Kháng cáo khi tòa án không áp dụng án lệ là quyền của đương sự khi bản án sơ thẩm bỏ qua một án lệ có tình huống pháp lý tương tự mà không nêu rõ lý do. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều đương sự chỉ dừng lại ở việc phản đối chung chung nội dung bản án mà chưa khai thác đúng căn cứ này, trong khi đây là một luận điểm về thủ tục tố tụng dân sự có thể làm thay đổi kết quả vụ án ở cấp phúc thẩm. Bài viết dưới đây phân tích căn cứ pháp lý, thời hạn, cách soạn đơn kháng cáo và những rủi ro cần lưu ý khi sử dụng lập luận này.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Khi vụ việc có tình huống pháp lý tương tự với một án lệ đã công bố nhưng Tòa án không áp dụng, Tòa án phải nêu rõ lý do trong bản án, theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
- Đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Việc không áp dụng án lệ mà không nêu lý do là dấu hiệu áp dụng pháp luật không đúng, có thể là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm theo Điều 309, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Từ ngày 01/7/2025, đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực được Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2025
Vì sao việc không áp dụng án lệ có thể là căn cứ để kháng cáo?
Việc Tòa án cấp sơ thẩm bỏ qua án lệ có tình huống pháp lý tương tự mà không nêu lý do là dấu hiệu của việc áp dụng pháp luật không đúng, thuộc phạm vi có thể bị kháng cáo để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại. Đây là căn cứ pháp lý riêng biệt, khác với việc chỉ không đồng ý với kết quả giải quyết nội dung vụ án.
Nguyên tắc áp dụng án lệ được đặt ra nhằm bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý giống nhau phải được giải quyết thống nhất, tránh tình trạng cùng một loại tranh chấp nhưng mỗi Tòa án xử theo một hướng khác nhau. Khi Thẩm phán, Hội thẩm không tuân thủ nguyên tắc này mà không giải trình, bản án có nguy cơ vi phạm nghĩa vụ lập luận theo văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đương sự cần chỉ rõ án lệ bị bỏ qua, đối chiếu tình huống pháp lý tương tự và đưa nội dung này vào đơn kháng cáo như một luận điểm độc lập.
Không nêu lý do không áp dụng án lệ trong bản án là vi phạm nghĩa vụ tố tụng
Bản án không thể hiện lý do không áp dụng án lệ là không tuân thủ đúng trình tự lập luận bắt buộc theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP. Quy định này đặt ra nghĩa vụ chủ động của Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử, không phải là một gợi ý mang tính khuyến khích.
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự được giải quyết như nhau; trường hợp có tình huống pháp lý tương tự nhưng không áp dụng án lệ thì bản án, quyết định của Tòa án phải nêu rõ lý do. Việc bản án hoàn toàn không nhắc đến án lệ liên quan, dù đương sự đã viện dẫn tại phiên tòa sơ thẩm, là căn cứ để đặt vấn đề Tòa án chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ này.
Phân biệt với trường hợp Tòa án có quyền không áp dụng án lệ
Tòa án có quyền không áp dụng án lệ nếu chứng minh được tình huống vụ việc khác với tình huống án lệ, miễn là có nêu lý do trong bản án; đây không phải căn cứ kháng cáo. Đương sự cần phân biệt rạch ròi hai trường hợp trước khi xác định lập luận kháng cáo.
Nếu bản án phân tích cụ thể sự khác biệt về quan hệ pháp luật, chủ thể hoặc tình tiết giữa vụ việc đang giải quyết và án lệ được viện dẫn, thì việc không áp dụng án lệ là đúng thẩm quyền và đúng khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
Lưu ý: trường hợp này, kháng cáo không nên tập trung vào việc “Tòa án không áp dụng án lệ” mà cần phản bác trực tiếp lập luận phân biệt tình huống của Tòa án — tức chứng minh sự phân biệt đó không chính xác, chứ không phải viện dẫn việc thiếu căn cứ hình thức.

Ai có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo là bao lâu?
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Việc xác định đúng chủ thể và thời hạn là điều kiện tiên quyết trước khi triển khai lập luận về án lệ.
Chủ thể có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm
Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Người không phải đương sự hoặc không có văn bản ủy quyền hợp lệ không có quyền tự mình kháng cáo.
