Chia tài sản chung vợ chồng là phần vốn góp là vấn đề phức tạp khi ly hôn có yếu tố doanh nghiệp, vì tài sản tranh chấp còn gắn với quyền lợi công ty và thành viên góp vốn khác. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều khách hàng lúng túng vì phương án chia phải tuân thủ đồng thời Luật Hôn nhân và Gia đình lẫn Luật Doanh nghiệp. Đây cũng là lĩnh vực dịch vụ tranh chấp hôn nhân gia đình mà nhiều đương sự cần luật sư đồng hành.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Phần vốn góp hình thành trong thời kỳ hôn nhân từ thu nhập, hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ hoặc chồng được suy đoán là tài sản chung nếu không chứng minh được là tài sản riêng, theo khoản 1 và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
- Bên đang trực tiếp kinh doanh có quyền được ưu tiên nhận phần vốn góp và thanh toán giá trị chênh lệch cho bên còn lại, theo Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Bên đang trực tiếp kinh doanh có quyền được ưu tiên nhận phần vốn góp và thanh toán giá trị chênh lệch cho bên còn lại, theo Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. - Tòa án giao toàn bộ phần vốn góp tại công ty TNHH hai thành viên trở lên cho một bên có thể khiến công ty chỉ còn một thành viên, buộc phải tổ chức lại loại hình doanh nghiệp theo Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020, dẫn đến bản án khó thi hành theo rút kinh nghiệm tại Công văn 196/TANDTC-GĐKTIII ngày 26/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao.
- Việc chuyển nhượng phần vốn góp theo bản án chỉ có hiệu lực với công ty khi thông tin thành viên mới được ghi vào sổ đăng ký thành viên, theo khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Phần vốn góp có phải là tài sản chung của vợ chồng không?
Một cặp vợ chồng cùng đứng tên thành viên góp vốn tại một công ty TNHH, nhưng toàn bộ tiền góp vốn ban đầu do người chồng chuyển khoản từ tài khoản cá nhân. Khi ly hôn, người vợ yêu cầu chia phần vốn góp vì cho rằng đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, còn người chồng cho rằng mình là người duy nhất bỏ vốn nên có quyền sở hữu riêng. Tình huống này minh họa vướng mắc phổ biến nhất khi xác định phần vốn góp có phải là tài sản chung hay không.
Căn cứ xác định phần vốn góp hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung
Phần vốn góp được mua bằng tiền lương, thu nhập từ lao động hoặc từ hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh trong thời kỳ hôn nhân thuộc khối tài sản chung, dù chỉ một bên đứng tên thành viên góp vốn. Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này. Do đó, nguồn tiền dùng để góp vốn mới là căn cứ quyết định, không phải việc ai đứng tên trên Giấy chứng nhận phần vốn góp.
Đứng tên một mình trong sổ đăng ký thành viên có mặc nhiên là tài sản riêng không
Việc chỉ một bên đứng tên thành viên góp vốn hoặc được ghi nhận trong sổ đăng ký thành viên công ty không đương nhiên biến phần vốn góp thành tài sản riêng của người đó. Theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, không ít khách hàng chỉ giữ được Giấy chứng nhận phần vốn góp mà không có tài liệu chứng minh nguồn tiền góp vốn, khiến việc bảo vệ lập luận tài sản riêng gặp nhiều khó khăn tại Tòa án. Trường hợp một bên khẳng định phần vốn góp là tài sản riêng nhưng không xuất trình được nguồn tiền độc lập với thu nhập chung, nên chủ động thu thập sao kê tài khoản, hợp đồng tặng cho hoặc di chúc liên quan để chứng minh trước khi vụ việc được thụ lý, vì gánh nặng chứng minh thuộc về bên khẳng định tài sản riêng.
Nguyên tắc chia tài sản chung là phần vốn góp khi ly hôn
Việc chia phần vốn góp phải áp dụng đồng thời hai nhóm nguyên tắc: nguyên tắc chia tài sản chung nói chung và nguyên tắc riêng cho tài sản đang đưa vào kinh doanh, vì phần vốn góp vừa là tài sản chung vừa là công cụ kinh doanh. Theo Điều 59 và Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hai nguyên tắc này bổ sung cho nhau khi Tòa án xác định phương án phân chia.
Nguyên tắc chia đôi có tính đến công sức đóng góp, hoàn cảnh gia đình, lỗi của mỗi bên
Tài sản chung về nguyên tắc được chia đôi nhưng Tòa án phải cân nhắc hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp và lỗi của mỗi bên trước khi ấn định tỷ lệ cụ thể. Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, các yếu tố này gồm hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Điểm a, điểm b và điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn cụ thể: người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm vẫn được tính là lao động có thu nhập tương đương với bên đi làm khi xác định công sức đóng góp.
