Các lỗi thủ tục thường dẫn đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Các lỗi thủ tục thường dẫn đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là trường hợp huỷ phán quyết tiêu biểu nhất. Phần lớn các đơn yêu cầu hủy hiện nay đều dựa vào những sai sót tố tụng theo quy định tại Luật Trọng tài thương mại 2010 và thủ tục riêng theo quy định của Trung tâm trọng tài giải quyết. Dưới đây, Luật Long Phan PMT sẽ phân tích chi tiết từng vấn đề qua các nội dung hỗ trợ pháp lý chuyên sâu.

Nhận diện các lỗi thủ tục thường dẫn đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Nhận diện các lỗi thủ tục thường dẫn đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Nội Dung Bài Viết

Một số lỗi thủ tục thường dẫn đến phán quyết trọng tài bị yêu cầu hủy

Dù phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và bắt buộc thi hành, nhưng trong một số trường hợp nhất định, phán quyết này vẫn có thể bị Tòa án tuyên hủy. Nhằm giúp doanh nghiệp tránh khỏi những rủi ro pháp lý đáng tiếc, dưới đây là phân tích chi tiết các lỗi thủ tục:

Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Phán quyết trọng tài sẽ bị Tòa án tuyên hủy căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010 nếu thuộc trường hợp không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu. 

Thẩm quyền của Trọng tài thương mại không mang tính đương nhiên mà chỉ phát sinh khi có sự đồng thuận của các đương sự.

  • Nguyên tắc xác lập: Căn cứ Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010, tranh chấp chỉ được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài dưới hình thức văn bản. Sự không tồn tại thỏa thuận xảy ra khi các bên chưa từng đàm phán hoặc ghi nhận điều khoản này trong hợp đồng, cũng như không có sự trao đổi thông tin qua thư từ, điện tín hay các hình thức thông điệp dữ liệu khác quy định tại Điều 16.
  • Hệ quả của việc chưa xác lập: Trong thực tiễn, nếu một bên cung cấp hợp đồng có chữ ký bị giả mạo hoặc tài liệu chưa được các bên ký kết hợp lệ mà Hội đồng trọng tài vẫn thụ lý, phán quyết ban hành sẽ vi phạm nguyên tắc tự định đoạt. Tòa án sẽ tuyên hủy phán quyết vì Hội đồng trọng tài đã thực hiện quyền tài phán trên một căn cứ không có thực.

Ngay cả khi văn bản thỏa thuận trọng tài tồn tại, nó vẫn bị coi là vô hiệu nếu không thỏa mãn các điều kiện về năng lực hành vi và phạm vi giải quyết.

  • Năng lực của người xác lập: Căn cứ khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài vô hiệu nếu người xác lập không có thẩm quyền ký kết hoặc không có năng lực hành vi dân sự. Điển hình là trường hợp nhân viên không được ủy quyền hợp lệ ký kết điều khoản trọng tài, dẫn đến việc thỏa thuận không ràng buộc được pháp nhân.
  • Tranh chấp ngoài thẩm quyền: Thỏa thuận trọng tài cũng vô hiệu nếu đối tượng tranh chấp không thuộc phạm vi quy định tại Điều 2. Nếu các bên đưa một tranh chấp phi thương mại hoặc tranh chấp mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền độc quyền của Tòa án ra trọng tài, thỏa thuận này mặc nhiên vô hiệu theo khoản 1 Điều 18.

Hình thức và tính khả thi của thỏa thuận là yếu tố bảo đảm cho quá trình tố tụng không bị đình trệ.

  • Vi phạm hình thức văn bản: Mọi thỏa thuận trọng tài bằng lời nói đều vô hiệu theo khoản 3 Điều 18. Pháp luật yêu cầu sự xác tín tuyệt đối qua văn bản để tránh các tranh cãi về mặt ý chí.
  • Vi phạm điều cấm và sự lừa dối: Căn cứ khoản 4 và khoản 5 Điều 18, thỏa thuận sẽ vô hiệu nếu các bên bị lừa dối, đe dọa khi xác lập hoặc nội dung thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật. Đặc biệt, nếu thỏa thuận trọng tài không xác định rõ được Trung tâm trọng tài cụ thể hoặc có nội dung mâu thuẫn dẫn đến việc không thể thực hiện được, Tòa án sẽ căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP để tuyên vô hiệu.

