Tòa phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo dẫn đến thiệt hại, phải làm gì?

Tòa phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo dẫn đến thiệt hại là tình huống Tòa án cấp phúc thẩm quyết định về nội dung chưa từng được cấp sơ thẩm xem xét hoặc không nằm trong đơn kháng cáo, kháng nghị. Luật Long Phan PMT nhận thấy đây là sai sót nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng hình sự, từng bị chính Tòa án nhân dân tối cao chỉ ra tại văn bản rút kinh nghiệm mới ban hành. Bài viết phân tích căn cứ pháp lý, dấu hiệu nhận biết và hướng xử lý khi bị thiệt hại do bản án phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo.

Tòa phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo dẫn đến thiệt hại và hướng đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm.
Người bị áp đặt nghĩa vụ ngoài phạm vi kháng cáo cần đối chiếu bản án, đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm và bảo vệ tài sản.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được xem xét phần nội dung bị kháng cáo, kháng nghị, trừ trường hợp xét thấy cần thiết thì mới xem xét thêm phần khác, theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Người bị bản án phúc thẩm áp đặt nghĩa vụ ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực nếu đề nghị theo hướng bất lợi cho người bị kết án, theo khoản 1 Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Tòa án nhân dân tối cao đã chính thức ghi nhận sai sót xử vượt phạm vi phúc thẩm là dạng vi phạm nghiêm trọng cần rút kinh nghiệm chung tại Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026.
  • Hội đồng giám đốc thẩm khi xét lại vụ án phải xem xét toàn bộ vụ án hình sự, không chỉ giới hạn trong nội dung kháng nghị, theo Điều 387 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Phạm vi kháng cáo trong vụ án hình sự

Phạm vi kháng cáo là giới hạn nội dung mà người kháng cáo được quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại, xác định bởi tư cách tố tụng và quyền lợi của từng chủ thể. Phạm vi này là cơ sở đầu tiên để xác định Tòa án cấp phúc thẩm có xử đúng thẩm quyền hay không.

Theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), người có quyền kháng cáo gồm bị cáo, bị hại, người đại diện của họ đối với bản án, quyết định sơ thẩm; người bào chữa kháng cáo bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm tâm thần, thể chất.

Ngoài ra, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự kháng cáo phần liên quan bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo đúng phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của chính họ. Mỗi chủ thể chỉ được kháng cáo phần bản án gắn với quyền lợi tố tụng của mình, không thể kháng cáo thay phần của người khác.

Người kháng cáo gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm theo Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bản án sơ thẩm, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp pháp nếu bị cáo, đương sự vắng mặt; thời hạn là 07 ngày đối với quyết định sơ thẩm, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định, theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Luật sư lưu ý một điểm dễ bị bỏ sót trên thực tế: phạm vi kháng cáo không mặc nhiên mở rộng ra toàn bộ bản án chỉ vì bị cáo kháng cáo. Nếu bị cáo chỉ kháng cáo về mức hình phạt, Tòa án cấp phúc thẩm không đương nhiên có quyền xem xét lại phần trách nhiệm dân sự của một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa từng kháng cáo, trừ trường hợp việc mở rộng là cần thiết và không gây bất lợi ngoài dự liệu cho người chưa kháng cáo. Đây chính là ranh giới mà nhiều bản án phúc thẩm đã vi phạm trên thực tế.

Phạm vi và quyền hạn khi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Phạm vi xét xử phúc thẩm được giới hạn trong phần nội dung bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án chỉ được xem xét phần khác của bản án khi thấy thật sự cần thiết. Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng bị ràng buộc chặt chẽ bởi giới hạn này, không phải là một lần xét xử lại từ đầu như cấp sơ thẩm.

Theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị; nếu xét thấy cần thiết thì có thể xem xét thêm các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị. Quy định này thể hiện nguyên tắc cơ bản: phúc thẩm không đương nhiên xét xử lại toàn bộ vụ án, mà chỉ giải quyết đúng và đủ những gì các bên đã yêu cầu.

