xây dựng 2025.
Khoản 1 Điều 13 Luật Xây dựng 2025 quy định các trường hợp bất khả kháng trong hoạt động xây dựng gồm thiên tai, thảm họa môi trường; hỏa hoạn, dịch bệnh; tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và quốc phòng; đình công, bãi công, cấm vận, bao vây; hoạt động phát hiện cổ vật, khảo cổ và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan. Việc xác định một sự kiện có phải là bất khả kháng hay không còn phải đáp ứng điều kiện theo pháp luật dân sự.
Do đó, không phải cứ có thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động thị trường là doanh nghiệp đương nhiên được điều chỉnh giá hợp đồng. Cần xem xét sự kiện cụ thể, tác động của sự kiện đối với việc thực hiện hợp đồng và khả năng ứng phó của bên bị ảnh hưởng.
Đặc biệt, cần phân biệt quyền được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với quyền được điều chỉnh giá hợp đồng. Việc một sự kiện được xác định là bất khả kháng không đồng nghĩa với việc bên bị ảnh hưởng đương nhiên được thanh toán mọi chi phí phát sinh. Việc điều chỉnh giá phải được xác định theo căn cứ sửa đổi hợp đồng, nội dung hợp đồng và thỏa thuận của các bên.
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Khác với bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản là trường hợp nghĩa vụ hợp đồng vẫn có thể thực hiện được nhưng việc tiếp tục thực hiện theo đúng điều khoản ban đầu sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên, và đây cũng là căn cứ để điều chỉnh giá hợp đồng theo điểm d khoản 2 Điều 84 Luật Xây dựng 2025.
Theo khoản 2 Điều 13 Luật Xây dựng 2025, hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hoạt động xây dựng gồm: Nhà nước thay đổi chính sách, pháp luật; các điều kiện bất thường về địa chất không lường trước được; và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan. Việc xác định phải đáp ứng điều kiện theo pháp luật dân sự về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Qua các hồ sơ tư vấn đã tiếp nhận, sai lầm phổ biến nhất là doanh nghiệp mặc định rằng giá vật liệu tăng vài phần trăm so với thời điểm chào thầu đã đủ căn cứ đàm phán lại giá hợp đồng. Trên thực tế, mức biến động giá vật liệu 10–15% gần như luôn bị coi là rủi ro thương mại thông thường mà một nhà thầu chuyên nghiệp phải tính toán và dự phòng ngay từ khi lập giá dự thầu, không đủ để cấu thành hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Ngoài ra, ngay cả khi hội đủ điều kiện, hệ quả pháp lý của hoàn cảnh thay đổi cơ bản không phải là quyền đơn phương điều chỉnh giá, mà trước hết là quyền yêu cầu đàm phán lại; nếu không đạt được thỏa thuận trong thời hạn hợp lý, các bên mới có thể đưa vụ việc ra cơ quan tài phán để yêu cầu sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng. Đối với các hợp đồng có thời gian thực hiện kéo dài, doanh nghiệp nên chủ động đàm phán sẵn công thức điều chỉnh giá ngay từ khi ký kết, thay vì trông chờ vào cơ chế hoàn cảnh thay đổi cơ bản vốn có ngưỡng áp dụng cao và quy trình xử lý kéo dài, tốn kém.

Phương pháp điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng
Việc điều chỉnh giá hợp đồng trên thực tế được thực hiện theo hai phương pháp chính là bù trừ trực tiếp chênh lệch chi phí đầu vào và áp dụng hệ số điều chỉnh giá, cùng với các nguyên tắc riêng đối với dự án đầu tư công và dự án PPP. Với từng loại giá hợp đồng, quý khách có thể tham khảo thêm về hợp đồng xây dựng theo đơn giá điều chỉnh.