>>> Xem thêm: Thỏa thuận cả trọng tài và tòa án giải quyết tranh chấp – Khởi kiện ở đâu?

Thành phần Hội đồng trọng tài được thành lập không đúng quy định

Việc thành lập Hội đồng trọng tài (HĐTT) sai quy định là một trong những căn cứ pháp lý nghiêm trọng nhất dẫn đến việc hủy phán quyết trọng tài theo điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010. Lỗi này phát sinh khi số lượng trọng tài viên, quy trình chỉ định hoặc tiêu chuẩn nhân sự không tương thích với thỏa thuận của các bên hoặc vi phạm các quy định mệnh lệnh tại Điều 20, 21, 39, 40 và 41 của Luật này. 

Việc hình thành của HĐTT phải dựa trên nền tảng là ý chí tự nguyện của các bên được ghi nhận trong thỏa thuận trọng tài hoặc quy tắc tố tụng.

  • Sự không phù hợp về số lượng trọng tài viên: Căn cứ Điều 39 Luật Trọng tài thương mại 2010, các bên có quyền tự do thỏa thuận về số lượng trọng tài viên; trường hợp không có thỏa thuận thì HĐTT bao gồm ba trọng tài viên. Nếu các bên đã thống nhất cụ thể về một HĐTT gồm ba người nhưng thực tế vụ kiện lại được giải quyết bởi một Trọng tài viên duy nhất mà không có sự sửa đổi thỏa thuận hợp lệ, thì HĐTT đó bị coi là thành lập không đúng thỏa thuận.
  • Sai trong quy trình bổ nhiệm và thay thế: Căn cứ Điều 40 và Điều 41 Luật Trọng tài thương mại 2010, trình tự chỉ định trọng tài viên phải tuân thủ thời hạn và quyền lựa chọn của các bên. Nếu một tổ chức trọng tài hoặc Tòa án thực hiện quyền chỉ định thay thế nhưng vi phạm về trình tự (ví dụ: không cho bên bị đơn quyền chọn trọng tài viên khi hết thời hạn mà lại chỉ định ngay) hoặc chỉ định người không nằm trong danh sách yêu cầu (đối với trọng tài quy chế), thì phán quyết sẽ đứng trước rủi ro bị tuyên hủy do vi phạm thủ tục thành lập quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68.

Năng lực chuyên môn và sự vô tư của trọng tài viên là điều kiện cần để một HĐTT được coi là thành lập đúng pháp luật.

  • Không đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực và chuyên môn: Căn cứ Điều 20 Luật Trọng tài thương mại 2010, trọng tài viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực hành vi dân sự, trình độ đại học và kinh nghiệm thực tế từ 05 năm trở lên trong lĩnh vực đã học. Trường hợp các bên có thỏa thuận thêm các tiêu chuẩn đặc thù (ví dụ: trọng tài viên phải là chuyên gia về kỹ thuật xây dựng hoặc có bằng luật sư quốc tế) nhưng người được chỉ định không đáp ứng các tiêu chí này, thành phần HĐTT sẽ bị coi là trái thỏa thuận.
  • Vi phạm nghĩa vụ công khai và tính khách quan: Theo quy định tại Điều 21 Luật Trọng tài thương mại 2010, kể từ khi được chỉ định, trọng tài viên có nghĩa vụ công khai các tình tiết có thể gây nghi ngờ về tính độc lập và khách quan của mình. Nếu sau khi ban hành phán quyết, một bên chứng minh được trọng tài viên có mối quan hệ kinh tế hoặc thân thiết với bên đối phương mà không khai báo, hoặc thuộc trường hợp phải từ chối giải quyết tranh chấp theo Điều 42, thì HĐTT đó bị xem là thành lập trái quy định pháp luật về sự vô tư trong tố tụng.

Thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010 và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, sự vi phạm về quy tắc tố tụng, thành phần Hội đồng trọng tài, ngôn ngữ hoặc địa điểm giải quyết so với ý chí ban đầu của các đương sự là lỗi dẫn đến huỷ phán quyết. 

