Tố giác lại sau khi rút đơn tố giác là vấn đề Luật Long Phan PMT thường gặp khi tư vấn thủ tục tố tụng hình sự cho khách hàng đã trót rút đơn vì áp lực từ phía bị tố giác rồi sau đó phát hiện thêm tình tiết mới. Câu trả lời không giống nhau cho mọi trường hợp: kết quả phụ thuộc vào việc hành vi bị tố giác có thuộc loại tội chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không. Bài viết dưới đây phân tích rõ hai tình huống, điều kiện, hồ sơ và thủ tục để người tố giác xác định đúng hướng xử lý.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Đối với tố giác tội phạm thông thường, việc rút đơn không làm chấm dứt trách nhiệm xác minh của cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu tội phạm, theo Điều 18 và Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Đối với tội chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc rút yêu cầu khởi tố khiến vụ án phải đình chỉ, theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Người đã rút yêu cầu khởi tố đối với các tội tại khoản 1 Điều 155 không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp việc rút yêu cầu trước đó là do bị ép buộc, cưỡng bức, theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Việc tố giác lại chỉ được xem xét thụ lý khi có thông tin, chứng cứ mới và hành vi chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, theo Điều 143, Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015.
Rút đơn có làm chấm dứt hoàn toàn việc xử lý vụ việc không?
Rút đơn không đương nhiên chấm dứt việc xử lý vụ việc; hệ quả phụ thuộc vào việc hành vi bị tố giác có thuộc loại tội chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không. Đây là điểm mấu chốt quyết định toàn bộ hướng xử lý khi khách hàng muốn tố giác lại sau khi rút đơn tố giác. Hai nhóm trường hợp dưới đây cho ra hai kết quả pháp lý hoàn toàn khác nhau.
Rút đơn tố giác tội phạm thông thường — cơ quan điều tra vẫn có trách nhiệm xác minh
Đối với tội không thuộc khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc người tố giác rút đơn không làm chấm dứt trách nhiệm xác minh, khởi tố của cơ quan có thẩm quyền nếu vẫn còn dấu hiệu tội phạm. Theo Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người từng tố giác.
Tố giác về tội phạm, theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Đây là nguồn tin để cơ quan điều tra khởi động quy trình xác minh theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chứ không phải là điều kiện bắt buộc phải duy trì mới được tiếp tục xử lý. Việc người tố giác rút đơn ở nhóm tội này chỉ có ý nghĩa là họ không tiếp tục cung cấp thông tin, không đồng nghĩa với việc cơ quan điều tra buộc phải dừng xác minh nếu tài liệu đã thu thập cho thấy có dấu hiệu tội phạm.
Rút yêu cầu khởi tố đối với các tội tại khoản 1 Điều 155 — vụ án phải đình chỉ
Với nhóm tội quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021), gồm các tội tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự, việc khởi tố chỉ được tiến hành khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ.
Cơ chế này khác hẳn nhóm tội giải quyết theo tin báo, tố giác thông thường vì ý chí của bị hại ở nhóm tội này giữ vai trò quyết định đến việc vụ án có được tiếp tục hay không. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất khiến cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục vụ án dù bị hại đã rút yêu cầu: khi có căn cứ xác định việc rút yêu cầu là trái với ý muốn thực sự của bị hại do bị ép buộc, cưỡng bức, cũng theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Có được tố giác lại sau khi đã rút đơn tố giác tội phạm không?
Có hai kết quả khác nhau khi trả lời câu hỏi này, tùy thuộc vào loại vụ việc đã rút đơn ban đầu. Việc xác định đúng loại vụ việc là bước bắt buộc trước khi soạn đơn tố giác lại, vì áp dụng sai có thể khiến người tố giác mất quyền hoặc nộp một đơn không có giá trị thụ lý.
