Ly hôn khi vợ ngoại tình mang thai là tình huống vô cùng khó xử. Dù bức xúc và muốn chấm dứt hôn nhân ngay lập tức, pháp luật Việt Nam lại có những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của người mẹ và thai nhi. Vậy, đâu là hướng xử lý ly hôn tối ưu, hợp pháp và hiệu quả nhất cho người chồng trong trường hợp éo le này?

Quyền ly hôn khi vợ ngoại tình mang thai
Theo lẽ thường, khi vợ ngoại tình và có thai, nhiều người sẽ cho rằng người chồng có toàn quyền nộp đơn ly hôn để chấm dứt sự bội phản. Tuy nhiên, pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam lại không quy định như vậy.
Người vợ nộp đơn ly hôn
Người vợ ngoại tình mang thai có quyền nộp đơn ly hôn bất cứ lúc nào theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Pháp luật không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người vợ trong mọi trường hợp, kể cả khi vợ đang có thai.
Ngoài ra, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ/ chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Do đó, người vợ cần chuẩn bị các chứng cứ cụ thể chứng minh hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng như biên bản ghi nhận bạo lực gia đình, tin nhắn, hình ảnh hoặc lời khai của nhân chứng.
Lưu ý: Trường hợp người vợ bị bệnh tâm thần hoặc mất năng lực hành vi dân sự, cha mẹ hoặc người thân thích có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu chứng minh được người vợ là nạn nhân của bạo lực gia đình theo khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Như vậy, người vợ ngoại tình mang thai khi nộp đơn ly hôn không phải chờ đợi bất kỳ thời gian nào và Tòa án có thẩm quyền thụ lý hồ sơ ngay nếu không thuộc các trường hợp phải trả lại đơn tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Người chồng nộp đơn ly hôn
Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Quy định này áp dụng bất kể thai nghén có phải của chồng hay không, kể cả trường hợp vợ ngoại tình mang thai với người khác theo hướng dẫn tại Khoản 4,5 Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Ngoài ra, đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, khoản 6 Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP cũng quy định chồng của người mang thai hộ không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Do đó, đơn yêu cầu ly hôn của người chồng trong giai đoạn này sẽ không được Tòa án thụ lý và sẽ bị trả lại theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
>>> Xem thêm: Vợ đang mang thai, chồng có được ly hôn?

Hướng xử lý tối ưu để ly hôn khi vợ mang thai và ngoại tình
Dù mong muốn chấm dứt hôn nhân ngay, người chồng lại vấp phải rào cản pháp lý khi luật pháp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của mình để bảo vệ thai nhi. Vậy, liệu có hướng xử lý tối ưu nào để giải quyết bế tắc này không?
Chờ đến khi con đủ 12 tháng tuổi rồi chồng mới được nộp đơn
Ly hôn khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi là một tình huống pháp lý phức tạp mà người chồng phải đối mặt. Theo quy định mới nhất tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024, quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong giai đoạn này bị hạn chế.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 “Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.” Do đó, cách thức hiệu quả để ly hôn đơn phương theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia định 2014 trong trường hợp này là người chồng phải chờ đến khi con đủ 12 tháng tuổi mới có quyền nộp đơn yêu cầu ly hôn.
Thời hạn 12 tháng được tính từ ngày vợ sinh con hoặc ngày đình chỉ thai nghén theo Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Trong thời gian chờ đợi này, người chồng cần thu thập chứng cứ chứng minh hành vi ngoại tình của vợ và các vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ vợ chồng làm cho tình trạng hôn nhân không thể trở nên trầm trọng không tiếp diễn để chuẩn bị cho việc khởi kiện ly hôn.
Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài bao gồm các trường hợp sau:
- Không có tình nghĩa vợ chồng;
- Vợ chồng có quan hệ ngoại tình;
- Vợ chồng xúc phạm nhau làm tổn hại đến danh dự nhân phẩm;
- Không bình đẳng về quyền nghĩa vụ giữa vợ chồng, không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển.
Sau khi con đủ 12 tháng tuổi, người chồng có quyền nộp đơn yêu cầu ly hôn đơn phương tại Tòa án nhân dân khu vực nơi vợ cư trú theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Sau đó, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật Hôn nhân và gia định 2014 và Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, nếu hòa giải không thành và có căn cứ chứng minh hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng thì Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn.
Vợ là người nộp đơn chồng trình bày đồng ý để Tòa giải quyết theo hướng đơn phương của vợ
Giải pháp tối ưu thứ hai để ly hôn khi vợ ngoại tình mang thai là người vợ nộp đơn ly hôn đơn phương và người chồng trình bày đồng ý với yêu cầu ly hôn tại Tòa án. Bởi vì, theo Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, người vợ không bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong bất kỳ giai đoạn nào kể cả khi đang mang thai.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi có yêu cầu ly hôn Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu hòa giải không thành và có căn cứ về việc vợ chồng vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng.