Phương pháp bù trừ trực tiếp và hệ số điều chỉnh giá (Pn)
Theo Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP, các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận cụ thể về trường hợp được điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 84 Luật Xây dựng 2025, đồng thời thỏa thuận phương pháp xác định phần chênh lệch được điều chỉnh. Trên thực tế, hai phương pháp phổ biến là bù trừ trực tiếp chênh lệch giữa đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công tại thời điểm thực hiện so với thời điểm giao kết hợp đồng, và phương pháp sử dụng hệ số điều chỉnh giá theo công thức trượt giá (thường ký hiệu Pn) dựa trên chỉ số giá do cơ quan có thẩm quyền công bố. Phụ lục kèm theo Nghị định 210/2026/NĐ-CP quy định chi tiết phương pháp điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng để các bên tham chiếu khi soạn thảo điều khoản hợp đồng.
Nguyên tắc riêng đối với hợp đồng thuộc dự án đầu tư công, dự án PPP
Đối với hợp đồng xây dựng thuộc dự án đầu tư công, dự án PPP, việc điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng còn phải tuân thủ thêm các nguyên tắc kiểm soát chặt chẽ hơn theo khoản 3 Điều 84 Luật Xây dựng 2025 và hướng dẫn chi tiết tại Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP, cụ thể gồm:
- Việc điều chỉnh đơn giá chỉ áp dụng cho khối lượng công việc mà tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên đã có thỏa thuận rõ về việc được điều chỉnh đơn giá.
- Trường hợp phát sinh khối lượng, công việc ngoài phạm vi hợp đồng mà các bên không thỏa thuận được, việc lựa chọn nhà thầu thực hiện phần khối lượng phát sinh phải tuân thủ quy định pháp luật về đấu thầu.
- Mức độ, ngưỡng biến động cụ thể để kích hoạt cơ chế điều chỉnh (theo khối lượng thực tế hoặc theo tỷ lệ tác động đến giá hợp đồng, đơn giá) do các bên xác định trong hợp đồng phù hợp với phương pháp tại Phụ lục kèm theo Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
Đây là nội dung mang tính ngoại lệ so với nguyên tắc chung của hợp đồng trọn gói và đơn giá cố định, nên chủ đầu tư sử dụng vốn đầu tư công cần đặc biệt thận trọng khi đưa điều khoản điều chỉnh giá vào hồ sơ mời thầu, tránh tình trạng điều khoản không rõ ràng dẫn đến khiếu nại của nhà thầu hoặc bị cơ quan thanh tra, kiểm toán đặt vấn đề về tính hợp lệ của việc điều chỉnh.

Thủ tục thực hiện điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng trong thực tế
Trên thực tế, việc điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng thường được thực hiện qua các bước: thông báo nhu cầu điều chỉnh, xác định và chứng minh căn cứ điều chỉnh, tính toán giá trị được điều chỉnh, sau đó các bên thống nhất và lập văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng.
Căn cứ Điều 84 Luật Xây dựng 2025 và Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp có thể thực hiện theo trình tự sau:
- Bên đề nghị điều chỉnh giá gửi văn bản thông báo cho bên còn lại, nêu rõ căn cứ điều chỉnh (thay đổi chính sách pháp luật, bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản) và mức độ ảnh hưởng đến giá hợp đồng.
- Bên đề nghị cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ điều chỉnh, gồm văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xác nhận của chính quyền địa phương, chứng từ về biến động giá hoặc tài liệu liên quan khác tùy từng trường hợp cụ thể.
- Các bên đàm phán, thống nhất phần giá trị điều chỉnh dựa trên phương pháp đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo Phụ lục kèm theo Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
- Thống nhất và lập văn bản sửa đổi hợp đồng: Kết quả điều chỉnh cần được thể hiện bằng văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng theo quy định pháp luật và thỏa thuận của các bên.
Việc chuẩn hóa quy trình nội bộ để xử lý các bước trên, thay vì để phụ thuộc vào trí nhớ hoặc kinh nghiệm cá nhân của người phụ trách dự án, là yếu tố quyết định giúp doanh nghiệp bảo vệ được quyền điều chỉnh giá khi phát sinh tranh chấp.
Kinh nghiệm thực tế xử lý tranh chấp điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng
Qua các hồ sơ tư vấn và tranh chấp đã tiếp nhận, phần lớn các vụ việc điều chỉnh giá hợp đồng bị từ chối hoặc kéo dài không phải vì thiếu căn cứ pháp lý, mà vì lỗi trong cách vận dụng căn cứ và lỗi thủ tục thông báo.
