Bị đơn bỏ về giữa phiên tòa: Hội đồng xét xử xử lý thế nào?

Bị đơn bỏ về giữa phiên tòa là tình huống không hiếm gặp tại các phiên tòa dân sự sơ thẩm, khi bị đơn đang tham gia tố tụng đầy đủ nhưng đến phần tranh tụng lại tự ý rời khỏi phòng xử án vì bức xúc, không đồng tình với diễn biến phiên tòa hoặc đơn giản là muốn gây sức ép buộc hoãn xử. Nhiều đương sự lầm tưởng rằng khi một bên bỏ về, Tòa án bắt buộc phải dừng phiên tòa. Theo Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, cách hiểu này không chính xác và Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử theo đúng thủ tục tố tụng dân sự. Luật Long Phan PMT phân tích căn cứ pháp lý, hậu quả và những lưu ý thực tiễn dành cho bị đơn trong tình huống này.

Bị đơn bỏ về giữa phiên tòa và cách Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.
Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử khi bị đơn tự ý rời khỏi phòng xử án giữa phiên tòa.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Hội đồng xét xử không bắt buộc phải hoãn phiên tòa khi bị đơn tự ý bỏ về, vì các căn cứ hoãn phiên tòa liệt kê tại khoản 1 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không bao gồm trường hợp này.
  • Theo khoản 7 Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người tham gia phiên tòa phải có mặt trong suốt thời gian xét xử, trừ khi được chủ tọa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án vì lý do chính đáng.
  • Hành vi tự ý rời khỏi phòng xử án khi phiên tòa đang diễn ra có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng theo điểm h khoản 1 Điều 23 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15.
  • Việc bỏ về giữa phiên tòa không làm mất quyền kháng cáo của bị đơn theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến cách tính thời hạn kháng cáo theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Hội đồng xét xử có phải hoãn phiên tòa khi bị đơn tự ý bỏ về không?

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 liệt kê giới hạn các căn cứ hoãn phiên tòa tại khoản 1 Điều 233; hành vi bị đơn tự ý bỏ về không thuộc bất kỳ căn cứ nào trong danh sách này, nên Hội đồng xét xử không được lấy lý do đó để hoãn phiên tòa.

Một tình huống điển hình: tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập, nhưng sau khi Chủ tọa kết thúc phần thủ tục và chuyển sang phần tranh tụng, bị đơn không trình bày mà tự ý rời khỏi phòng xử án. Đây chính là tình huống đã được Tòa án nhân dân tối cao trả lời trực tiếp tại mục 34 phần I Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026, khẳng định Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử chứ không hoãn phiên tòa.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử chỉ được quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của Bộ luật này. Đây là danh sách khép kín, Thẩm phán và Hội đồng xét xử không được tự ý mở rộng thêm căn cứ hoãn phiên tòa ngoài phạm vi luật định.

>>> Xem thêm: Thủ tục xin hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm

Đối chiếu căn cứ hoãn phiên tòa hợp lệ và hành vi bị đơn tự ý bỏ về

Bảng dưới đây giúp người đọc tự đối chiếu tình huống thực tế của mình với các căn cứ hoãn phiên tòa hợp pháp, từ đó xác định phiên tòa có bị hoãn hay không.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Nội dung căn cứ Áp dụng cho hành vi bị đơn tự ý bỏ về?
Điều 227 Đương sự vắng mặt tại phiên tòa khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần đầu, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Không, vì bị đơn đã có mặt từ đầu phiên tòa
Khoản 2 Điều 229 Người làm chứng vắng mặt ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan Không liên quan đến bị đơn
Khoản 2 Điều 230 Người giám định vắng mặt mà không có người thay thế Không liên quan đến bị đơn
Khoản 2 Điều 231 Người phiên dịch vắng mặt mà không có người thay thế Không liên quan đến bị đơn
Khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62 Phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án hoặc Kiểm sát viên Không liên quan đến hành vi bỏ về của bị đơn
Điều 241 Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt thuộc trường hợp luật định Không áp dụng vì bị đơn tự ý rời đi, không phải trường hợp vắng mặt được luật dự liệu

Doanh nghiệp, cá nhân là bị đơn cần lưu ý rằng bảng trên chỉ liệt kê những căn cứ phổ biến nhất; nếu phiên tòa của mình rơi vào tình huống đặc thù khác (ví dụ vừa bỏ về vừa có diễn biến sức khỏe bất thường), nên yêu cầu ghi rõ vào biên bản phiên tòa để có căn cứ đánh giá lại sau này.