Lưu ý: Thủ tục “thuận tình ly hôn” thường không được thụ lý trong giai đoạn vợ mang thai vì pháp luật cấm chồng “yêu cầu” ly hôn, trong hồ sơ thuận tình cả hai bên đều là người yêu cầu ly hôn. Do đó, cách an toàn là hồ sơ đứng tên vợ với tư cách đơn phương kèm theo ý kiến chồng đồng thuận.
>>> Xem thêm: Thủ tục ly hôn khi có bằng chứng ngoại tình mới nhất

Các vấn đề cần lưu ý khi ly hôn trong thời kỳ vợ mang thai
Khi ly hôn trong thời kỳ vợ mang thai, người chồng phải đối mặt với hàng loạt câu hỏi quan trọng: Đứa trẻ trong bụng có mặc nhiên là con chung không? Làm thế nào để xác định huyết thống một cách hợp pháp? Và hành vi ngoại tình của vợ sẽ được Tòa án xử lý như thế nào?
Con trong bào thai được mặc định là con chung trong thời kỳ hôn nhân
Nhiều người chồng lầm tưởng rằng họ không có bất kỳ ràng buộc nào với đứa trẻ. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại có một nguyên tắc mặc định quan trọng: con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân được coi là con chung.
Theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được coi là con chung của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp người vợ ngoại tình mang thai với người khác trong thời kỳ hôn nhân, trên cơ sở quy định của pháp luật người con đó vẫn được coi là con chung của vợ chồng.
Việc xác định con chung có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng khi ly hôn theo Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Nếu không có chứng cứ chứng minh ngược lại, người chồng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con sau ly hôn nếu không phải người trực tiếp nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Như vậy, về nguyên tắc thì Tòa án khi giải quyết ly hôn sẽ căn cứ vào quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 để xác định quan hệ cha mẹ con, trừ trường hợp người chồng có đơn yêu cầu Tòa án không nhận cha cho con và cung cấp các chứng cứ chứng minh quan hệ cha con như kết quả giám định ADN.
Quyền yêu cầu trưng cầu giám định để xác định cha cho con đối với bào thai
Nhiều người chồng băn khoăn liệu có thể yêu cầu giám định ADN để xác định cha cho con ngay trong giai đoạn thai kỳ hay không. Dưới đây là phân tích của chúng tôi về quyền yêu cầu trưng cầu giám định của người chồng.
Người chồng có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định ADN để xác định quan hệ huyết thống giữa bào thai với người chồng theo khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 khi là đương sự trong vụ án đã được thụ lý. Chi phí giám định ADN do người yêu cầu giám định tạm ứng chi trả theo khoản 1 Điều 160 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về mặt sinh học, mẹ đang mang bầu có thể thực hiện xét nghiệm huyết thống ngay từ tuần thứ 7 của thai kỳ theo hướng dẫn của các chuyên gia y tế thông qua các phương pháp như sinh thiết gai thai, chọc ối, xét nghiệm ADN thai nhi không xâm lấn.
Như vậy, cả về mặt pháp lý lẫn y học, việc xác định cha cho con ngay từ khi còn là bào thai là khả thi. Người chồng có đầy đủ quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định ADN, và đây chính là cơ sở pháp lý để làm rõ sự thật, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình trong các tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Ngoại tình có thể là căn cứ để Tòa giải quyết cho ly hôn nhưng Tòa dân sự không có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hay hình sự
Nhiều người vẫn nhầm lẫn rằng ngay tại phiên tòa dân sự này, người có hành vi sai trái sẽ bị xử phạt. Vậy thực tế, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và hình sự đối với hành vi ngoại tình được pháp luật phân định như thế nào?
Hành vi ngoại tình là căn cứ để Tòa án giải quyết cho ly hôn theo Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP về hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Tuy nhiên, Tòa án dân sự không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi ngoại tình.
Theo khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020, hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng bị xử phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác, đang có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc chưa có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc vợ. Lúc này, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp này thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025.
Ngoài ra, tùy theo mức độ nghiêm trọng, hành vi ngoại tình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015. Thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án hình sự theo quy trình, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tóm lại, cần phải phân biệt một cách rạch ròi: hành vi ngoại tình là căn cứ để Tòa án dân sự giải quyết việc ly hôn, nhưng không phải là đối tượng để Tòa án này ra quyết định xử phạt.