Thời hạn kháng cáo 15 ngày và cách tính thời hạn đối với đương sự vắng mặt
Theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thời hạn được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng, thời hạn vẫn tính từ ngày tuyên án.
Kháng cáo quá hạn có được xem xét không
Việc nộp đơn kháng cáo sau thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là kháng cáo quá hạn, được xem xét theo Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Lưu ý: kháng cáo quá hạn chỉ được chấp nhận khi đương sự chứng minh được sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến việc kháng cáo đúng hạn là không thể thực hiện; đương sự cần chuẩn bị tài liệu chứng minh cụ thể lý do quá hạn ngay khi nộp đơn, tránh để Tòa án bác đơn chỉ vì thiếu căn cứ chứng minh.
Cách soạn đơn kháng cáo nêu căn cứ Tòa án không áp dụng án lệ
Đơn kháng cáo cần trình bày đầy đủ nội dung bắt buộc theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đồng thời đưa lập luận về án lệ thành một phần lý do kháng cáo cụ thể, không chỉ là khiếu nại chung chung về việc “bản án chưa thỏa đáng”.
Nội dung bắt buộc của đơn kháng cáo theo quy định
Theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo nêu rõ ngày tháng năm làm đơn, tên và địa chỉ của người kháng cáo, nội dung kháng cáo toàn bộ hay một phần bản án, lý do kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo. Đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án bị kháng cáo; trường hợp gửi đến Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để xử lý theo thủ tục.
Cách viện dẫn án lệ và Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP trong phần lý do kháng cáo
Phần lý do kháng cáo cần đối chiếu cụ thể tình huống pháp lý của vụ việc với tình huống án lệ được viện dẫn, nêu rõ số hiệu án lệ, nguồn án lệ và điểm tương đồng về quan hệ pháp luật, chủ thể, tình tiết cốt lõi. Việc trích dẫn chung chung “có án lệ tương tự nhưng Tòa án không xem xét” mà không nêu số hiệu án lệ cụ thể khó thuyết phục Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Đơn kháng cáo nên trình bày theo cấu trúc: (1) nêu số hiệu, nội dung cốt lõi của án lệ; (2) đối chiếu từng điểm tương đồng giữa vụ việc và án lệ; (3) chỉ ra bản án sơ thẩm không đề cập hoặc không nêu lý do không áp dụng, vi phạm khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP; (4) nêu yêu cầu cụ thể đối với Tòa án cấp phúc thẩm (sửa hay hủy bản án). Cách trình bày có cấu trúc rõ ràng sẽ giúp Hội đồng xét xử dễ theo dõi và đánh giá đúng trọng tâm lập luận.
Tòa án có thẩm quyền nhận đơn và xét xử phúc thẩm từ 01/7/2025
Từ ngày 01/7/2025, đơn kháng cáo bản án sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân khu vực được gửi để Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, thay cho mô hình Tòa án cấp huyện – Tòa án cấp tỉnh trước đây. Đây là thay đổi quan trọng đương sự cần lưu ý khi xác định đúng nơi nộp đơn và cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2025, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị. Đơn kháng cáo vẫn nộp tại Tòa án nhân dân khu vực đã xét xử sơ thẩm theo đúng Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án này có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh để xét xử phúc thẩm.
Kinh nghiệm thực tế xử lý kháng cáo do Tòa án bỏ qua án lệ
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, một sai lầm phổ biến của đương sự là chỉ nêu chung chung trong đơn kháng cáo rằng “Tòa án xét xử không công bằng” hoặc “bản án chưa xem xét hết các án lệ liên quan” mà không chỉ rõ số hiệu án lệ cụ thể và tình huống pháp lý tương tự ra sao. Cách trình bày này khiến lập luận về án lệ gần như không có giá trị chứng minh, dù bản thân việc bỏ sót án lệ có thể là căn cứ đúng.
Theo thực tiễn xử lý các vụ việc tương tự, điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm thường xem xét kỹ nhất không phải là việc bản án sơ thẩm có nhắc đến án lệ hay không, mà là mức độ tương đồng thực chất giữa tình huống vụ việc đang tranh chấp và tình huống được ghi nhận trong án lệ. Một đơn kháng cáo chỉ liệt kê số hiệu án lệ mà không phân tích cụ thể điểm giống nhau về quan hệ pháp luật, chủ thể và tình tiết cốt lõi thường không đủ sức thuyết phục, ngay cả khi án lệ đó thực sự phù hợp với vụ việc.