Được tố giác lại nếu là tố giác tội phạm thông thường và có thông tin, chứng cứ mới
Đối với các vụ việc không thuộc khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người từng rút đơn tố giác vẫn có thể tố giác lại khi phát sinh thông tin, chứng cứ mới về hành vi có dấu hiệu tội phạm. Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không đặt ra giới hạn về số lần một người được quyền tố giác cùng một sự việc, miễn là tố giác đó phản ánh dấu hiệu tội phạm thực tế.
Khi tiếp nhận đơn tố giác lại, cơ quan có thẩm quyền vẫn xử lý theo trình tự tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như một nguồn tin về tội phạm mới, không coi việc từng rút đơn trước đó là lý do để từ chối tiếp nhận. Điều kiện tiên quyết để đơn tố giác lại được xem xét nghiêm túc là phải kèm theo thông tin, chứng cứ chưa từng được cung cấp ở lần tố giác trước, chứ không phải chỉ lặp lại nội dung đã trình bày.
Không được yêu cầu khởi tố lại nếu đã có quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực do rút yêu cầu khởi tố
Đối với tội tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định rõ: bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức. Đây là quy định trực tiếp trả lời cho câu hỏi tố giác lại sau khi rút đơn tố giác đối với nhóm tội khởi tố theo yêu cầu bị hại.
Hệ quả của việc này còn được củng cố bởi căn cứ không khởi tố vụ án hình sự tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: khoản 4 quy định không được khởi tố khi hành vi phạm tội đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật, còn khoản 8 quy định không được khởi tố đối với tội tại khoản 1 Điều 155 mà bị hại không yêu cầu khởi tố. Nếu bị hại cố tình nộp đơn tố giác lại sau khi đã có quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực do rút yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào các quy định này để ra quyết định không khởi tố.
Ngoại lệ — việc rút yêu cầu khởi tố trước đó là do bị ép buộc, cưỡng bức
Trường hợp bị hại chứng minh được việc rút yêu cầu khởi tố trước đó không xuất phát từ ý chí tự nguyện mà do bị ép buộc, cưỡng bức, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục xử lý vụ án theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đồng thời bị hại được quyền yêu cầu lại theo phần loại trừ tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Đây là trường hợp ngoại lệ đòi hỏi bị hại phải cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi ép buộc, cưỡng bức tại thời điểm rút đơn — ví dụ tin nhắn đe dọa, ghi âm, lời khai của người làm chứng về việc bị gây sức ép.
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, nhiều khách hàng chỉ trình bày cảm nhận chủ quan rằng mình “bị ép” mà không có tài liệu cụ thể đi kèm, khiến cơ quan điều tra không đủ căn cứ để áp dụng ngoại lệ này và tiếp tục coi quyết định đình chỉ trước đó là có hiệu lực. Việc chuẩn bị chứng cứ về hành vi ép buộc cần thực hiện càng sớm càng tốt, ngay khi bị hại nhận thấy mình đang bị gây sức ép để rút đơn, thay vì chờ đến khi muốn tố giác lại mới bắt đầu tìm kiếm tài liệu.

Điều kiện và hồ sơ cần chuẩn bị để tố giác lại đúng quy định
Điều kiện tiên quyết để một đơn tố giác lại được tiếp nhận và xem xét là có thông tin, chứng cứ mới và hành vi bị tố giác chưa được xử lý dứt điểm bằng quyết định có hiệu lực pháp luật. Thiếu một trong hai điều kiện này, đơn tố giác lại nhiều khả năng bị trả lại hoặc không được thụ lý nghiêm túc.
Điều kiện để đơn tố giác lại được tiếp nhận, xem xét
Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc khởi tố vụ án chỉ được tiến hành khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm; đơn tố giác lại cũng phải đáp ứng yêu cầu này để được cơ quan điều tra xem xét nghiêm túc thay vì xử lý qua loa. Các điều kiện cụ thể bao gồm:
- Có dấu hiệu tội phạm mới xuất hiện hoặc thông tin, chứng cứ chưa từng cung cấp ở lần tố giác trước, theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Chưa có quyết định đình chỉ hoặc quyết định không khởi tố có hiệu lực pháp luật đối với cùng hành vi, đối chiếu với căn cứ không khởi tố tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Hành vi bị tố giác chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015.