Nguyên tắc ưu tiên cho bên đang trực tiếp kinh doanh nhận tài sản và thanh toán giá trị cho bên còn lại
Bên vợ hoặc chồng đang trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh liên quan đến phần vốn góp có quyền được ưu tiên nhận phần vốn góp đó, đồng thời phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tương ứng. Theo Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quy định này nhằm bảo đảm hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn chỉ vì quan hệ hôn nhân chấm dứt. Điểm c khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thêm rằng việc bảo vệ lợi ích chính đáng trong kinh doanh không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của bên còn lại và con chưa thành niên. Trường hợp cả hai vợ chồng đều trực tiếp tham gia điều hành công ty, đây là ngoại lệ khiến nguyên tắc ưu tiên nêu trên khó áp dụng. Vì vậy, khách hàng nên chuẩn bị phương án định giá và đề xuất cơ cấu quản lý cụ thể để trình bày tại Tòa án thay vì chỉ dựa vào lập luận ai gắn bó lâu hơn với công ty.
>> Xem thêm: Hướng Dẫn Chi Tiết Xử Lý Tài Sản Chung Vợ Chồng Trong Doanh Nghiệp Khi Ly Hôn

Vướng mắc thực tiễn khi chia phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, sai lầm phổ biến nhất là chỉ tập trung vào giá trị tài sản mà bỏ qua hậu quả của phương án chia đối với cơ cấu thành viên công ty — nội dung mà Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản rút kinh nghiệm chuyên biệt trong năm 2026.
Rủi ro khi bản án giao toàn bộ phần vốn góp khiến công ty chỉ còn một thành viên
Nếu bản án giao toàn bộ phần vốn góp tại một công ty TNHH hai thành viên trở lên, nơi vợ và chồng là hai thành viên góp vốn duy nhất, cho một bên thì công ty đó đương nhiên chỉ còn một thành viên. Theo Công văn 196/TANDTC-GĐKTIII ngày 26/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, Vụ Giám đốc, kiểm tra III đã chỉ ra thực tế có Tòa án quyết định giao mỗi bên quản lý một công ty và buộc bên nhận tài sản giá trị lớn hơn thanh toán chênh lệch, nhưng chưa xem xét đầy đủ hậu quả pháp lý của phương án này.
Vì theo Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phải có từ 02 đến 50 thành viên, nên khi chỉ còn một thành viên, công ty buộc phải tổ chức lại theo loại hình công ty TNHH một thành viên và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, chủ nợ và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Trường hợp phương án chia dẫn đến hệ quả này, khách hàng nên chủ động đề xuất phương án định giá và chuyển nhượng cho bên thứ ba hoặc thanh toán bằng giá trị thay vì hiện vật, để tránh việc bản án bị vướng khi thi hành.
Những tài liệu cần thu thập để tránh phương án chia thiếu khả thi
Trước khi Tòa án ra quyết định phân chia, đương sự nên chủ động cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý của công ty để Tòa án có căn cứ đánh giá hậu quả của từng phương án. Theo Công văn 196/TANDTC-GĐKTIII ngày 26/8/2026, Tòa án cần xác định đúng đối tượng tài sản, thu thập đầy đủ điều lệ, sổ đăng ký thành viên và cân nhắc hậu quả của phương án phân chia đối với cơ cấu thành viên, loại hình doanh nghiệp. Đương sự nên chuẩn bị: điều lệ công ty; sổ đăng ký thành viên hoặc Giấy chứng nhận phần vốn góp; báo cáo tài chính gần nhất phục vụ định giá; văn bản thể hiện ý kiến của thành viên còn lại (nếu có).

Chia phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên phải tuân thủ quy định nào của Luật Doanh nghiệp
Bản án hoặc thỏa thuận ly hôn xác định ai được nhận phần vốn góp chỉ giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ và chồng; để có hiệu lực với công ty và các thành viên khác, việc chuyển giao phần vốn góp còn phải tuân thủ thủ tục chuyển nhượng theo Luật Doanh nghiệp 2020. Theo Điều 51, Điều 52 và Điều 53 Luật Doanh nghiệp 2020, thứ tự và điều kiện chuyển nhượng phần vốn góp được quy định cụ thể, không đương nhiên áp dụng tương tự bản án dân sự.