Kết quả xét xử phúc thẩm khi Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng án lệ
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, tùy mức độ ảnh hưởng của việc không áp dụng án lệ đến nội dung giải quyết vụ án, theo thẩm quyền quy định tại Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Việc lựa chọn giữa sửa bản án hay hủy bản án phụ thuộc vào việc chứng cứ tại hồ sơ đã đầy đủ để Hội đồng xét xử phúc thẩm tự giải quyết theo hướng áp dụng án lệ, hay cần thu thập, xác minh thêm chứng cứ ở cấp sơ thẩm.
| Kết quả xử lý | Trường hợp áp dụng |
| Sửa bản án sơ thẩm | Việc thu thập chứng cứ, chứng minh đã đầy đủ theo Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hoặc đã được bổ sung đầy đủ tại phiên tòa phúc thẩm, đủ căn cứ áp dụng đúng án lệ |
| Hủy bản án sơ thẩm, giao xét xử lại | Việc thu thập chứng cứ, chứng minh chưa đầy đủ theo Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và không thể bổ sung ngay tại phiên tòa phúc thẩm |
Trường hợp sửa bản án sơ thẩm
Theo Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật, trong trường hợp việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hoặc chưa đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng đã được bổ sung đầy đủ tại phiên tòa phúc thẩm.
Trường hợp hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại
Theo Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm khi việc thu thập chứng cứ, chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được.
>> Xem thêm: Case Study: Án dân sự bị hủy vì ghi âm chưa được giám định

Rủi ro cần lưu ý khi kháng cáo với căn cứ Tòa án không áp dụng án lệ
Khi viện dẫn việc Tòa án không áp dụng án lệ làm căn cứ kháng cáo, đương sự cần đặc biệt lưu ý đến khả năng chứng minh tính tương tự của tình huống pháp lý và thời hạn thực hiện quyền kháng cáo. Nếu lập luận đối chiếu án lệ không đủ chặt chẽ hoặc nộp đơn quá thời hạn, căn cứ kháng cáo có thể không đạt được hiệu quả như mong muốn. Dưới đây là những rủi ro thường gặp cần lưu ý.
Rủi ro không chứng minh được tình huống pháp lý tương tự
Nếu đơn kháng cáo không phân tích rõ điểm giống nhau giữa tình huống vụ việc và tình huống án lệ, lập luận này dễ bị Hội đồng xét xử bác bỏ dù các nội dung kháng cáo khác vẫn được xem xét độc lập. Lưu ý: đương sự nên đối chiếu án lệ với vụ việc theo từng yếu tố cụ thể — quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách chủ thể, tình tiết quyết định kết quả giải quyết — thay vì chỉ nêu tên và số hiệu án lệ một cách chung chung.
Điều kiện áp dụng án lệ đòi hỏi “tình huống pháp lý tương tự” theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, đây là một khái niệm mang tính đánh giá, không có tiêu chí định lượng cố định. Chính vì vậy, chất lượng lập luận đối chiếu quyết định phần lớn khả năng thành công của căn cứ kháng cáo này.
Rủi ro bỏ lỡ thời hạn kháng cáo 15 ngày
Thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là thời hạn cứng, không tự động gia hạn vì lý do đang chuẩn bị lập luận về án lệ. Nếu chưa kịp hoàn thiện phân tích đối chiếu án lệ trong thời hạn kháng cáo, đương sự nên nộp đơn kháng cáo đúng hạn trước với nội dung kháng cáo toàn bộ hoặc một phần bản án, sau đó bổ sung, làm rõ lý do kháng cáo về án lệ trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, thay vì chờ hoàn chỉnh lập luận rồi mới nộp đơn và có nguy cơ quá hạn.
Dịch vụ luật sư tư vấn và thực hiện thủ tục kháng cáo dân sự tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm với các công việc sau:
- Rà soát toàn bộ bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án và các yêu cầu đã được Tòa án giải quyết.
- Xác định phần bản án có căn cứ kháng cáo và phạm vi nên yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại.
- Kiểm tra thời hạn kháng cáo, tư cách người kháng cáo và nơi nộp đơn.