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, ba sai lầm sau đây lặp lại thường xuyên nhất.
- Thứ nhất, nhà thầu viện dẫn bất khả kháng cho toàn bộ công trường trong khi thực tế chỉ một phần hạng mục hoặc một khu vực thi công bị ảnh hưởng trực tiếp; cách làm này thường bị bên giao thầu bác bỏ toàn bộ và làm suy yếu cả những khiếu nại có căn cứ chính đáng.
- Thứ hai, việc thông báo sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản được thực hiện chậm trễ hoặc chỉ trao đổi bằng miệng, sau đó mới hợp thức hóa bằng văn bản nhiều tháng sau; khi đó bên đối tác thường lập luận rằng chính sự chậm trễ thông báo đã làm gia tăng thiệt hại, từ đó cắt giảm phần được chấp nhận điều chỉnh.
- Thứ ba, nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn biến động giá thị trường thông thường, vốn là rủi ro thương mại phải tự gánh chịu, với hoàn cảnh thay đổi cơ bản, dẫn đến việc chuẩn bị hồ sơ khiếu nại trên nền tảng pháp lý không vững chắc và mất thời gian, chi phí theo đuổi một yêu cầu khó được chấp nhận.
Một sai lầm phổ biến khác mà khách hàng thường gặp là tự ý tạm dừng toàn bộ công trường để gây sức ép đàm phán trong khi tranh chấp thực tế chỉ liên quan đến một phần công việc; hành vi này tự đặt nhà thầu vào thế vi phạm nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các phần việc không bị ảnh hưởng, bất kể lập luận về căn cứ điều chỉnh giá của họ có đúng hay không.
Rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý khi yêu cầu điều chỉnh giá hợp đồng
Ngoài việc chứng minh đúng căn cứ, doanh nghiệp còn phải kiểm soát các rủi ro liên quan đến tạm ứng hợp đồng và việc tạm dừng thi công, vì đây là hai điểm dễ làm mất quyền yêu cầu điều chỉnh giá hợp đồng trên thực tế. Việc thỏa thuận rõ điều khoản giá hợp đồng xây dựng ngay từ đầu giúp hạn chế các rủi ro này.
Rủi ro liên quan đến tạm ứng hợp đồng
Theo Điều 12 Nghị định 210/2026/NĐ-CP, đối với hợp đồng xây dựng nói chung, mức tạm ứng, số lần tạm ứng, thời điểm tạm ứng, bảo lãnh tạm ứng và mức thu hồi tạm ứng trước hết do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Riêng đối với hợp đồng thuộc dự án đầu tư công, dự án PPP, Nghị định đặt ra các giới hạn và điều kiện cụ thể về mức tạm ứng. Theo điểm g khoản 3 Điều 12, mức tạm ứng thông thường không vượt quá 30% giá hợp đồng tại thời điểm giao kết; trường hợp cần tạm ứng cao hơn phải thuộc trường hợp được quy định và được người quyết định đầu tư cho phép.
Đáng lưu ý, đối với các hợp đồng thuộc phạm vi áp dụng khoản 3 Điều 12, điểm l quy định rằng nếu các bên thỏa thuận mức tạm ứng cao hơn mức tạm ứng tối thiểu, thì phần giá hợp đồng tương ứng với khoản tạm ứng vượt mức tối thiểu sẽ không được điều chỉnh giá kể từ thời điểm tạm ứng, kể cả trường hợp tạm ứng nhiều lần.
Do đó, doanh nghiệp cần phân biệt mức tạm ứng tối đa với mức tạm ứng tối thiểu. Việc nhận tạm ứng cao hơn mức tối thiểu có thể tạo lợi thế về dòng tiền nhưng đồng thời làm giảm phần giá trị hợp đồng được điều chỉnh giá theo cơ chế nêu trên. Đây là vấn đề cần được tính toán ngay từ giai đoạn lập giá dự thầu và đàm phán hợp đồng, đặc biệt đối với các dự án đầu tư công và PPP.