Thành phần hồ sơ khi nộp đơn tố giác lại
Hồ sơ tố giác lại cần được chuẩn bị đầy đủ ngay từ đầu để tránh phải bổ sung nhiều lần, kéo dài thời gian xác minh. Theo Điều 144 và Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về nội dung tố giác và thủ tục tiếp nhận, thành phần hồ sơ cơ bản gồm:
- Đơn tố giác tội phạm, trình bày rõ hành vi, thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc;
- Tài liệu, chứng cứ mới chưa từng cung cấp ở lần tố giác trước (hình ảnh, tin nhắn, ghi âm, lời khai người làm chứng, kết quả giám định nếu có);
- Giấy tờ tùy thân của người tố giác;
- Văn bản liên quan đến lần tố giác hoặc rút đơn trước đó, như đơn rút yêu cầu khởi tố, thông báo hoặc quyết định của cơ quan đã giải quyết trước đây (nếu có).

Thủ tục nộp và giải quyết đơn tố giác lại
Đơn tố giác lại được xử lý theo đúng trình tự tiếp nhận, xác minh nguồn tin về tội phạm áp dụng chung cho mọi tố giác, không có thủ tục riêng biệt. Người tố giác cần nắm rõ cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và các mốc thời hạn để chủ động theo dõi tiến độ giải quyết.
Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận
Theo khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là hai cơ quan có trách nhiệm trực tiếp tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; ngoài ra, Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Tòa án và một số cơ quan, tổ chức khác cũng có trách nhiệm tiếp nhận theo điểm b khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Trường hợp nộp đơn tố giác lại tại cơ quan không có thẩm quyền giải quyết, khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm chuyển ngay đơn kèm tài liệu cho cơ quan điều tra có thẩm quyền, không được từ chối tiếp nhận.
Quy trình tiếp nhận, xác minh và thời hạn giải quyết
Quy trình giải quyết một đơn tố giác lại được thực hiện theo các bước sau:
- Tiếp nhận đơn tố giác lại kèm tài liệu, chứng cứ mới tại cơ quan có thẩm quyền theo Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Lập biên bản tiếp nhận và vào sổ tiếp nhận theo Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Kiểm tra, xác minh nguồn tin trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đơn theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn có thể được gia hạn theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tổng thời hạn giải quyết tối đa không quá 04 tháng.
- Ra một trong các quyết định: khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự, hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 khi chưa đủ căn cứ kết luận.
Trường hợp lý do tạm đình chỉ không còn, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định phục hồi giải quyết theo Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi 2025), với thời hạn giải quyết tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.
Kinh nghiệm thực tế khi xử lý các vụ tố giác lại
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận liên quan đến tố giác lại sau khi rút đơn tố giác, một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là nhầm lẫn giữa hai chế định pháp lý nêu trên: nhiều người từng rút yêu cầu khởi tố đối với tội thuộc khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nhưng lại soạn đơn tố giác lại theo hướng của tố giác thông thường, dẫn đến việc nộp một đơn không thể được thụ lý dù đã bỏ nhiều công sức chuẩn bị.
Một sai lầm khác thường thấy là nộp đơn tố giác lại chỉ với nội dung lặp lại gần như nguyên văn đơn tố giác ban đầu, không kèm theo bất kỳ thông tin hay chứng cứ mới nào. Trong những trường hợp này, cơ quan điều tra thường soi kỹ điểm khác biệt giữa hai lần tố giác ngay từ khi tiếp nhận: nếu không phát hiện tình tiết mới, đơn dễ bị xếp vào diện không đủ căn cứ để mở lại quá trình xác minh.
