Tiền lãi trả thừa có phải là yêu cầu phản tố không?

Tiền lãi trả thừa có phải là yêu cầu phản tố là câu hỏi phát sinh phổ biến khi bị đơn trong vụ án đòi nợ vay phát hiện mình đã trả lãi vượt quá số tiền lãi phải trả theo quy định pháp luật. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều bị đơn lúng túng không biết nên trình bày yêu cầu đòi lại khoản tiền thừa này dưới hình thức nào, dẫn đến bỏ lỡ thời hạn nộp đơn phản tố và mất quyền được Tòa án xem xét ngay trong vụ án đang giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Bài viết dưới đây phân tích cách xác định tiền lãi trả thừa, căn cứ xác định đây là yêu cầu phản tố theo hướng dẫn mới nhất của Tòa án nhân dân tối cao và thủ tục bị đơn cần thực hiện để bảo vệ quyền lợi của mình.

Tiền lãi trả thừa có phải là yêu cầu phản tố và cách xử lý phần lãi vượt mức hợp pháp.
Phần lãi trả vượt mức hợp pháp được bù trừ vào nợ gốc, phần còn dư có thể được yêu cầu hoàn trả bằng phản tố.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Theo Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, yêu cầu của bị đơn đòi nguyên đơn trả lại tiền lãi đã trả thừa là yêu cầu phản tố, thuộc trường hợp bù trừ nghĩa vụ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • Tiền lãi trả vượt mức lãi suất hợp pháp được trừ vào nợ gốc tại thời điểm trả lãi trước, phần còn dư sau khi trừ hết nợ gốc mới được hoàn trả cho bên vay.
  • Bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nộp muộn hơn Tòa án sẽ không xem xét trong cùng vụ án.
  • Thủ tục yêu cầu phản tố được thực hiện như thủ tục khởi kiện của nguyên đơn, bao gồm cả nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí đối với phần yêu cầu phản tố.

Tình huống bị đơn phát hiện đã trả thừa tiền lãi vay trong vụ án đòi nợ

Một cá nhân vay tiền của người khác, thỏa thuận lãi suất cao hơn mức trần pháp luật cho phép nhưng vẫn thực hiện trả lãi đều đặn trong nhiều năm. Khi bên cho vay khởi kiện đòi nợ gốc còn lại, bị đơn rà soát lại toàn bộ chứng từ trả lãi và phát hiện số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất hợp pháp, thậm chí sau khi trừ hết nợ gốc vẫn còn dư một khoản. Bị đơn muốn đòi lại khoản tiền thừa này ngay trong vụ án đang bị kiện, nhưng không rõ đây là yêu cầu phản tố hay chỉ là ý kiến phản bác đơn thuần. Tình huống này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải đáp trực tiếp tại Công văn 250/TANDTC-PC.

Tiền lãi trả thừa trong hợp đồng vay tài sản được xác định và xử lý thế nào?

Tiền lãi trả thừa phát sinh khi lãi suất các bên thỏa thuận vượt quá mức lãi suất pháp luật cho phép đối với hợp đồng vay tài sản không phải hợp đồng tín dụng. Phần lãi suất vượt trần không có hiệu lực và số tiền lãi đã trả tương ứng với phần vượt trần đó được xử lý theo nguyên tắc bù trừ vào nghĩa vụ trả nợ gốc. Việc xác định đúng số tiền lãi trả thừa là bước bắt buộc trước khi bị đơn quyết định có nộp đơn phản tố hay không.

Mức lãi suất vượt trần và hệ quả vô hiệu một phần thỏa thuận lãi

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác; trường hợp lãi suất thỏa thuận vượt quá mức trần này thì phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Quy định về trần lãi suất 20%/năm chỉ áp dụng đối với hợp đồng vay tài sản giữa các cá nhân, tổ chức thông thường, không áp dụng đối với hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vì loại quan hệ này chịu sự điều chỉnh riêng của pháp luật về các tổ chức tín dụng.

Khi lãi suất thỏa thuận vượt quá 20%/năm, phần vượt trần bị coi là vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết, không phụ thuộc vào việc các bên có tranh chấp hay không. Đây là căn cứ để xác định phần tiền lãi bị đơn đã trả cho phần lãi suất vượt trần là khoản tiền trả thừa cần được xử lý lại theo đúng quy định pháp luật.

Nguyên tắc trừ tiền lãi trả thừa vào nợ gốc, phần dư được hoàn trả

Theo quy định tại Điều 9 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận lãi suất cao hơn mức pháp luật quy định thì phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất được pháp luật quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi, số tiền lãi trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.

Nguyên tắc này áp dụng theo trình tự thời gian trả lãi, không được cộng gộp toàn bộ số tiền lãi đã trả rồi trừ một lần vào tổng nợ gốc cuối kỳ. Việc tính toán chính xác số tiền lãi trả thừa tại từng thời điểm trả lãi là cơ sở để xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn bao nhiêu, hay ngược lại nguyên đơn phải hoàn trả cho bị đơn phần chênh lệch dư ra.