Vì sao hành vi tự ý bỏ về không được coi là bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan?

Bản chất pháp lý của việc tự ý bỏ về là hành vi chủ động, có ý thức của bị đơn khi hoàn toàn có đủ điều kiện tiếp tục tham gia phiên tòa, nên không thể xếp vào nhóm sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà pháp luật tố tụng dân sự bảo vệ.

Theo khoản 7 Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt trong suốt thời gian xét xử, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng. Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn tại mục 34 phần I Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 đã khẳng định rõ: bị đơn tự ý bỏ về không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đồng thời không thuộc trường hợp hoãn phiên tòa quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Nói cách khác, pháp luật phân biệt rạch ròi giữa việc “không thể có mặt” (do bệnh tật, tai nạn, sự kiện bất ngờ nằm ngoài ý chí) với việc “không muốn tiếp tục có mặt” (do bức xúc, phản đối cách điều hành phiên tòa). Chỉ nhóm thứ nhất mới được luật bảo vệ bằng quyền hoãn phiên tòa hoặc xét xử vắng mặt; nhóm thứ hai, bị đơn phải tự chịu hậu quả tố tụng phát sinh từ quyết định của chính mình.

Hội đồng xét xử có phải hoãn phiên tòa khi bị đơn tự ý rời khỏi phòng xử án hay không.
Việc bị đơn tự ý bỏ về không thuộc căn cứ để Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa theo nội dung bài viết.

Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án như thế nào sau khi bị đơn bỏ về?

Phiên tòa tiếp tục theo đúng trình tự hỏi, tranh luận, nghị án, tuyên án như bình thường. Phần trình bày, tranh luận còn thiếu của bị đơn được Hội đồng xét xử xem xét trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã giao nộp và lời khai bị đơn đưa ra trước khi rời khỏi phòng xử án.

Về mặt thủ tục, việc hỏi tại phiên tòa vẫn được tiến hành theo Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa. Đến phần tranh luận, Hội đồng xét xử áp dụng trình tự phát biểu khi tranh luận theo Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nếu bị đơn đã bỏ về, các đương sự còn lại và người bảo vệ quyền lợi của họ vẫn trình bày quan điểm bình thường. Sau khi kết thúc tranh luận, Hội đồng xét xử vào nghị án theo Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để ra bản án dựa trên toàn bộ hồ sơ, chứng cứ và diễn biến phiên tòa đã ghi nhận.

Việc bị đơn vắng mặt tại phần còn lại của phiên tòa do hành vi của chính mình gây ra không làm phát sinh nghĩa vụ hoãn xử của Tòa án, đồng thời cũng không đình chỉ tiến trình tố tụng đang diễn ra đối với các bên còn lại.

Bản án được tuyên dựa trên căn cứ nào khi thiếu phần trình bày của bị đơn

Hội đồng xét xử vẫn phải đánh giá toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến bị đơn đã trình bày trước khi bỏ về và ý kiến của các đương sự còn lại; pháp luật không quy định Hội đồng xét xử suy diễn bất lợi cho bị đơn chỉ vì hành vi rời khỏi phòng xử án.

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh tại Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác lập trách nhiệm của đương sự trong việc chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ để bảo vệ yêu cầu của mình. Khi bị đơn đã giao nộp tài liệu, chứng cứ trước khi bỏ về, Hội đồng xét xử vẫn có nghĩa vụ xác minh, đánh giá đầy đủ các tài liệu này theo Điều 97, 108 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về xác minh, thu thập chứng cứ, không được bỏ qua chỉ vì bị đơn không còn mặt tại phòng xử án.