Rủi ro khi tự ý tạm dừng thi công
Doanh nghiệp cũng cần thận trọng khi lựa chọn biện pháp tạm dừng thi công để gây sức ép trong quá trình đàm phán điều chỉnh giá.
Theo Điều 85 Luật Xây dựng 2025, việc tạm dừng thực hiện hợp đồng phải tuân thủ căn cứ và trình tự theo pháp luật và thỏa thuận hợp đồng. Bên tạm dừng hoặc chấm dứt hợp đồng phải thông báo trước bằng văn bản cho bên còn lại, trong đó nêu rõ lý do, thời điểm và hậu quả pháp lý, trừ trường hợp bất khả kháng. Nếu không thực hiện nghĩa vụ thông báo và gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trường hợp tạm dừng hoặc chấm dứt trái pháp luật cũng có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường.
Đối với hợp đồng thuộc dự án đầu tư công, PPP, Điều 26 Nghị định 210/2026/NĐ-CP quy định thêm một số trường hợp được tạm dừng, trong đó có trường hợp bên giao thầu không thanh toán đủ giá trị của giai đoạn thanh toán đã thống nhất quá 28 ngày kể từ ngày hết hạn thanh toán, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Bên tạm dừng phải thông báo bằng văn bản và thời gian thông báo do các bên thỏa thuận nhưng tối đa không quá 28 ngày, trừ trường hợp bất khả kháng ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng.
Vì vậy, có căn cứ yêu cầu điều chỉnh giá không đồng nghĩa với việc nhà thầu đương nhiên có quyền ngừng thi công. Trước khi tạm dừng, doanh nghiệp cần kiểm tra đồng thời: căn cứ tạm dừng, điều khoản hợp đồng, nghĩa vụ thông báo, phạm vi công việc bị ảnh hưởng và hậu quả của việc tạm dừng.
Đặc biệt, nếu tranh chấp chỉ liên quan đến một phần giá trị hoặc một số hạng mục, doanh nghiệp nên tiếp tục thực hiện những phần công việc không bị ảnh hưởng nếu hợp đồng và pháp luật không cho phép tạm dừng toàn bộ. Việc tự ý dừng toàn bộ công trường có thể làm phát sinh tranh chấp mới về chậm tiến độ hoặc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, làm suy yếu yêu cầu điều chỉnh giá ban đầu.
Giải quyết tranh chấp về giá hợp đồng xây dựng
Khi các bên không thống nhất được về căn cứ hoặc mức điều chỉnh giá hợp đồng, pháp luật hiện hành cho phép lựa chọn nhiều phương thức giải quyết tranh chấp, kể cả mô hình ban xử lý tranh chấp theo thông lệ quốc tế. Đối với hợp đồng EPC, quý khách có thể xem thêm cách giải quyết tranh chấp hợp đồng EPC.
Theo khoản 5 Điều 86 Luật Xây dựng 2025, việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng do các bên thỏa thuận, có thể bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại hoặc khởi kiện tại tòa án.
Đối với dự án đầu tư công và dự án PPP, nếu lựa chọn trọng tài thì ưu tiên tổ chức trọng tài trong nước; việc áp dụng mô hình xử lý tranh chấp theo thông lệ quốc tế phải đáp ứng điều kiện luật định và được các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
Nghị định 210/2026/NĐ-CP cũng cho phép các bên thỏa thuận về ban xử lý tranh chấp, bao gồm thời điểm thành lập, số lượng và tiêu chuẩn thành viên, quy trình lựa chọn, tính ràng buộc của quyết định hoặc khuyến nghị và trình tự xử lý khi một bên không đồng ý. Thành viên ban xử lý tranh chấp phải bảo đảm tính khách quan, độc lập và không có xung đột lợi ích với các bên.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các bên vẫn có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đối với phần công việc không bị ảnh hưởng bởi nội dung tranh chấp, không được tự ý làm gián đoạn toàn bộ việc thực hiện hợp đồng trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Nếu doanh nghiệp đang cần xác định căn cứ điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng, soạn thông báo điều chỉnh hoặc xử lý tranh chấp về giá, hãy liên hệ để luật sư rà soát hợp đồng và hồ sơ trước khi gửi yêu cầu cho bên còn lại.
Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư hợp đồng
📞 Hotline: 1900 636 387
✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn
💬 Zalo: 0939 846 973
📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.
Câu hỏi thường gặp về điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng
Dưới đây là một số câu hỏi doanh nghiệp thường đặt ra khi tìm hiểu về vấn đề này theo quy định mới, được trả lời dựa trên Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
1. Hợp đồng ký trước 01/7/2026 có được áp dụng Nghị định 210/2026/NĐ-CP không?
Về nguyên tắc là không. Theo khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng 2025, hợp đồng xây dựng đã giao kết và đang thực hiện trước ngày 01/7/2026 tiếp tục thực hiện theo quy định pháp luật về hợp đồng xây dựng có hiệu lực tại thời điểm giao kết, trừ khi thuộc đúng trường hợp chuyển tiếp đặc thù được quy định tại chính điều khoản này.
2. Hợp đồng trọn gói có được điều chỉnh giá không?
Hợp đồng trọn gói về nguyên tắc có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện, nhưng vẫn được điều chỉnh khi có sự kiện bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản hoặc thay đổi phạm vi công việc theo điểm d khoản 2 Điều 84 Luật Xây dựng 2025, kết hợp với phương pháp điều chỉnh được hướng dẫn tại Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
3. Biến động giá vật liệu có phải bất khả kháng không?
Về nguyên tắc là không. Theo khoản 1 Điều 13 Luật Xây dựng 2025, bất khả kháng phải là sự kiện khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục được; biến động giá vật liệu ở mức thông thường là rủi ro thương mại mà nhà thầu chuyên nghiệp phải tính toán khi lập giá dự thầu, chỉ trong trường hợp biến động cực đoan, bắt nguồn từ một sự kiện khách quan bất thường mới có cơ sở xem xét theo hướng hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
4. Mức tạm ứng tối đa của hợp đồng xây dựng là bao nhiêu?
Theo Nghị định 210/2026/NĐ-CP, mức tạm ứng, số lần tạm ứng, thời điểm tạm ứng và mức thu hồi tạm ứng về nguyên tắc do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Đối với dự án đầu tư công, dự án PPP, Nghị định quy định mức tạm ứng không vượt quá 30% giá hợp đồng tại thời điểm giao kết, trừ trường hợp cần tạm ứng cao hơn và được người có thẩm quyền cho phép theo quy định.
5. Tranh chấp về điều chỉnh giá hợp đồng giải quyết ở đâu?
Theo khoản 5 Điều 86 Luật Xây dựng 2025, các bên được quyền thỏa thuận phương thức giải quyết tranh chấp gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại, khởi kiện tại tòa án hoặc áp dụng mô hình ban xử lý tranh chấp theo thông lệ quốc tế được hướng dẫn tại Điều 17 Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
Kết luận
Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng kể từ ngày 01/7/2026 được kiểm soát chặt chẽ hơn theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210/2026/NĐ-CP, đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định đúng thời điểm giao kết hợp đồng, đúng căn cứ điều chỉnh và tuân thủ đúng thủ tục thông báo để bảo vệ quyền lợi của mình. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp qua dịch vụ luật sư hợp đồng để rà soát hợp đồng, đánh giá căn cứ điều chỉnh giá và xử lý tranh chấp phát sinh. Quý doanh nghiệp cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900.63.63.87 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Xây dựng 2025
- Nghị định số 210/2026/NĐ-CP
- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP (đã được hợp nhất với Nghị định số 50/2021/NĐ-CP)
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Bất khả kháng, Biến động giá vật liệu, Chủ đầu tư, Điều chỉnh giá hợp đồng, Đơn giá điều chỉnh, Giá hợp đồng cố định, Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, Hợp đồng trọn gói, nhà thầu xây dựng, tranh chấp EPC, Tranh chấp hợp đồng xây dựng

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.