Vi phạm sự lựa chọn về bộ quy tắc tố tụng và thiết chế trọng tài

  • Sự sai lệch về quy tắc tố tụng áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010, các bên có quyền thỏa thuận quy tắc tố tụng của một Trung tâm trọng tài cụ thể hoặc quy tắc tố tụng trọng tài vụ việc. Nếu hợp đồng quy định rõ áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) nhưng thực tế Hội đồng trọng tài lại áp dụng quy tắc của một tổ chức khác mà không có sự đồng thuận bằng văn bản của các bên, đây là hành vi vi phạm thỏa thuận trọng tài một cách trực tiếp.
  • Nhầm lẫn giữa trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc: Trong trường hợp các bên thỏa thuận trọng tài vụ việc (ad-hoc) theo khoản 3 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010, nhưng một bên lại nộp đơn và Trung tâm trọng tài lại thụ lý, quản lý vụ kiện theo quy chế riêng của Trung tâm, điều này làm thay đổi hoàn toàn bản chất của hình thức giải quyết tranh chấp đã thống nhất.

Sai lệch về các yếu tố nền tảng: Thành phần Hội đồng, ngôn ngữ và địa điểm

  • Cấu trúc Hội đồng trọng tài trái thỏa thuận: Căn cứ Điều 39 Luật Trọng tài thương mại 2010, các bên có quyền thỏa thuận Hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng tài viên. Nếu thỏa thuận xác lập Hội đồng gồm ba người nhưng thực tế vụ tranh chấp chỉ do một trọng tài viên duy nhất phán quyết (mà không có sự sửa đổi thỏa thuận hợp lệ), thành phần này bị coi là không đúng quy định và là căn cứ để hủy phán quyết theo điểm b khoản 2 Điều 68.
  • Vi phạm thỏa thuận về ngôn ngữ và địa điểm: Theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Luật Trọng tài thương mại 2010, ngôn ngữ và địa điểm giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận.
  • Thiếu sót trong thủ tục tống đạt và thông báo: Căn cứ Điều 32 Luật Trọng tài thương mại 2010, các thông báo phải được gửi đến địa chỉ của các bên theo quy định. Việc vi phạm thời hạn gửi đơn khởi kiện hoặc không tống đạt đúng các quyết định tố tụng dẫn đến việc một bên không thể tham gia phiên họp hoặc không kịp chuẩn bị bản tự bảo vệ, cấu thành lỗi thủ tục không phù hợp nghiêm trọng.

Vi phạm nghiêm trọng quyền được bảo vệ của một bên trong tố tụng

Việc hạn chế quyền của đương sự là lỗi thủ tục nghiêm trọng khiến phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên hủy căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010. Lỗi này được xác lập khi một bên chứng minh được mình không nhận được thông báo kịp thời, hợp lệ về việc chỉ định trọng tài viên, về trình tự giải quyết tranh chấp, hoặc do các trở ngại khách quan chính đáng mà không thể thực hiện quyền tố tụng. 

Vi phạm nghĩa vụ thông báo và tống đạt hồ sơ tố tụng:

  • Căn cứ Điều 12 Luật Trọng tài thương mại 2010, mọi thông báo phải được gửi đến địa chỉ cư trú hoặc trụ sở kinh doanh của các bên. Nếu Trung tâm trọng tài tống đạt văn bản về việc chỉ định Trọng tài viên sai địa chỉ hoặc không thực hiện đúng phương thức tống đạt đã thỏa thuận, bị đơn sẽ mất đi quyền tham gia thành lập Hội đồng trọng tài – một quyền lợi cốt lõi của trọng tài thương mại.
  • Căn cứ Điều 32 và Điều 35 Luật Trọng tài thương mại 2010, bị đơn phải được nhận Đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo để chuẩn bị Bản tự bảo vệ trong thời hạn quy định. Việc Hội đồng trọng tài rút ngắn thời hạn này bất hợp lý hoặc không tống đạt đầy đủ các chứng cứ mới do nguyên đơn cung cấp sẽ khiến bị đơn rơi vào thế bị động, không thể đưa ra các lập luận phản bác tương xứng, cấu thành hành vi vi phạm quyền được bảo vệ.

Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp vượt quá phạm vi thỏa thuận

Phán quyết trọng tài sẽ bị Tòa án tuyên hủy nếu Hội đồng trọng tài giải quyết các vấn đề không được các bên thỏa thuận hoặc vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010. 

Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài mang tính chất tư nhân và phái sinh hoàn toàn từ sự đồng thuận của các bên. Do đó, ranh giới pháp lý của một vụ kiện trọng tài được định hình bởi chính câu chữ trong thỏa thuận trọng tài. Căn cứ Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010, tranh chấp chỉ được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Nếu các bên chỉ thỏa thuận đưa các tranh chấp về số lượng, chất lượng hàng hóa ra trọng tài, nhưng Hội đồng trọng tài lại đưa ra phán quyết về việc chấm dứt hợp đồng hoặc hiệu lực của hợp đồng (trong khi các bên không có yêu cầu hoặc thỏa thuận không bao hàm), thì Hội đồng trọng tài đã xâm phạm nguyên tắc tự định đoạt của đương sự.

Ngay cả khi vấn đề nằm trong phạm vi thỏa thuận trọng tài, Hội đồng trọng tài vẫn phải tuân thủ các yêu cầu cụ thể của đương sự trong Đơn khởi kiện và Đơn kiện lại. Trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung về vấn đề không có yêu cầu giải quyết thì được coi là giải quyết vượt quá phạm vi.

>>> Xem thêm: Khiếu nại về thẩm quyền của hội đồng trọng tài – trình tự giải quyết

Chứng cứ được thu thập và đánh giá không đúng quy định

Sai phạm trong quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ là một trong những căn cứ pháp lý trọng yếu để Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, phán quyết sẽ bị tuyên hủy nếu quy trình xử lý chứng cứ không phù hợp với thỏa thuận của các bên, vi phạm quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. 

Căn cứ Điều 46 Luật Trọng tài thương mại 2010, các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Hội đồng trọng tài để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, theo quy tắc tố tụng của hầu hết các Trung tâm trọng tài và tinh thần của Điều 32, mọi tài liệu chứng cứ mà một bên nộp phải được sao gửi cho bên kia. Nếu Hội đồng trọng tài căn cứ vào một tài liệu do nguyên đơn cung cấp mà không gửi cho bị đơn để đối chất nhưng vẫn dùng tài liệu đó làm căn cứ định đoạt vụ án, thì đây là lỗi vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng.

Căn cứ Điều 47 Luật Trọng tài thương mại 2010, Hội đồng trọng tài chỉ được tự mình thu thập chứng cứ hoặc trưng cầu giám định khi có yêu cầu của một hoặc các bên. Việc Hội đồng trọng tài tự ý tiến hành xác minh thực tế, thu thập số liệu từ bên thứ ba mà không thông báo cho các đương sự tham gia hoặc không công bố kết quả thu thập được tại phiên họp là hành vi vượt quyền, làm sai lệch quy trình tố tụng mà các bên đã thỏa thuận.

Phán quyết trọng tài vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, một phán quyết trọng tài sẽ bị Tòa án tuyên hủy nếu nội dung của nó vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Theo hướng dẫn tại điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, các nguyên tắc này là những quy tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam. Điều này bao gồm các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp và các luật nền tảng như Bộ luật Dân sự, ví dụ: nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết nhưng không được trái đạo đức xã hội; nguyên tắc thiện chí, trung thực; hay nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Chứng cứ được HĐTT thu thập không đúng quy tắc tố tụng, trái nguyên tắc cơ bản
Chứng cứ được HĐTT thu thập không đúng quy tắc tố tụng, trái nguyên tắc cơ bản

Một số lưu ý khi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Để hiện thực hóa quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, việc chỉ ra các lỗi vi phạm thủ tục của Hội đồng trọng tài là chưa đủ. Đương sự phải đặc biệt lưu ý tuân thủ thời hạn nộp đơn trong vòng 30 ngày theo khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại 2010, xác định đúng thẩm quyền của Tòa án theo Điều 7 và quan trọng nhất là phải vượt qua được rào cản về “nguyên tắc mất quyền phản đối” quy định tại Điều 13. Việc bỏ lỡ thời hiệu, xác định sai cơ quan tiếp nhận hồ sơ hoặc sự im lặng trước các sai phạm trong quá trình tranh tụng tại Trọng tài sẽ tước quyền yêu cầu Tòa án can thiệp.

Thời hạn yêu cầu

Thời hạn nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài căn cứ khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại 2010. Theo đó, một bên chỉ có thời hạn đúng 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, để nộp đơn ra Tòa án có thẩm quyền. Việc tuân thủ tuyệt đối mốc thời gian này là bắt buộc, bởi nếu quá hạn, đương sự sẽ mất quyền yêu cầu Tòa án can thiệp. Ngoại lệ duy nhất được pháp luật chấp thuận để không tính vào thời hạn này là khi xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định tại khoản 2 Điều 69.