Trong thực tiễn xét xử, bản án tuyên trong tình huống này thường ghi rõ diễn biến bị đơn tự ý rời khỏi phòng xử án tại phần nào của phiên tòa, đồng thời phân tích các tài liệu, chứng cứ và ý kiến bị đơn đã trình bày trước đó. Bị đơn không tham gia phần tranh luận đồng nghĩa với việc tự bỏ lỡ cơ hội phản bác trực tiếp lập luận của phía nguyên đơn, một bất lợi thực tế mà bị đơn phải tự gánh chịu.

Khi nào bị đơn bỏ về giữa phiên tòa bị xử phạt hành chính?

Không phải mọi trường hợp bị đơn rời khỏi phòng xử án đều bị xử phạt. Việc xử phạt đặt ra khi bị đơn thuộc trường hợp phải tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án nhưng tự ý rời khỏi phòng xử án trong lúc phiên tòa đang diễn ra, không có lý do chính đáng và không được Chủ tọa phiên tòa đồng ý.

Theo điểm h khoản 2 Điều 23 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15, hành vi này có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 hiện vẫn còn hiệu lực.

Từ ngày 01/8/2026, khoản quy định về nội quy tại khoản 6 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC tiếp tục xác định người tham gia phiên tòa phải có mặt trong suốt thời gian xét xử, giải quyết vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phiên tòa.

Thế nào là có lý do chính đáng để rời phiên tòa?

Pháp luật không liệt kê một danh sách khép kín các trường hợp được coi là lý do chính đáng. Việc chấp nhận lý do cụ thể thuộc phạm vi xem xét của Chủ tọa phiên tòa căn cứ tình huống thực tế.

Vì vậy, khi phát sinh sự việc khiến bị đơn không thể tiếp tục có mặt, bị đơn nên trình bày ngay với Chủ tọa, đề nghị cho phép rời phòng xử án và yêu cầu Thư ký ghi nhận diễn biến này vào biên bản phiên tòa. Không nên tự ý rời đi rồi mới giải trình sau.

Được Chủ tọa đồng ý cho về có bị phạt không?

Về nguyên tắc, không. Điểm h khoản 2 Điều 23 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 xử phạt hành vi khi đồng thời có yếu tố không có lý do chính đáng và không được Chủ tọa phiên tòa đồng ý. Vì vậy, trường hợp bị đơn có lý do phù hợp, trình bày với Chủ tọa và được chấp thuận cho rời phiên tòa thì không thuộc hành vi được mô tả tại quy định này.

Bị đơn mất những quyền tố tụng nào khi tự ý bỏ về?

Bị đơn không bị Tòa án tước quyền tố tụng chỉ vì rời phiên tòa, nhưng trên thực tế sẽ không thể trực tiếp thực hiện nhiều quyền trong phần xét xử còn lại.

Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự bảo đảm cho đương sự quyền trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm và lập luận về việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi tự ý rời phiên tòa, bị đơn tự đặt mình vào tình thế không thể trực tiếp sử dụng các quyền này đối với những nội dung phát sinh sau thời điểm rời đi.

Mất cơ hội đối đáp với nguyên đơn

Phần tranh luận có thể xuất hiện những lập luận, chứng cứ hoặc cách đánh giá pháp lý cần được bị đơn phản bác ngay tại phiên tòa. Nếu đã rời phòng xử án, bị đơn không còn trực tiếp nghe và đối đáp với các nội dung đó.

Điều này đặc biệt bất lợi trong tranh chấp kinh doanh, thương mại, hợp đồng, công nợ hoặc quyền sử dụng đất, nơi kết quả vụ án có thể phụ thuộc đáng kể vào việc giải thích chứng cứ và đối chiếu nghĩa vụ của từng bên.

Không trực tiếp làm rõ chứng cứ tại phiên tòa

Một trong những giá trị của việc tham gia phiên tòa là đương sự được trình bày quan điểm đối với tài liệu, chứng cứ và trả lời các vấn đề Hội đồng xét xử cần làm rõ.

Rời phiên tòa trước khi phần xét hỏi, tranh luận kết thúc có thể khiến bị đơn bỏ lỡ cơ hội giải thích những chứng cứ đang bất lợi hoặc chỉ ra mâu thuẫn trong lời trình bày của phía đối lập.