Về thẩm quyền theo cấp Tòa án, khoản 1 Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15) quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị, thay thế vai trò của Tòa án nhân dân cấp cao theo mô hình tổ chức Tòa án ba cấp áp dụng từ ngày 01/7/2025.

Khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử có ba nhóm quyền hạn chính đối với bản án sơ thẩm, quy định tại các Điều 355, 356, 357 và 358 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

  • Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi xét thấy bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật.
  • Sửa bản án sơ thẩm khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm tuyên không đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới, trong phạm vi nội dung bị kháng cáo, kháng nghị.
  • Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

Luật sư khuyến nghị đương sự cần đối chiếu kỹ quyền hạn nêu trên với nội dung thực tế bản án phúc thẩm đã tuyên. Việc Hội đồng xét xử phúc thẩm “sửa” bản án sơ thẩm để tạo ra một nghĩa vụ hoàn toàn mới, chưa từng được đặt ra ở cấp sơ thẩm và cũng không thuộc phạm vi kháng cáo, kháng nghị của bất kỳ ai, là dấu hiệu cho thấy Tòa án đã vượt quá quyền hạn được luật cho phép.

>>> Xem thêm: Thủ tục kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm

Một số trường hợp điển hình về xét xử vượt phạm vi kháng cáo theo Công văn 281/TANDTC-V1

Thực tiễn xét xử ghi nhận không ít bản án phúc thẩm vi phạm phạm vi xét xử, đến mức Tòa án nhân dân tối cao phải ban hành văn bản rút kinh nghiệm chung cho toàn ngành. Hai tình huống điển hình dưới đây cho thấy rõ dạng sai sót này phát sinh như thế nào trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Theo Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp thứ nhất xảy ra trong một vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án không đưa một người có liên quan tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng không xem xét, quyết định quyền, nghĩa vụ của người này.

Tuy nhiên, khi giải quyết kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, buộc người này nộp một khoản tiền để trả lại cho các bị hại — nội dung chưa từng được cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết nên bị Tòa án nhân dân tối cao xác định là vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm. Đồng thời, người bị áp đặt nghĩa vụ không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm do không nhận được giấy triệu tập nhưng vẫn bị tuyên bất lợi, vi phạm điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Sai sót này được ghi nhận tại Bản án số 44/2024/HS-PT ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp thứ hai liên quan đến một vụ án bị cáo thế chấp giấy chứng nhận đăng ký ô tô tại ngân hàng để vay tiền, sau đó làm giả giấy tờ đăng ký xe để cầm cố chiếc ô tô và chiếm đoạt tiền của các bị hại, bị xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Khi xử lý vật chứng, Tòa án quyết định giao chiếc ô tô cho ngân hàng xử lý — quyết định được Tòa án nhân dân tối cao xác nhận có căn cứ.

Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm đồng thời tuyên bị cáo không còn nghĩa vụ trả nợ ngân hàng là không đúng, vì giao xe cho ngân hàng không đồng nghĩa toàn bộ tiền vay và lãi đã được khấu trừ; nghĩa vụ thanh toán còn lại phải xác định theo hợp đồng tín dụng và thỏa thuận giữa hai bên. Phán quyết xóa nghĩa vụ trả nợ vì vậy đã vượt quá phạm vi giải quyết của Tòa án trong vụ án hình sự, được ghi nhận tại Bản án số 88/2023/HS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, luật sư nhận thấy điểm chung của hai trường hợp trên là Tòa án nhân danh việc “giải quyết triệt để vụ án” để quyết định một nội dung dân sự nằm ngoài yêu cầu của các bên. Đây là sai lầm khách hàng thường không phát hiện ngay, vì phần bị áp đặt thêm hay nằm lẫn trong phần trách nhiệm dân sự hoặc xử lý vật chứng, chứ không phải phần hình phạt mà đương sự thường chú ý đọc kỹ nhất.