Đơn và thành phần hồ sơ cần chuẩn bị

Để Tòa án thụ lý và xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, việc chuẩn bị một bộ hồ sơ chuẩn chỉnh về mặt hình thức và sắc bén về mặt nội dung là điều kiện tiên quyết. Căn cứ Điều 70 Luật Trọng tài thương mại 2010, bộ hồ sơ này bao gồm Đơn yêu cầu theo mẫu luật định và tập hợp các tài liệu, chứng cứ (đặc biệt là bản chính hoặc bản sao chứng thực Phán quyết và Thỏa thuận trọng tài) nhằm chứng minh Hội đồng trọng tài đã vi phạm một trong các căn cứ pháp lý. Sự thiếu sót trong việc cung cấp tài liệu hoặc nộp các chứng cứ không hợp lệ về mặt ngôn ngữ, hình thức sẽ dẫn đến việc Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung, làm kéo dài thời gian.

Tòa án không xem xét lại nội dung tranh chấp khi xét yêu cầu hủy

Nguyên tắc bất di bất dịch trong cơ chế giám sát phán quyết trọng tài là Tòa án chỉ đóng vai trò rà soát về mặt thủ tục tố tụng, không phải là cấp xét xử phúc thẩm. Căn cứ khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại 2010, khi giải quyết đơn yêu cầu, Tòa án “không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết”. Điều này có nghĩa là mọi lập luận của đương sự nhằm phản đối việc Trọng tài đánh giá sai tính chất hợp đồng, tính toán sai mức bồi thường hay áp dụng sai luật chuyên ngành đều sẽ không thuộc phạm vi của Tòa án.

Dịch vụ luật sư tư vấn liên quan đến hủy phán quyết trọng tài

Phán quyết trọng tài tuy mang tính chung thẩm nhưng vẫn có thể bị Tòa án tuyên hủy nếu quá trình tố tụng vi phạm các nguyên tắc cơ bản theo quy định của Luật Trọng tài thương mại. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên sâu, hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp thông qua các hạng mục công việc sau:

  • Tư vấn và rà soát toàn bộ hồ sơ tố tụng trọng tài, đánh giá tính hợp pháp của Thỏa thuận trọng tài, thành phần Hội đồng trọng tài và quy trình giải quyết vụ án.
  • Phân tích, đối chiếu phán quyết với các quy định pháp luật để xác định các căn cứ có thể bị Tòa án tuyên hủy (như trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, vi phạm thủ tục tố tụng, hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền).
  • Tư vấn về thời hiệu nộp đơn (trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết) để đảm bảo quyền yêu cầu hủy phán quyết của khách hàng không bị mất đi.
  • Soạn thảo Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với các lập luận pháp lý sắc bén, kèm theo danh mục chứng cứ chứng minh sự vi phạm của Hội đồng trọng tài.
  • Đại diện khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu hủy phán quyết tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền và theo dõi sát sao tiến trình thụ lý hồ sơ.
  • Kiến nghị Tòa án yêu cầu Hội đồng trọng tài tạm dừng việc thi hành phán quyết trong thời gian Tòa án xem xét đơn yêu cầu nhằm ngăn chặn thiệt hại cho khách hàng.
  • Cử Luật sư đại diện tham gia trực tiếp tại phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Tòa án để tranh tụng, đối đáp và bảo vệ quan điểm cho thân chủ.
  • Tư vấn chiến lược giải quyết tranh chấp tiếp theo sau khi có Quyết định của Tòa án (ví dụ như thỏa thuận lại phương thức giải quyết hoặc nộp đơn khởi kiện lại tại Tòa án).
Luật sư tư vấn giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thương mại
Luật sư tư vấn giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thương mại

Câu hỏi liên quan (FAQs) về Các lỗi thủ tục thường dẫn đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Để giúp Quý khách hiểu rõ hơn về các vấn đề xoay quanh các lỗi thủ tục thường dẫn đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, chúng tôi đã tổng hợp một số câu hỏi phổ biến. Xin mời tham khảo!

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu có dẫn đến việc hủy phán quyết không?