>>> Xem thêm: Tư vấn điều kiện và thủ tục xin ly hôn khi vợ đang mang thai
Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết thủ tục ly hôn khi vợ ngoại tình mang thai
Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên sâu về giải quyết ly hôn khi vợ ngoại tình mang thai với đội ngũ luật sư có kinh nghiệm. Dịch vụ bao gồm;
- Tư vấn quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định hiện hành;
- Hướng dẫn thủ tục nộp đơn ly hôn, chuẩn bị hồ sơ chứng cứ chứng minh hành vi ngoại tình và các vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ vợ chồng;
- Hỗ trợ Quý khách hàng lựa chọn phương án giải quyết tối ưu giữa chờ đợi đến khi con đủ 12 tháng tuổi hoặc để vợ nộp đơn đơn phương với sự đồng thuận của chồng;
- Soạn thảo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, bản giải trình, các từ khác có liên quan trong suốt quá trình ly hôn;
- Đại diện theo ủy quyền nộp đơn, theo dõi quá trình xử lý và tham gia các buổi làm việc tại Tòa án;
- Tư vấn giải quyết các tranh chấp khác (nếu có).
Với phương châm đặt quyền lợi của Quý khách hàng lên hàng đầu, Luật Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả. Luật Long Phan PMT sẵn sàng đồng hành cùng Quý khách hàng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp và giải quyết thủ tục ly hôn một cách nhanh chóng, hiệu quả.
>>> Xem thêm: Giải quyết chia tài sản khi ly hôn do ngoại tình
Câu hỏi thường gặp về ly hôn khi vợ ngoại tình mang thai
Để giúp Quý khách hiểu rõ hơn về việc giải quyết ly hôn khi vợ ngoại tình mang thai, chúng tôi đã tổng hợp một số câu hỏi liên quan như sau:
Nếu kết quả giám định ADN xác nhận tôi không phải cha của đứa trẻ, thủ tục tiếp theo là gì?
Sau khi có kết quả giám định, Quý khách cần nộp cho Tòa án đơn yêu cầu không công nhận quan hệ cha con theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Nếu Tòa án chấp nhận, bản án sẽ tuyên rõ Quý khách không phải là cha đứa trẻ. Khi đó, Quý khách sẽ được loại trừ khỏi các nghĩa vụ của người cha, bao gồm cả nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Ngoài chi phí giám định ADN, tôi cần chuẩn bị những khoản phí nào khác?
Quý khách cần chuẩn bị án phí ly hôn sơ thẩm, được quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Mức phí là 300.000 VNĐ đối với vụ việc không có tranh chấp tài sản. Nếu có tranh chấp tài sản, án phí sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản tranh chấp. Ngoài ra còn có thể phát sinh chi phí ủy quyền cho luật sư (nếu có).
Những loại chứng cứ nào được xem là hợp pháp để chứng minh hành vi ngoại tình?
Theo Điều 94 và 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các chứng cứ hợp pháp có thể bao gồm: các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được (tin nhắn, email, ghi âm, hình ảnh, video); lời khai của người làm chứng; văn bản xác nhận của cơ quan, tổ chức (ví dụ: biên bản của ban quản lý tòa nhà, tổ dân phố); hoặc các nguồn chứng cứ khác chứng minh được mối quan hệ bất chính.
Nếu đứa trẻ sinh ra và đã được làm giấy khai sinh mang họ của tôi, làm cách nào để thay đổi?
Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật tuyên bố Quý khách không phải là cha đứa trẻ, Quý khách có thể nộp bản án này cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh để yêu cầu thực hiện thủ tục “cải chính hộ tịch”. Thủ tục này được quy định trong Luật Hộ tịch 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Tòa án sẽ mất bao lâu để giải quyết vụ việc sau khi tôi nộp đơn (khi con đã đủ 12 tháng tuổi)?
Theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án dân sự (bao gồm cả ly hôn) là 04 tháng kể từ ngày thụ lý, và có thể được gia hạn không quá 02 tháng. Tuy nhiên, thời gian thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào tính chất phức tạp của các tranh chấp đi kèm.
Trên đây là các câu trả lời cho các thắc mắc của Quý khách xoay quanh thủ tục ly hôn khi vợ đang mang thai ngoại tình. Để biết thêm thông tin hữu ích khác, Quý khách có thể liên hệ với chúng tôi qua hotline bên dưới.
Kết luận
Như vậy, người vợ có quyền nộp đơn ly hôn bất cứ lúc nào, còn người chồng phải chờ đến khi con đủ 12 tháng tuổi mới được yêu cầu ly hôn theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Nếu Quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc về việc giải quyết ly hôn trong trường hợp này, vui lòng liên hệ hotline 1900636387 để được tư vấn chuyên sâu và hỗ trợ giải quyết thủ tục ly hôn chuyên nghiệp.
Tags: Ly hôn đơn phương, Ly hôn khi vợ ngoại tình, Quyền yêu cầu ly hôn, Vợ ngoại tình mang thai, xác định cha cho con

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.