Ngoài ra, không ít khách hàng nộp đơn tố giác lại tại cơ quan đã từng ra quyết định đình chỉ trước đó mà không kiểm tra xem quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật hay chưa, khiến việc theo dõi tiến độ giải quyết trở nên khó khăn hơn cần thiết.
Rủi ro pháp lý cần lưu ý khi quyết định tố giác lại
Trước khi nộp đơn tố giác lại, người tố giác cần cân nhắc hai nhóm rủi ro chính: rủi ro về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và rủi ro bị xử lý hình sự nếu tố giác không có căn cứ. Cả hai rủi ro này đều có thể khiến việc tố giác lại phản tác dụng nếu không được chuẩn bị kỹ.
Rủi ro về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện và được quy định theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng, 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc kéo dài thời gian cân nhắc, thu thập chứng cứ trước khi tố giác lại có thể khiến hành vi tiệm cận hoặc vượt quá thời hiệu, dẫn đến việc cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố dù có đủ dấu hiệu tội phạm.
Rủi ro bị xử lý về tội vu khống nếu tố giác lại không có căn cứ, biết rõ là sai sự thật
Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Rủi ro này đặt ra yêu cầu người tố giác lại phải cân nhắc kỹ nội dung, chứng cứ trước khi nộp đơn, đặc biệt trong trường hợp mối quan hệ giữa hai bên đang căng thẳng và có nguy cơ tố giác bị chi phối bởi động cơ cá nhân hơn là dấu hiệu tội phạm khách quan. Nên rà soát toàn bộ tài liệu để bảo đảm nội dung tố giác phản ánh đúng sự thật khách quan trước khi nộp đơn, thay vì suy diễn hoặc phóng đại tình tiết.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ tố giác lại tội phạm tại Luật Long Phan PMT
Tư vấn pháp lý và đánh giá điều kiện tố giác lại
- Đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc: Rà soát hồ sơ, xác định chính xác hành vi bị tố giác thuộc nhóm tội phạm thông thường hay nhóm tội chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại.
- Tư vấn chứng minh tình tiết mới và yếu tố bị ép buộc: Hướng dẫn khách hàng thu thập, củng cố các tài liệu, chứng cứ mới chưa từng xuất hiện ở lần tố giác trước; tư vấn phương án xác lập chứng cứ chứng minh việc rút đơn trước đây là do bị đe dọa, cưỡng bức trái ý muốn.
- Kiểm tra thời hiệu và phòng ngừa rủi ro pháp lý: Rà soát thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; đánh giá tính xác thực của chứng cứ để loại trừ hoàn toàn rủi ro bị xem xét trách nhiệm về Tội vu khống.
Soạn thảo đơn từ và hoàn thiện hồ sơ tố giác lại
- Soạn thảo Đơn tố giác tội phạm (tố giác lại): Xây dựng nội dung đơn chặt chẽ, trình bày rõ diễn biến hành vi vi phạm, làm nổi bật dấu hiệu cấu thành tội phạm và viện dẫn chính xác căn cứ pháp lý tiếp nhận nguồn tin.
- Soạn thảo văn bản giải trình lý do rút đơn và yêu cầu phục hồi: Lập bản tường trình chi tiết về hoàn cảnh bị ép buộc rút đơn trước đó kèm theo hệ thống tài liệu chứng minh, đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiếp tục thụ lý theo đúng quy định.
- Chuẩn hóa hồ sơ chứng cứ nộp kèm: Phân loại, sao chụp và lập danh mục chứng cứ mới (dữ liệu điện tử, ghi âm, tin nhắn, lời khai người làm chứng, kết luận giám định…) bảo đảm giá trị chứng minh cao nhất trước cơ quan điều tra.
Tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
- Đại diện nộp hồ sơ và làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng: Trực tiếp nộp đơn tố giác lại đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền; theo dõi chặt chẽ tiến độ thụ lý và đôn đốc giải quyết tin báo trong thời hạn luật định.