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết nếu có căn cứ cho thấy thỏa thuận trọng tài không tồn tại hoặc bị vô hiệu. Các trường hợp vô hiệu cụ thể được quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010, bao gồm: tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài; người xác lập thỏa thuận không có thẩm quyền; người xác lập không có năng lực hành vi dân sự; hoặc thỏa thuận không được lập dưới dạng văn bản. Do đó, việc rà soát kỹ hiệu lực của điều khoản trọng tài ngay từ khi ký kết hợp đồng là bước bảo vệ tối quan trọng.

Thành phần Hội đồng trọng tài sai quy định sẽ bị xử lý thế nào?

Theo điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, đây là một trong những căn cứ phổ biến để hủy phán quyết. Lỗi này thường xảy ra khi việc chỉ định trọng tài viên vi phạm quy tắc của Trung tâm trọng tài hoặc không đúng theo trình tự tại Điều 40 và Điều 41 của Luật này (đối với trọng tài vụ việc). Ví dụ, các bên thỏa thuận Hội đồng gồm 03 trọng tài viên nhưng thực tế chỉ có 01 người ra phán quyết, hoặc trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ công khai thông tin về sự không độc lập, khách quan theo Điều 21 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Việc không thông báo kịp thời cho đương sự có làm hủy phán quyết không?

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, phán quyết bị hủy nếu bên yêu cầu chứng minh được họ không thực hiện được quyền trình bày ý kiến do lỗi về thông báo. Thủ tục tống đạt trong trọng tài rất khắt khe nhằm đảm bảo quyền được lắng nghe của các bên. Nếu Trung tâm trọng tài gửi thông báo đến sai địa chỉ hoặc không tuân thủ thời hạn thông báo theo quy tắc tố tụng, dẫn đến việc đương sự vắng mặt ngoài ý muốn, Tòa án sẽ coi đó là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Điều này bảo vệ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong tranh tụng.

Phán quyết giải quyết vượt quá yêu cầu của các bên thì xử lý sao?

Theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, phán quyết bị hủy nếu nội dung phán quyết không nằm trong thỏa thuận trọng tài hoặc không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài. Trong trường hợp phán quyết có thể tách rời phần nội dung vượt quá thẩm quyền, Tòa án chỉ hủy phần đó và giữ nguyên hiệu lực của các phần còn lại. Lỗi này thường phát sinh khi Hội đồng trọng tài tự mình quyết định về những vấn đề mà các bên không nêu trong đơn khởi kiện hoặc đơn kiện lại. 

Thế nào là phán quyết vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam?

Tòa án hủy phán quyết nếu nội dung của nó trái với những quy tắc ứng xử cơ bản, có hiệu lực bao trùm đối với việc thực hiện pháp luật tại Việt Nam. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, các nguyên tắc này bao gồm những giá trị nền tảng được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Dân sự. Ví dụ: nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận nhưng không được trái đạo đức xã hội; nguyên tắc thiện chí, trung thực; hoặc nguyên tắc bảo vệ quyền con người. Nếu phán quyết trọng tài ép buộc một bên thực hiện hành vi vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, Tòa án sẽ can thiệp để bảo vệ trật tự pháp luật tối thượng của Việt Nam.

Kết luận

Nhận diện chính xác các vi phạm thủ tục là cơ sở cốt lõi để Tòa án hủy phán quyết trọng tài. Đương sự cần khẩn trương thu thập chứng cứ nhằm chứng minh sự sai lệch trong quá trình tố tụng. Quá trình rà soát này đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn vững vàng để đảm bảo tuân thủ đúng thời hiệu luật định. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ quý khách thông qua Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp trọng tài để rà soát hồ sơ, đánh giá mức độ vi phạm và trực tiếp đệ đơn yêu cầu tại Tòa án. Hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được tư vấn chuyên sâu.

Tags: , , , , ,

Nguyễn Trần Phương

Luật sư Nguyễn Trần Phương, thành viên Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang là luật sư thành viên tại công ty Luật Long Phan PMT. Với nhiều năm kinh nghiệm tư vấn giải quyết hầu như tất cả các vấn đề liên quan đến Dân sự, hôn nhân gia đình, thừa kế, lao động. Đồng thời trực tiếp tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi khách hàng trong các tranh chấp dân sự . Luôn lấy sự uy tín, tinh thần trách nhiệm lên hàng đầu.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87