Dấu hiệu nhận biết bản án phúc thẩm đã xử vượt phạm vi kháng cáo

Việc nhận diện đúng dấu hiệu vi phạm là bước quyết định để đương sự lựa chọn đúng hướng xử lý tiếp theo. Năm dấu hiệu dưới đây là những biểu hiện thường gặp nhất trên thực tế xét xử, được đúc kết từ các vụ việc đã bị Tòa án nhân dân tối cao chỉ ra sai sót.

  • Phần quyết định của bản án phúc thẩm có nội dung không xuất hiện trong phần quyết định của bản án sơ thẩm, tức là một nghĩa vụ, một khoản tiền hoặc một biện pháp hoàn toàn mới lần đầu tiên xuất hiện ở cấp phúc thẩm.
  • Bản án phúc thẩm buộc nghĩa vụ cho một người chưa từng được cấp sơ thẩm xác định tư cách tố tụng, tức là người đó không phải bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được nêu tên trong bản án sơ thẩm.
  • Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết một vấn đề không ai kháng cáo, không ai kháng nghị và cũng không thuộc trường hợp được xem xét mở rộng theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Người bị áp đặt nghĩa vụ vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm mà hồ sơ vụ án không thể hiện đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho người đó, vi phạm quyền được biết và tham gia tố tụng theo Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Bản án tuyên nội dung vượt ra ngoài thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong vụ án hình sự, ví dụ tuyên chấm dứt nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng dân sự độc lập, đúng dạng sai phạm đã được nêu tại mục thứ hai của Công văn số 281/TANDTC-V1 ngày 06/8/2026.

Lưu ý rằng: Không phải mọi nội dung “mới” xuất hiện ở bản án phúc thẩm đều là vi phạm phạm vi xét xử. Nếu nội dung đó là hệ quả tất yếu, gắn liền không thể tách rời với phần đã bị kháng cáo và việc xem xét là cần thiết để giải quyết triệt để phần kháng cáo đó, Tòa án vẫn có quyền xem xét theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do đó, đương sự cần đối chiếu cẩn thận trước khi kết luận đây là sai sót tố tụng, tránh khiếu nại, đề nghị kháng nghị không có căn cứ vững chắc.

Dấu hiệu nhận biết bản án phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo trong vụ án hình sự.
Việc xuất hiện nghĩa vụ mới hoặc giải quyết vấn đề không thuộc kháng cáo là dấu hiệu cần được đối chiếu kỹ.

>>> Xem thêm: Hướng giải quyết khi vụ án hình sự có kháng cáo, kháng nghị

Hướng dẫn xử lý khi bị thiệt hại do tòa xử vượt phạm vi kháng cáo

Khi phát hiện bản án phúc thẩm có dấu hiệu xử vượt phạm vi kháng cáo, đương sự cần hành động theo trình tự rõ ràng để vừa bảo vệ được quyền lợi tố tụng, vừa không bỏ lỡ thời hạn pháp luật quy định. Bốn bước dưới đây là quy trình luật sư khuyến nghị áp dụng ngay khi nhận được bản án.

  1. Lấy đủ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm bằng văn bản. Không làm việc theo trí nhớ hay lời kể lại; đương sự cần đặt phần quyết định của hai bản án cạnh nhau để so sánh trực tiếp từng nội dung, từng con số.
  2. Đối chiếu đơn kháng cáo với phần Tòa án đã tuyên. Xác định chính xác nội dung nào bị tuyên vượt ra ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị đã nộp, hoặc nội dung nào chưa từng được cấp sơ thẩm giải quyết mà nay bị đưa vào bản án phúc thẩm.
  3. Thực hiện thủ tục đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Đương sự hoặc luật sư soạn văn bản thông báo vi phạm pháp luật kèm chứng cứ, tài liệu gửi đến người có thẩm quyền kháng nghị theo Điều 374 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nêu rõ bản án bị phát hiện vi phạm, nội dung vi phạm và kiến nghị xem xét kháng nghị.
  4. Song song bảo vệ tài sản trong giai đoạn thi hành án. Làm việc với cơ quan thi hành án về phần nghĩa vụ đang tranh chấp; đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị xem xét tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị khi có căn cứ, theo Điều 377 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Một sai lầm phổ biến khách hàng thường mắc phải là chỉ tập trung khiếu nại về nội dung mình cho là bất công, mà bỏ qua bước bảo vệ tài sản song song. Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, luật sư nhận thấy nhiều trường hợp đến khi hồ sơ đề nghị giám đốc thẩm được xem xét thì tài sản đã bị thi hành xong, khiến việc khôi phục quyền lợi trở nên phức tạp hơn nhiều so với việc chủ động đề nghị tạm đình chỉ thi hành án ngay từ đầu.