Xử lý tiền lãi trả thừa bằng cách trừ vào nợ gốc và hoàn trả phần còn dư.
Việc tính tiền lãi trả thừa cần thực hiện theo từng thời điểm trả lãi trước khi xác định phần dư phải hoàn trả.

Bị đơn đòi lại tiền lãi đã trả thừa có phải là yêu cầu phản tố theo Công văn 250/TANDTC-PC?

Theo Mục 36 Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, đối với tình huống nguyên đơn khởi kiện đòi tiền vay và lãi vay mà có căn cứ xác định bị đơn đã trả tiền lãi nhiều hơn số tiền lãi vay, sau khi dùng số tiền dư thanh toán khoản nợ gốc mà vẫn còn tiền thừa, yêu cầu của bị đơn đòi trả lại tiền thừa là yêu cầu phản tố và Tòa án buộc nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn số tiền thừa đó. Đây là căn cứ trả lời trực tiếp và có giá trị áp dụng thống nhất cho toàn bộ hệ thống Tòa án.

Căn cứ pháp lý xác định yêu cầu đòi tiền lãi trả thừa là yêu cầu phản tố

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận khi yêu cầu đó nhằm bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn. Trong tình huống nguyên đơn đòi bị đơn trả nợ gốc và lãi vay, còn bị đơn xác định mình đã trả lãi vượt quá nghĩa vụ và có phần dư sau khi bù trừ vào nợ gốc, yêu cầu đòi lại phần dư này chính là yêu cầu bù trừ nghĩa vụ giữa hai bên trong cùng một quan hệ vay tài sản.

Mục 36 Công văn 250/TANDTC-PC đã xác nhận trực tiếp cách hiểu này bằng cách viện dẫn đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để kết luận yêu cầu của bị đơn là yêu cầu phản tố. Việc Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn thống nhất giúp loại bỏ tình trạng áp dụng không đồng nhất từng tồn tại trước đây giữa các Tòa án khi giải quyết loại yêu cầu này.

Hệ quả tố tụng khi yêu cầu đòi tiền lãi trả thừa được xác định là phản tố

Khi yêu cầu đòi lại tiền lãi trả thừa được xác định là yêu cầu phản tố, bị đơn bắt buộc phải thực hiện đầy đủ thủ tục nộp đơn phản tố theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thay vì chỉ trình bày như một ý kiến phản bác đơn thuần trong văn bản ghi ý kiến theo Điều 202 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015. Nếu bị đơn chỉ nêu ý kiến mà không làm đơn phản tố đúng thủ tục, thời hạn luật định tại Khoản 3 Điều 200 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án có thể không có căn cứ để tuyên buộc nguyên đơn hoàn trả phần tiền thừa trong cùng vụ án.

Ngược lại, khi yêu cầu phản tố hợp lệ được chấp nhận, Tòa án giải quyết đồng thời cả yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn trong cùng một vụ án, giúp xác định chính xác số tiền các bên còn phải thanh toán cho nhau mà không phải khởi kiện thêm một vụ án riêng.

>>> Xem thêm: Khi nào có quyền thực hiện yêu cầu phản tố

Thủ tục bị đơn cần thực hiện để yêu cầu đòi lại tiền lãi trả thừa được chấp nhận là phản tố

Sau khi xác định yêu cầu đòi lại tiền lãi trả thừa là yêu cầu phản tố, bị đơn cần thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Điều 200, Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để yêu cầu này được Tòa án thụ lý, giải quyết trong cùng vụ án. Việc chuẩn bị hồ sơ và tuân thủ thời hạn có ý nghĩa quyết định đến khả năng được chấp nhận của yêu cầu phản tố.

Thời điểm bắt buộc phải nộp đơn phản tố

Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau thời điểm này, Tòa án có căn cứ để không xem xét yêu cầu phản tố trong cùng vụ án đang giải quyết.

Bị đơn nên nộp đơn phản tố cùng thời điểm nộp văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ngay sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án từ Tòa án, để có đủ thời gian chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền lãi đã trả thừa.

Hồ sơ đơn phản tố và nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí

Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thủ tục yêu cầu phản tố được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải làm đơn phản tố bằng văn bản, nêu rõ số tiền lãi đã trả thừa, cách tính, kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh (hợp đồng vay, chứng từ trả lãi, sao kê chuyển khoản…) từ Điều 189 đến Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, bị đơn có yêu cầu phản tố phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp có lý do chính đáng hoặc được miễn, giảm theo quy định. Hồ sơ đơn phản tố đòi tiền lãi trả thừa thông thường bao gồm:

  • Đơn phản tố nêu rõ yêu cầu đòi lại tiền lãi trả thừa và cách tính số tiền cụ thể.
  • Hợp đồng vay tài sản hoặc giấy vay tiền giữa các bên.
  • Chứng từ, sao kê thể hiện các lần trả lãi, số tiền và thời điểm trả lãi.
  • Bảng tính chi tiết số tiền lãi trả thừa theo từng thời điểm trả lãi.
  • Biên lai nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố sau khi được Tòa án thông báo.
Thủ tục yêu cầu phản tố gồm nộp đơn đúng thời điểm, chứng cứ và tạm ứng án phí.
Bị đơn cần nộp đơn phản tố đúng thời điểm, kèm chứng cứ và thực hiện nghĩa vụ tạm ứng án phí.