Quyền ưu tiên mua của các thành viên còn lại khi chuyển nhượng phần vốn góp
Trước khi phần vốn góp được chuyển cho người không phải thành viên hiện hữu, phần vốn góp đó về nguyên tắc phải được chào bán ưu tiên cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng. Theo điểm a khoản 1 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi 2025), thành viên có quyền chuyển nhượng phần vốn góp nhưng phải chào bán cho thành viên còn lại theo cùng điều kiện chào bán trước khi chuyển cho người ngoài. Đây là điểm dễ bị bỏ sót khi vợ chồng là hai thành viên duy nhất, vì khi đó chính hai bên là “thành viên còn lại” của nhau nên quyền ưu tiên mua áp dụng ngay giữa hai đương sự.
Thời điểm việc nhận phần vốn góp có hiệu lực pháp lý với công ty
Bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp theo bản án chỉ chính thức trở thành thành viên công ty kể từ khi thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên, không phải từ ngày bản án có hiệu lực. Theo khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020, bên chuyển nhượng vẫn còn quyền, nghĩa vụ với công ty tương ứng phần vốn góp cho đến khi thông tin người nhận được ghi vào sổ đăng ký thành viên theo Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2020. Khách hàng cần cập nhật sổ đăng ký thành viên và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp ngay sau khi bản án có hiệu lực, tránh tranh chấp về tư cách thành viên trong giai đoạn chuyển tiếp.
Chia cổ phần trong công ty cổ phần là tài sản chung vợ chồng có khác gì so với phần vốn góp?
Nếu tài sản chung là cổ phần tại công ty cổ phần thay vì phần vốn góp tại công ty TNHH, cơ chế chuyển nhượng khác biệt đáng kể do nguyên tắc tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ một số hạn chế với cổ đông sáng lập. Theo điểm d khoản 1 Điều 111, khoản 3 Điều 120 và Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020, việc chia cổ phần khi ly hôn thường đơn giản hơn về thủ tục nội bộ so với phần vốn góp.
| Tiêu chí | Phần vốn góp (công ty TNHH 2 thành viên trở lên) | Cổ phần (công ty cổ phần) |
| Nguyên tắc chuyển nhượng | Phải chào bán ưu tiên cho thành viên còn lại trước | Được tự do chuyển nhượng, trừ ngoại lệ |
| Căn cứ pháp lý | Điểm a khoản 1 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi 2025) | Khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 |
| Hạn chế đặc biệt | Ảnh hưởng cơ cấu thành viên nếu chỉ còn một thành viên | Cổ đông sáng lập bị hạn chế 3 năm đầu theo khoản 3 Điều 120 |
| Thời điểm có hiệu lực với công ty | Khi ghi vào sổ đăng ký thành viên (Điều 48) | Khi ghi vào sổ đăng ký cổ đông |
Nguyên tắc tự do chuyển nhượng cổ phần và trường hợp hạn chế đối với cổ đông sáng lập
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, kể cả chuyển cho vợ hoặc chồng theo phương án phân chia tài sản, trừ một số trường hợp hạn chế luật định. Theo điểm d khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần loại trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, theo đó trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác, còn muốn chuyển cho người ngoài phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Trường hợp bên có cổ phần cần chia vẫn đang trong thời hạn hạn chế 03 năm này, nên cân nhắc phương án thanh toán bằng giá trị thay vì chuyển nhượng trực tiếp cổ phần để tránh phải xin ý kiến Đại hội đồng cổ đông.
Hình thức và thủ tục chuyển nhượng cổ phần khi thực hiện phân chia
Việc chuyển nhượng cổ phần theo bản án hoặc thỏa thuận ly hôn được thực hiện bằng hợp đồng chuyển nhượng ký giữa các bên hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán nếu công ty đã niêm yết. Theo khoản 2 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020, trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc người đại diện theo ủy quyền ký; công ty sau đó cập nhật thông tin cổ đông mới vào sổ đăng ký cổ đông.
Vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia phần vốn góp hay bắt buộc phải qua Tòa án?
Pháp luật ưu tiên quyền tự thỏa thuận của vợ chồng về phân chia tài sản, kể cả khi tài sản là phần vốn góp hoặc cổ phần, chỉ khi không đạt được thỏa thuận mới cần yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung.