Bị đơn nên làm gì nếu bắt buộc phải rời phiên tòa giữa chừng?

Khi phát sinh lý do không thể tiếp tục tham dự, bị đơn không nên tự ý rời phòng xử án mà cần thông báo, xin phép Chủ tọa và chủ động ghi nhận sự việc để hạn chế rủi ro tố tụng.

Bước 1: Xin phép Chủ tọa phiên tòa

Bị đơn cần trình bày cụ thể lý do và đề nghị Chủ tọa cho phép rời phòng xử án. Theo khoản 6 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC, người tham gia phiên tòa phải có mặt trong suốt thời gian xét xử, giải quyết vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phiên tòa.

Đồng thời, khoản 1 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự có nghĩa vụ tôn trọng Tòa án và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa. Vì vậy, kể cả khi có lý do khách quan, bị đơn vẫn nên xin phép và chỉ rời đi sau khi được Chủ tọa chấp thuận.

Việc tự ý rời phòng xử án còn có thể phát sinh trách nhiệm xử phạt theo Điều 23 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 nếu người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án rời khỏi phòng xử án khi phiên tòa đang diễn ra mà không có lý do chính đáng và không được Chủ tọa đồng ý.

Bước 2: Đề nghị ghi nhận việc rời phiên tòa vào biên bản

Khi được Chủ tọa đồng ý cho rời đi, bị đơn nên đề nghị ghi nhận thời điểm rời phiên tòa, lý do và việc Chủ tọa đã cho phép vào biên bản phiên tòa.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Do đó, việc một đương sự rời phòng xử án trong quá trình xét xử là diễn biến có thể được ghi nhận trong biên bản.

Ngoài ra, khoản 4 Điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định người tham gia tố tụng có quyền xem biên bản phiên tòa ngay sau khi phiên tòa kết thúc và yêu cầu ghi sửa đổi, bổ sung vào biên bản. Vì vậy, nếu còn điều kiện thực hiện quyền này, bị đơn hoặc người đại diện cần kiểm tra việc rời phiên tòa đã được phản ánh chính xác hay chưa.

Lưu ý, pháp luật không quy định một thủ tục riêng mang tên “đơn xin ghi nhận việc rời phiên tòa”. Cách diễn đạt phù hợp hơn là bị đơn đề nghị Chủ tọa và Thư ký ghi nhận diễn biến này vào biên bản phiên tòa.

Bước 3: Chủ động theo dõi bản án và thời hạn kháng cáo

Việc bị đơn rời khỏi phiên tòa không làm Hội đồng xét xử đương nhiên phải dừng việc tuyên án. Theo Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trường hợp đương sự đã có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án.

Sau phiên tòa, bị đơn cần chủ động nhận và kiểm tra bản án. Theo Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên tòa, đương sự được Tòa án cấp trích lục bản án; trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự.

Đặc biệt, bị đơn phải lưu ý thời hạn kháng cáo tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày. Nếu đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án không có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo vẫn được tính từ ngày tuyên án, chứ không chờ đến ngày nhận được bản án.

Ngược lại, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Vì vậy, sau khi rời phiên tòa, bị đơn không nên chỉ chờ Tòa án gửi bản án mà cần xác định ngay ngày tuyên án và căn cứ tính thời hạn kháng cáo, tránh trường hợp nhận được bản án nhưng thời hạn kháng cáo đã hoặc sắp hết.

Các bước bị đơn nên thực hiện khi bắt buộc phải rời phiên tòa giữa chừng vì lý do chính đáng.
Bị đơn nên xin phép Chủ tọa, ghi nhận sự việc vào biên bản và theo dõi thời hạn kháng cáo sau phiên tòa.