- Luật sư đồng hành trong các buổi làm việc, lấy lời khai: Tham gia cùng người tố giác, người bị hại trong tất cả các buổi làm việc, ghi lời khai, đối chất tại Cơ quan điều tra để bảo vệ tính khách quan và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền tố tụng.
- Bảo vệ quyền lợi tại giai đoạn khởi tố, điều tra và xét xử: Đưa ra các văn bản kiến nghị khởi tố vụ án khi có đủ dấu hiệu tội phạm; tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự nhằm yêu cầu xử lý đúng người, đúng tội và bảo đảm tối đa quyền bồi thường thiệt hại cho thân chủ.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về hướng dẫn tố giác lại sau khi rút đơn tố giác
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi cân nhắc tố giác lại sau khi rút đơn tố giác tội phạm. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Bộ luật Hình sự 2015 hiện hành.
1. Đã rút đơn tố giác thì có được tố giác lại không?
Còn tùy loại vụ việc. Nếu là tố giác tội phạm thông thường và có thông tin, chứng cứ mới, người tố giác vẫn được tố giác lại theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nếu là tội chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người đã rút yêu cầu khởi tố không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
2. Rút yêu cầu khởi tố rồi có xin khởi tố lại được không nếu không chứng minh được bị ép buộc?
Không được. Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định rõ người đã rút yêu cầu khởi tố không có quyền yêu cầu lại nếu không thuộc trường hợp bị ép buộc, cưỡng bức. Đồng thời, khoản 4 và khoản 8 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố nếu vẫn cố tình nộp đơn.
3. Tố giác lại cần chuẩn bị hồ sơ gì?
Hồ sơ gồm đơn tố giác trình bày rõ hành vi, thời gian, địa điểm; tài liệu, chứng cứ mới chưa từng cung cấp trước đó; giấy tờ tùy thân của người tố giác; và văn bản liên quan đến lần tố giác hoặc rút đơn trước đây, theo Điều 144 và Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Thiếu thông tin, chứng cứ mới, đơn tố giác lại khó được xem xét nghiêm túc.
4. Thời hạn giải quyết đơn tố giác lại là bao lâu?
Theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn kiểm tra, xác minh cơ bản là 20 ngày kể từ ngày nhận đơn. Với vụ việc phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn có thể được gia hạn theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tổng thời hạn giải quyết tối đa không quá 04 tháng.
5. Tố giác lại nhưng thông tin không chính xác có bị xử lý hình sự không?
Có thể bị xử lý về tội vu khống nếu bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc bịa đặt người khác phạm tội, theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Vì vậy, nội dung tố giác lại cần phản ánh đúng sự thật khách quan.
6. Tố giác lại có bị giới hạn về thời hiệu không?
Có. Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi bị tố giác phải chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì đơn tố giác lại mới có ý nghĩa dẫn đến khởi tố. Thời hiệu được tính từ ngày tội phạm được thực hiện và thay đổi theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, từ 05 năm đến 20 năm.
Kết luận
Tố giác lại sau khi rút đơn tố giác tội phạm không phải lúc nào cũng được chấp nhận: kết quả phụ thuộc vào việc hành vi bị tố giác có thuộc nhóm tội khởi tố theo yêu cầu bị hại hay không, và việc tố giác lại có kèm theo thông tin, chứng cứ mới hay không. Xác định đúng loại vụ việc, chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và theo dõi sát thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là những yếu tố quyết định đến khả năng đơn tố giác lại được thụ lý. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tư vấn phương án tố giác lại phù hợp với từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025)
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: chứng cứ mới khi tố giác, Cơ quan tiếp nhận tố giác, Hồ sơ tố giác tội phạm, khởi tố theo yêu cầu bị hại, quyết định không khởi tố, rút đơn tố giác tội phạm, Rút yêu cầu khởi tố, Thời hạn giải quyết tố giác tội phạm, thủ tục tố giác tội phạm, tố giác lại tội phạm, yêu cầu khởi tố lại

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.