Rủi ro pháp lý cần lưu ý khi thực hiện thủ tục đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm

Thủ tục đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm không phải là một quyền kháng cáo đương nhiên được xem xét, mà phụ thuộc vào quyết định của người có thẩm quyền kháng nghị. Ba rủi ro dưới đây là những điểm đương sự thường bỏ sót, dẫn đến hồ sơ bị từ chối hoặc mất quyền đề nghị.

Thời hạn đề nghị kháng nghị

Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm phụ thuộc vào việc kháng nghị có lợi hay bất lợi cho người bị kết án, không có thời hạn chung áp dụng cho mọi trường hợp. Theo khoản 1 Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả khi người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ, theo khoản 2 Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Lưu ý về ngoại lệ quan trọng cần phân biệt rõ ngay từ đầu: nếu nội dung bị xử vượt phạm vi kháng cáo gây bất lợi cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị kháng nghị bắt buộc phải nộp trong vòng 01 năm kể từ ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực. Chậm nộp quá thời hạn này, người có thẩm quyền không còn cơ sở pháp lý để kháng nghị theo hướng bất lợi, dù nội dung vi phạm là rõ ràng đến đâu.

Thẩm quyền kháng nghị

Không phải mọi bản án đều thuộc thẩm quyền kháng nghị của cùng một cấp, mà phụ thuộc vào cấp Tòa án đã ra bản án bị đề nghị xem xét lại. Theo Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Người dân không có quyền trực tiếp kháng nghị mà chỉ có quyền làm văn bản đề nghị gửi đến người có thẩm quyền nêu trên theo Điều 374 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Luật sư khuyến nghị đương sự xác định đúng cấp Tòa án đã ra bản án phúc thẩm trước khi gửi văn bản đề nghị, vì gửi sai địa chỉ thẩm quyền không chỉ kéo dài thời gian xử lý mà còn có thể khiến hồ sơ bị chuyển đi chuyển lại trong khi thời hạn 01 năm quy định tại Điều 379 vẫn đang trôi qua.

Đơn đề nghị kháng nghị phải có những nội dung nào?

Văn bản đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm phải trình bày đầy đủ căn cứ để người có thẩm quyền có cơ sở xem xét, không thể chỉ nêu chung chung là “bản án sai” mà không chỉ rõ vi phạm cụ thể.

Theo Điều 374 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), văn bản thông báo phải nêu rõ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật; nội dung vi phạm pháp luật được phát hiện, cụ thể là nội dung nào bị xử vượt phạm vi kháng cáo, kháng nghị; và kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật chứng minh nếu có.

Nếu người có thẩm quyền xét thấy không có căn cứ để kháng nghị, người đó phải trả lời bằng văn bản cho người đã thông báo, đề nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị, theo khoản 4 Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Luật sư khuyến nghị đương sự lưu giữ văn bản trả lời này, vì đây là căn cứ để tiếp tục đề nghị lên cấp có thẩm quyền cao hơn nếu vẫn còn trong thời hạn luật định.

Quy trình đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm khi bản án phúc thẩm gây thiệt hại.
Đương sự cần rà soát hồ sơ, xác định nội dung bị xử vượt và chủ động bảo vệ tài sản trong thi hành án.