- Đánh giá căn cứ về áp dụng sai pháp luật, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ hoặc vi phạm thủ tục tố tụng.
- Tra cứu, rà soát và đối chiếu các án lệ có tình huống pháp lý tương tự với vụ việc.
- Phân tích mức độ tương đồng giữa vụ án và án lệ về quan hệ pháp luật, chủ thể và tình tiết quyết định.
- Đánh giá việc Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng án lệ hoặc phân biệt án lệ có phù hợp quy định hay không.
- Soạn thảo đơn kháng cáo đúng nội dung, hình thức và thời hạn.
- Xây dựng phần lập luận kháng cáo theo từng nhóm căn cứ, tránh trình bày chung chung.
- Chuẩn bị bản phân tích án lệ, tài liệu và chứng cứ bổ sung phục vụ giai đoạn phúc thẩm.
- Tư vấn trường hợp nên yêu cầu sửa bản án, hủy bản án để xét xử lại hoặc giữ nguyên một phần nội dung không có tranh chấp.
- Hỗ trợ xử lý trường hợp kháng cáo quá hạn và chuẩn bị tài liệu chứng minh lý do quá hạn khi có căn cứ.
- Đại diện theo ủy quyền làm việc với tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
- Tham gia tranh luận bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng tại phiên tòa phúc thẩm.
- Tư vấn, hỗ trợ giai đoạn thi hành án.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về kháng cáo khi tòa án không áp dụng án lệ
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi bản án sơ thẩm không áp dụng án lệ có tình huống pháp lý tương tự. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
1. Tòa án không áp dụng án lệ có bắt buộc phải nêu lý do trong bản án không?
Có. Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhưng Tòa án không áp dụng án lệ thì phải nêu rõ lý do trong bản án, quyết định. Nếu bản án hoàn toàn không đề cập, đây là căn cứ để xem xét kháng cáo.
2. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm dân sự là bao lâu?
Theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt có lý do chính đáng, thời hạn tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
3. Kháng cáo với lý do án lệ nộp ở Tòa án nào từ 01/7/2025?
Đơn kháng cáo vẫn nộp tại Tòa án nhân dân khu vực đã ra bản án sơ thẩm, theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án này chuyển hồ sơ để Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2025.
4. Nếu Tòa án chứng minh được vụ việc khác với án lệ thì có được kháng cáo với lý do án lệ không?
Trường hợp này khó thành công nếu chỉ dựa vào lý do “không áp dụng án lệ”. Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, Tòa án có quyền không áp dụng án lệ nếu nêu rõ lý do phân biệt tình huống. Đương sự cần phản bác trực tiếp căn cứ phân biệt đó thay vì chỉ nêu việc không áp dụng án lệ.
5. Hội đồng xét xử phúc thẩm xử lý thế nào khi chấp nhận lập luận về án lệ?
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nếu chứng cứ đã đầy đủ, hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nếu việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và không thể bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm.
6. Kháng cáo quá thời hạn 15 ngày vì đang thu thập án lệ liên quan thì xử lý thế nào?
Theo Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là trường hợp kháng cáo quá hạn. Việc chưa hoàn thiện lập luận về án lệ không đương nĐây thuộc trường hợp kháng cáo quá hạn theo Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Việc chưa hoàn thiện lập luận về án lệ không đương nhiên được coi là trở ngại khách quan; đương sự nên nộp đơn kháng cáo đúng hạn trước, sau đó bổ sung căn cứ về án lệ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm.
Kết luận
Kháng cáo khi tòa án không áp dụng án lệ là một luận điểm pháp lý riêng biệt, đòi hỏi đương sự chứng minh cụ thể tình huống pháp lý tương tự giữa vụ việc và án lệ được viện dẫn, đồng thời tuân thủ đúng thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Việc soạn đơn kháng cáo có cấu trúc rõ ràng, đối chiếu đầy đủ căn cứ theo Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP quyết định phần lớn khả năng được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát bản án và xây dựng lập luận kháng cáo phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
- Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Án lệ trong xét xử dân sự, Bảo vệ quyền lợi đương sự, chứng cứ trong vụ án dân sự, Đơn kháng cáo dân sự, hủy bản án sơ thẩm, kháng cáo bản án dân sự, Luật sư kháng cáo dân sự, Thủ tục kháng cáo bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm, Vi phạm thủ tục tố tụng dân sự

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.