Điều kiện để thỏa thuận chia tài sản là phần vốn góp có hiệu lực
Thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản là phần vốn góp chỉ có giá trị pháp lý khi không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản, bao gồm cả trường hợp không yêu cầu Tòa án giải quyết, phải đáp ứng điều kiện này. Trường hợp thỏa thuận chia phần vốn góp có nội dung nhằm né tránh nghĩa vụ với chủ nợ của công ty hoặc tước bỏ quyền lợi hợp pháp của thành viên khác, thỏa thuận đó có nguy cơ bị tuyên vô hiệu; khách hàng nên yêu cầu luật sư rà soát thỏa thuận trước khi ký để tránh rủi ro này.
Trường hợp phải yêu cầu Tòa án giải quyết khi không đạt được thỏa thuận
Khi vợ chồng không thống nhất được phương án chia phần vốn góp, một trong hai bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, đây là cơ chế bắt buộc khi không có sự đồng thuận, và Tòa án sẽ áp dụng các nguyên tắc đã phân tích ở phần trên để phân chia.
Thủ tục yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là phần vốn góp
Khi phải khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là phần vốn góp, đương sự cần thực hiện đúng trình tự tố tụng dân sự để hồ sơ được thụ lý đúng thời hạn. Quy trình chung gồm các bước sau:
- Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gồm đơn khởi kiện, giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân, tài liệu chứng minh nguồn gốc tài sản và hồ sơ pháp lý của công ty (Điều lệ, sổ đăng ký thành viên hoặc sổ đăng ký cổ đông, báo cáo tài chính).
- Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự.
- Yêu cầu Tòa án trưng cầu định giá phần vốn góp hoặc cổ phần nếu các bên không thống nhất được giá trị tài sản.
- Tham gia phiên tòa sơ thẩm để Tòa án xem xét, quyết định phương án phân chia dựa trên các nguyên tắc tại Điều 59 và Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
- Thực hiện thủ tục cập nhật sổ đăng ký thành viên hoặc sổ đăng ký cổ đông và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
>>> Xem thêm: Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản trong công ty khi ly hôn
Rủi ro pháp lý doanh nghiệp và vợ chồng cần lưu ý khi chia phần vốn góp
Ngoài rủi ro về giá trị tài sản, việc chia phần vốn góp còn kéo theo rủi ro mang tính cơ cấu đối với doanh nghiệp mà cả vợ chồng và các thành viên khác cần lường trước.
Rủi ro thay đổi loại hình doanh nghiệp ngoài ý muốn của các thành viên
Một phương án chia tưởng chừng công bằng về giá trị tài sản có thể vô tình làm thay đổi loại hình pháp lý của công ty nếu không tính đến số lượng thành viên còn lại sau khi chia. Theo Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 và Công văn 196/TANDTC-GĐKTIII ngày 26/8/2026, công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ còn một thành viên buộc phải chuyển đổi loại hình và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, kéo theo chi phí, thời gian và có thể ảnh hưởng các hợp đồng, giấy phép đã ký dựa trên loại hình cũ.
Rủi ro tranh chấp với thành viên, cổ đông không phải vợ chồng trong công ty
Khi công ty có thêm thành viên hoặc cổ đông khác ngoài vợ chồng, phương án chuyển nhượng phần vốn góp không tuân thủ đúng quyền ưu tiên mua đều có nguy cơ bị chính thành viên đó khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu giao dịch. Theo điểm a khoản 1 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020, quyền ưu tiên mua là quy định bắt buộc, không phụ thuộc vào nội dung bản án ly hôn. Do đó, đương sự cần chủ động đề nghị Tòa án đưa các thành viên, cổ đông liên quan tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để bản án khả thi khi thi hành.
Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp, cổ phần tại doanh nghiệp với các công việc sau:
- Rà soát hồ sơ hôn nhân và toàn bộ tài sản hình thành trước, trong thời kỳ hôn nhân.
- Xác định tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc tài sản.
- Tư vấn nguyên tắc phân chia tài sản theo công sức đóng góp, hoàn cảnh và các yếu tố liên quan.
- Rà soát phần vốn góp, cổ phần, quyền tài sản và lợi ích kinh tế tại doanh nghiệp.
- Kiểm tra nguồn tiền dùng để góp vốn, mua cổ phần hoặc đầu tư kinh doanh.
- Thu thập điều lệ công ty, sổ đăng ký thành viên, sổ đăng ký cổ đông và báo cáo tài chính.
- Tư vấn phương án một bên nhận phần vốn góp, cổ phần và thanh toán phần giá trị chênh lệch.
- Đánh giá ảnh hưởng của phương án phân chia đến cơ cấu thành viên, cổ đông và loại hình doanh nghiệp.
- Tư vấn quyền ưu tiên mua của thành viên còn lại trong công ty TNHH.
- Rà soát hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần.