Dịch vụ luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi trong giai đoạn giám đốc thẩm vụ án hình sự

Luật Long Phan PMT hỗ trợ đương sự trong các vụ việc bị bản án phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo với các công việc sau:

  • Rà soát, đối chiếu bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm và đơn kháng cáo, kháng nghị để xác định chính xác nội dung bị xử vượt phạm vi.
  • Đánh giá căn cứ pháp lý và khả năng thành công khi đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
  • Soạn thảo văn bản thông báo, đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm gửi người có thẩm quyền theo đúng quy định.
  • Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định trong thời gian chờ giải quyết.
  • Đại diện khách hàng làm việc với Tòa án, Viện kiểm sát trong quá trình xem xét kháng nghị giám đốc thẩm.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về Tòa phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo dẫn đến thiệt hại, phải làm gì?

Dưới đây là một số câu hỏi thường được đặt ra khi bản án phúc thẩm bị nghi ngờ xử vượt phạm vi kháng cáo. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và văn bản hướng dẫn liên quan.

1. Xử vượt phạm vi kháng cáo có phải là căn cứ đương nhiên để hủy bản án phúc thẩm không?

Không đương nhiên. Xử vượt phạm vi kháng cáo là một dạng sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, thuộc căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nhưng bản án chỉ bị xem xét lại khi có quyết định kháng nghị của người có thẩm quyền và được Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận.

2. Ai có quyền làm văn bản đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm?

Người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện vi phạm đều có quyền thông báo bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp với người có thẩm quyền kháng nghị, hoặc với Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất, theo Điều 374 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Người dân không có quyền tự mình ra quyết định kháng nghị mà chỉ có quyền đề nghị.

3. Trong thời gian chờ giải quyết đề nghị kháng nghị, bản án có bị tạm dừng thi hành không?

Không mặc nhiên tạm dừng. Bản án chỉ bị tạm đình chỉ thi hành khi người ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm chủ động quyết định tạm đình chỉ, theo Điều 377 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Do đó, đương sự cần chủ động đề nghị nội dung này ngay trong văn bản gửi người có thẩm quyền, không nên chờ đợi một cách thụ động.

4. Hội đồng giám đốc thẩm chỉ xem xét đúng phần bị kháng nghị hay toàn bộ vụ án?

Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án hình sự, không chỉ giới hạn trong nội dung của kháng nghị, theo Điều 387 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Quy định này khác với phạm vi xét xử phúc thẩm vốn bị giới hạn trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị theo Điều 345 cùng Bộ luật.

5. Bản án phúc thẩm xử vượt phạm vi kháng cáo do Tòa án nhân dân cấp tỉnh ban hành thì đề nghị kháng nghị gửi đến ai?

Trường hợp này thuộc thẩm quyền kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, theo Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), vì bản án do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử phúc thẩm không thuộc thẩm quyền kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

6. Nếu đề nghị kháng nghị bị từ chối thì đương sự còn cách nào khác để bảo vệ quyền lợi không?

Người có thẩm quyền từ chối phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do theo khoản 4 Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Nếu vẫn còn trong thời hạn luật định và có thêm căn cứ, tài liệu mới, đương sự có thể tiếp tục đề nghị kháng nghị lên cấp có thẩm quyền cao hơn hoặc bổ sung chứng cứ cho văn bản đề nghị đã gửi trước đó.

Kết luận

Xử vượt phạm vi kháng cáo là sai sót tố tụng nghiêm trọng đã được chính Tòa án nhân dân tối cao chỉ ra trong thực tiễn giải quyết án hình sự, và người bị áp đặt nghĩa vụ ngoài phạm vi kháng cáo hoàn toàn có quyền đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc xác định đúng nội dung bị xử vượt phạm vi, chuẩn bị văn bản đề nghị đúng thẩm quyền và đúng thời hạn, đồng thời chủ động bảo vệ tài sản trong giai đoạn thi hành án là những yếu tố quyết định khả năng khôi phục quyền lợi. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ rà soát bản án và tư vấn phương án xử lý phù hợp cho từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
  • Công văn số 281/TANDTC-V1
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87