Rủi ro nếu bị đơn không làm đơn phản tố đúng thủ tục, đúng thời hạn

Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc bỏ lỡ thời hạn nộp đơn phản tố khiến bị đơn mất quyền yêu cầu Tòa án xem xét khoản tiền lãi trả thừa trong vụ án đang giải quyết. Khi đó, bị đơn buộc phải khởi kiện một vụ án dân sự độc lập để đòi lại số tiền này, làm phát sinh thêm án phí, kéo dài thời gian giải quyết và không được xem xét đồng thời với vụ án gốc.

Việc khởi kiện vụ án riêng còn kéo theo rủi ro về thời hiệu khởi kiện nếu thời gian từ khi phát sinh quyền đòi lại tiền lãi trả thừa đến khi khởi kiện vụ án mới đã kéo dài. Do đó, bị đơn nên chủ động rà soát và nộp đơn phản tố ngay trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm của vụ án đang bị nguyên đơn khởi kiện thay vì chờ đến khi vụ án kết thúc.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ đòi lại tiền lãi trả thừa trong các tranh chấp dân sự

Luật Long Phan PMT hỗ trợ bị đơn trong các vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản có phát sinh tiền lãi trả thừa với các công việc sau:

  • Rà soát hợp đồng vay và toàn bộ chứng từ trả lãi để xác định lãi suất thực tế đã áp dụng.
  • Tính lại số tiền lãi trả thừa theo đúng nguyên tắc bù trừ vào nợ gốc quy định tại Điều 9 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP.
  • Đánh giá yêu cầu đòi lại tiền lãi trả thừa có đủ điều kiện là yêu cầu phản tố theo Công văn 250/TANDTC-PC.
  • Soạn thảo đơn phản tố và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu, chứng cứ kèm theo.
  • Đại diện bị đơn làm việc với Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về tiền lãi trả thừa có phải là yêu cầu phản tố không?

Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp liên quan đến yêu cầu đòi lại tiền lãi trả thừa trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015 và hướng dẫn mới nhất của Tòa án nhân dân tối cao.

1. Bị đơn đòi lại tiền lãi trả thừa có bắt buộc phải làm đơn phản tố không?

Có. Theo Công văn 250/TANDTC-PC và điểm a khoản 2 Điều 200, Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, yêu cầu đòi lại tiền lãi trả thừa là yêu cầu phản tố nên bị đơn phải làm đơn phản tố theo đúng thủ tục thay vì chỉ nêu ý kiến phản bác. Nếu không làm đơn phản tố đúng thời hạn, Tòa án có thể không xem xét yêu cầu này trong cùng vụ án.

2. Thời hạn nộp đơn phản tố đòi tiền lãi trả thừa là bao lâu?

Theo khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau thời điểm này, yêu cầu phản tố có thể không được Tòa án chấp nhận xem xét trong vụ án đang giải quyết.

3. Bị đơn có phải nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố không?

Có. Theo điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị đơn có yêu cầu phản tố phải nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báo của Tòa án, trừ trường hợp được miễn hoặc giảm theo quy định pháp luật về án phí.

4. Cách tính tiền lãi trả thừa trong hợp đồng vay tài sản như thế nào?

Theo Điều 9 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, phần lãi suất vượt quá mức trần pháp luật quy định không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá được trừ vào nợ gốc tại thời điểm trả lãi, phần còn dư sau khi trừ hết nợ gốc mới được hoàn trả lại cho bên vay.

5. Mức lãi suất tối đa trong hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân là bao nhiêu?

Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Phần lãi suất thỏa thuận vượt quá mức này không có hiệu lực.

6. Nếu bị đơn không kịp nộp đơn phản tố thì có được đòi lại tiền lãi trả thừa bằng cách nào khác không?

Có. Bị đơn vẫn có quyền khởi kiện một vụ án dân sự độc lập để đòi lại số tiền lãi trả thừa theo quy định chung về quyền khởi kiện, tuy nhiên việc này làm phát sinh thêm án phí, kéo dài thời gian giải quyết và không được Tòa án xem xét đồng thời với vụ án gốc.

Kết luận

Tiền lãi trả thừa mà bị đơn đòi lại từ nguyên đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản là yêu cầu phản tố theo hướng dẫn thống nhất tại Công văn 250/TANDTC-PC và điểm a khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn cần chủ động tính toán chính xác số tiền lãi trả thừa, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng cứ và nộp đơn phản tố đúng thời hạn để bảo vệ quyền lợi ngay trong vụ án đang giải quyết. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ vay, tính lại số tiền lãi trả thừa và thực hiện thủ tục phản tố đúng quy định. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
  • Công văn 250/TANDTC-PC
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , ,

Chuyên Viên Pháp Lý Huỳnh Nhi

Huỳnh Nhi - Chuyên Viên Pháp Lý tại Công ty Luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn về lĩnh vực hành chính và đất đai. Nhiệt huyết với khách hàng, luôn tận tâm để giải quyết các vấn đề mà khách hàng gặp phải.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87