Dịch vụ luật sư tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng là bị đơn, nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ việc phát sinh tình huống bỏ về giữa phiên tòa hoặc vắng mặt tại phiên tòa với các công việc sau: 

  • Rà soát biên bản phiên tòa và bản án để đánh giá tính hợp pháp của việc Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. 
  • Tư vấn phương án kháng cáo nếu bản án chưa xem xét đầy đủ quyền lợi của khách hàng. 
  • Đại diện khách hàng tham gia tố tụng tại các phiên tòa tiếp theo để tránh lặp lại tình huống bất lợi. 
  • Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ và lập luận tranh luận đầy đủ trước khi tham gia phiên tòa. 
  • Tư vấn phương án ủy quyền cho luật sư tham gia thay trong trường hợp khách hàng không thể có mặt trọn vẹn tại phiên tòa.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

>>> Xem thêm: Thủ tục xin hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm , Các trường hợp tòa án tạm hõa phiên tòa dân sự

Câu hỏi thường gặp về bị đơn bỏ về giữa phiên tòa: Hội đồng xét xử xử lý thế nào?

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi gặp tình huống bị đơn bỏ về giữa phiên tòa. Các câu trả lời dựa trên Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 và Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao.

1. Bị đơn bỏ về giữa phiên tòa thì Hội đồng xét xử có bắt buộc hoãn phiên tòa không?

Không. Theo khoản 1 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hành vi tự ý bỏ về không thuộc bất kỳ căn cứ hoãn phiên tòa nào được liệt kê. Tòa án nhân dân tối cao tại mục 34 phần I Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 cũng khẳng định Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử trong tình huống này.

2. Bị đơn bỏ về giữa phiên tòa có bị coi là vắng mặt tại phiên tòa theo Điều 227 không?

Không hoàn toàn tương đồng. Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về việc đương sự vắng mặt ngay từ khi Tòa án triệu tập, trong khi bị đơn bỏ về đã có mặt từ đầu phiên tòa. Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 xác định hành vi bỏ về không thuộc trường hợp hoãn phiên tòa quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

3. Bị đơn tự ý bỏ về giữa phiên tòa bị phạt bao nhiêu tiền?

Theo điểm h khoản 2 Điều 23 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15, hành vi rời khỏi phòng xử án khi phiên tòa đang diễn ra không có lý do chính đáng và không được chủ tọa đồng ý bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Mức phạt áp dụng cho cả nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.

4. Phần trình bày của bị đơn trước khi bỏ về có còn giá trị không?

Có. Theo Điều 6, Điều 97 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tài liệu, chứng cứ và lời khai bị đơn đã cung cấp trước khi bỏ về vẫn được Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá đầy đủ khi ra bản án. Việc bỏ về chỉ khiến bị đơn mất cơ hội bổ sung lập luận ở phần tranh luận còn lại, không làm mất giá trị của chứng cứ đã giao nộp.

5. Bị đơn bỏ về giữa phiên tòa có mất quyền kháng cáo không?

Không. Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bị đơn vẫn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Tuy nhiên theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu bị đơn đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 ngày vẫn tính từ ngày tuyên án, không được lùi đến ngày nhận bản án.

6. Nếu buộc phải rời khỏi phòng xử án vì lý do chính đáng, bị đơn cần làm gì?

Bị đơn cần xin phép Chủ tọa phiên tòa trước khi rời đi và yêu cầu ghi nhận lý do vào biên bản phiên tòa. Trường hợp biết trước không thể tham dự trọn vẹn, bị đơn nên nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc ủy quyền cho người khác tham gia thay theo Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Kết luận

Bị đơn bỏ về giữa phiên tòa không khiến Hội đồng xét xử phải hoãn xử, mà ngược lại, phiên tòa vẫn tiếp tục và bản án vẫn được tuyên trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ đã có. Việc chủ động nắm rõ căn cứ pháp lý, hệ quả về mức phạt hành chính và cách tính thời hạn kháng cáo giúp bị đơn tránh những bất lợi đáng tiếc phát sinh chỉ vì một quyết định tức thời tại phòng xử án. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đánh giá tình huống cụ thể và tư vấn phương án bảo vệ quyền lợi phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể vui lòng liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15
  • Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Nguyễn Thu Hương

Luật sư Nguyễn Thu Hương thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội - hiện đang là Luật sư Cộng sự tại Luật Long Phan PMT. Với hơn 10 năm hoạt động, Luật sư Hương đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực luật khác nhau như Dân sự, Doanh nghiệp, Đất đai, Thương mại, Lao động, hôn nhân gia đình, v.v.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87