- Hỗ trợ định giá phần vốn góp, cổ phần và tài sản kinh doanh.
- Tư vấn phương án thỏa thuận chia tài sản ngoài Tòa án.
- Soạn thảo thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng.
- Soạn đơn khởi kiện và yêu cầu chia tài sản khi các bên không đạt được thỏa thuận.
- Chuẩn bị hồ sơ, tài liệu và chứng cứ phục vụ việc giải quyết tranh chấp.
- Đại diện theo ủy quyền trực tiếp tham gia các buổi làm việc tại Tòa án, cơ quan có thẩm quyền.
- Tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi của khách hàng tại phiên tòa.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về chia tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi chia tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp, cổ phần tại doanh nghiệp, dựa trên Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Luật Doanh nghiệp 2020 hiện hành.
1. Phần vốn góp đứng tên một mình vợ hoặc chồng có phải chia khi ly hôn không?
Có, nếu phần vốn góp được hình thành từ thu nhập, hoạt động kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn là tài sản chung dù chỉ một bên đứng tên, theo khoản 1 và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Bên khẳng định đây là tài sản riêng phải tự chứng minh nguồn gốc hình thành tài sản.
2. Ly hôn có bắt buộc phải bán phần vốn góp cho người ngoài công ty không?
Không bắt buộc. Vợ chồng có thể thỏa thuận một bên nhận phần vốn góp và thanh toán giá trị chênh lệch cho bên kia theo Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, miễn là tuân thủ quyền ưu tiên mua của thành viên còn lại theo điểm a khoản 1 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020.
3. Thành viên còn lại trong công ty có quyền phản đối phương án chia phần vốn góp của Tòa án không?
Thành viên còn lại không đương nhiên phản đối được nội dung bản án về quan hệ tài sản giữa vợ chồng, nhưng có quyền yêu cầu thực hiện đúng quyền ưu tiên mua khi phần vốn góp được chuyển cho người ngoài công ty theo điểm a khoản 1 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020. Vì vậy thành viên còn lại nên được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
4. Vợ chồng có thể thỏa thuận một bên nhận toàn bộ phần vốn góp và thanh toán chênh lệch cho bên kia không?
Có, đây là phương án phổ biến và phù hợp với nguyên tắc tại Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, miễn là thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP.
5. Chia cổ phần khi ly hôn có cần sự đồng ý của công ty không?
Về nguyên tắc không cần, vì cổ phần được tự do chuyển nhượng theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020, trừ trường hợp cổ đông sáng lập trong thời hạn 03 năm đầu theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận khi chuyển cho người không phải cổ đông sáng lập.
6. Tòa án căn cứ vào đâu để định giá phần vốn góp khi chia tài sản?
Tòa án xem xét tính chất pháp lý của tài sản tranh chấp, báo cáo tài chính và có thể trưng cầu định giá độc lập theo hướng dẫn tại Công văn 196/TANDTC-GĐKTIII ngày 26/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, nhằm bảo đảm phương án phân chia phản ánh đúng giá trị thực tế và khả thi khi thi hành.
Kết luận
Chia tài sản chung vợ chồng là phần vốn góp đòi hỏi vận dụng đồng thời Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 để xác định tài sản và tỷ lệ phân chia, cùng Luật Doanh nghiệp 2020 để bảo đảm phương án phân chia có hiệu lực và khả thi với công ty. Việc bỏ qua hậu quả đối với cơ cấu thành viên, quyền ưu tiên mua của các thành viên khác hoặc thủ tục cập nhật sổ đăng ký thành viên có thể khiến bản án khó thi hành trên thực tế. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, xây dựng phương án phân chia phù hợp và đại diện tham gia tố tụng. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
- Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi 2025)
- Công văn 196/TANDTC-GĐKTIII ngày 26/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, Vụ Giám đốc, kiểm tra III
- Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Chia cổ phần khi ly hôn, chia phần vốn góp khi ly hôn, chia tài sản chung là phần vốn góp, Chia tài sản khi ly hôn, chuyển nhượng phần vốn góp khi ly hôn, định giá phần vốn góp công ty, định giá tài sản khi ly hôn, luật sư giải quyết tranh chấp tài sản, luật sư ly hôn, tài sản chung vợ chồng trong doanh nghiệp, tài sản doanh nghiệp khi ly hôn, thỏa thuận chia tài sản, thủ tục chia tài sản chung vợ chồng, tranh chấp tài sản khi ly hôn, tranh chấp vốn góp khi ly hôn, xử lý vốn góp công ty khi ly hôn

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.