Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế

Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế phát sinh từ hư hỏng, mất mát hàng hóa trong quá trình vận tải biển, hàng không, đường bộ thông qua các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau. Bài viết phân tích chi tiết các bước giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn logistics quốc tế.

Hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế 
Hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế

Nội Dung Bài Viết

Thu thập chứng cứ và thực hiện biện pháp khẩn cấp để giảm thiểu tổn thất

Thu thập chứng cứ ngay khi phát hiện tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế là bước đầu tiên đảm bảo quyền lợi cho Quý khách hàng. Ngoài ra, biện pháp khẩn cấp cần được kích hoạt đồng thời để giảm thiểu tổn thất và bảo toàn bằng chứng pháp lý. 

Thu thập chứng cứ

Khi xảy ra sự cố hư hỏng hoặc mất mát hàng hóa trong quá trình vận chuyển, việc thu thập chứng cứ đầy đủ và hợp lệ là bước đi tiên quyết để bảo vệ quyền lợi và khởi tạo quy trình khiếu nại hiệu quả.

1.Hợp đồng vận chuyển hoặc Purchase Order (PO) là tài liệu gốc xác lập quan hệ pháp luật giữa các bên. Theo quy định hiện hành, có các loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa phổ biến:

  • Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được định nghĩa là thỏa thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển về việc dùng tàu biển vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận đến cảng trả (Điều 145 Bộ luật Hàng hải 2015);
  • Hợp đồng vận tải hành khách, hàng hóa bằng văn bản (văn bản giấy hoặc hợp đồng điện tử) bằng đường bộ là sự thỏa thuận giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng; theo đó, đơn vị kinh doanh vận tải thực hiện vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa đến địa điểm đã định theo thỏa thuận, hành khách hoặc người thuê vận tải phải thanh toán cước phí vận chuyển (khoản 1 Điều 17 Nghị định 158/2024/NĐ-CP);
  • Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là sự thoả thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa đến địa điểm đến và trả hàng hóa cho người có quyền nhận; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán giá dịch vụ vận chuyển (khoản 1 Điều 128 Luật Hàng không dân dụng 2006).

2. Invoice và packing list chứng minh giá trị hàng hóa, số lượng, quy cách đóng gói đã thỏa thuận. Chứng từ này theo Incoterms 2010 xác định điểm chuyển giao rủi ro, trách nhiệm chi phí vận tải giữa người bán và người mua trong thương mại quốc tế. Do đó, sự chênh lệch giữa thông tin trên invoice với thực tế nhận hàng tạo cơ sở pháp lý cho khiếu nại thiệt hại.

3.Bill of Lading (B/L) hoặc Air Waybill (AWB) là một trong các chứng từ vận chuyển theo Điều 147 Bộ luật Hàng hải 2015, bao gồm vận đơn, vận đơn suốt đường biển, giấy gửi hàng đường biển. 

  • Theo khoản 7 Điều 1 Công ước Hamburg 1978 thì B/L trong vận tải biển đóng vai trò chứng từ sở hữu hàng hóa, hợp đồng vận chuyển, biên lai nhận hàng;
  • AWB trong vận tải hàng không theo Điều 5 của Công ước Montreal 1999 thì “không vận đơn” không phải chứng từ sở hữu – không ảnh hưởng đến giá trị hợp đồng nhưng nó là chứng từ để xác nhận việc ký kết hợp đồng về việc tiếp nhận hàng hóa và các điều kiện vận chuyển theo khoản 1 Điều 11 Công ước Montreal 1999

4.Chứng từ kho bãi, nhật ký nhiệt độ/độ ẩm, hình ảnh/video quay tại thời điểm mở container cung cấp bằng chứng khách quan về tình trạng hàng hóa.

Tóm lại, mỗi chứng từ từ Hợp đồng vận chuyển, Invoice, Vận đơn đến các bằng chứng hiện trường đều đóng một vai trò không thể thiếu trong bộ hồ sơ khiếu nại, khởi kiện. 

Thực hiện biện pháp khẩn cấp

Ngay khi phát hiện thiệt hại hàng hóa việc triển khai các biện pháp khẩn cấp một cách nhanh chóng và đúng quy trình không chỉ giúp kiểm soát tổn thất mà còn tối đa hóa khả năng nhận được bồi thường từ các bên liên quan và đơn vị bảo hiểm.

  • Giảm thiểu tổn thất là nghĩa vụ pháp lý của bên bị thiệt hại theo nguyên tắc duty to mitigate trong hợp đồng quốc tế. Để áp dụng biện pháp này, Quý khách hàng phải chứng minh đã thực hiện các biện pháp hợp lý để hạn chế thiệt hại lan rộng, như tách hàng hư hỏng khỏi hàng còn tốt, bảo quản tạm thời trong điều kiện phù hợp, xử lý khẩn cấp hàng hóa dễ hư hỏng. 
  • Thông báo sự kiện bảo hiểm phải được thực hiện ngay theo điều khoản hợp đồng bảo hiểm hàng hóa. Theo Incoterms 2010, trách nhiệm mua bảo hiểm thuộc về bên nào tùy điều kiện giao hàng (CIF/CIP người bán mua bảo hiểm, FOB/FCA người mua tự mua). Do đó, nếu bảo hiểm do đối tác mua, Quý khách hàng phải yêu cầu đối tác thông báo cho công ty bảo hiểm trong thời hạn quy định (thường 7-30 ngày từ khi phát hiện thiệt hại). 
  • Tổ chức trưng cầu giám định thiệt hại phải được thực hiện bởi đơn vị độc lập có uy tín như công ty giám định quốc tế (SGS, Bureau Veritas, Intertek). 
  • Xác định thiệt hại, nguyên nhân, lỗi của các bên (trực tiếp và gián tiếp) trong chuỗi logistics quốc tế. Người ký hợp đồng vận chuyển chịu trách nhiệm trực tiếp. Người vận chuyển thực tế (actual carrier) chịu trách nhiệm nếu hư hỏng xảy ra trong giai đoạn họ kiểm soát hàng hóa. Bên đóng gói, kho bãi, dịch vụ hải quan có thể chịu trách nhiệm gián tiếp nếu lỗi của họ góp phần gây thiệt hại.
  • Kích hoạt nguyên tắc thế quyền (subrogation) trong bảo hiểm khi thiệt hại nằm trong phạm vi bảo hiểm. Theo đó, sau khi công ty bảo hiểm chi trả, họ thế quyền cho người được bảo hiểm để đòi bồi thường từ bên gây thiệt hại trong phạm vi số tiền bồi thường bảo hiểm trên cơ sở quy định tại Điều 365 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 4 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2023 (nếu áp dụng quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh)

Mỗi bước đi chính xác trong giai đoạn này không chỉ thể hiện thiện chí hợp tác mà còn là cơ sở pháp lý then chốt, giúp chuyển vị thế từ bên chịu thiệt hại thành bên có khả năng yêu cầu bồi thường.

Chứng cứ bill of lading góp phần quan trọng khi khiếu nại bồi thường
Chứng cứ bill of lading góp phần quan trọng khi khiếu nại bồi thường

Khiếu nại nội bộ và thương lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế

Khiếu nại nội bộ là bước tiếp cận đầu tiên khi tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế phát sinh, giúp các bên làm rõ vấn đề trước khi leo thang quy trình pháp lý. Thương lượng trực tiếp tiết kiệm thời gian, chi phí so với tòa án hoặc trọng tài, đồng thời bảo toàn quan hệ kinh doanh dài hạn. 

Thư khiếu nại (Notice of Claim)

Sau khi đã thu thập chứng cứ và thực hiện các biện pháp khẩn cấp, Thư khiếu nại (Notice of Claim) là văn bản chính thức khởi động quy trình pháp lý để đòi bồi thường.

  • Tiêu đề thư khiếu nại phải ghi rõ “Notice of Cargo Claim” kèm số B/L hoặc AWB để đối tác nhận diện ngay lô hàng tranh chấp. 
  • Tóm tắt sự kiện phải trình bày theo thứ tự thời gian: ngày giao hàng, ngày khởi hành (ETD – Estimated Time of Departure), ngày đến dự kiến (ETA – Estimated Time of Arrival), ngày thực tế nhận hàng, tình trạng hàng hóa khi nhận. 
  • Nêu rõ số B/L/AWB, mô tả chi tiết tổn thất (loại hư hỏng, phạm vi ảnh hưởng, giá trị thiệt hại ước tính). Viện dẫn căn cứ trong hợp đồng vận chuyển về nghĩa vụ giao hàng nguyên vẹn, điều khoản trách nhiệm, giới hạn bồi thường và trích dẫn cơ sở pháp lý cho yêu cầu bồi thường của mình. 
  • Xác định trách nhiệm của các bên và thỏa thuận về giải quyết chi phí tổn thất. 
  • Bên cạnh đó, thời hạn thương lượng (time bar) phải được nêu rõ, thông thường 15-30 ngày từ ngày nhận thư khiếu nại. 

Việc trình bày thông tin một cách rõ ràng, logic và có căn cứ pháp lý sẽ tạo áp lực cần thiết lên đối tác, mở đường cho quá trình thương lượng hiệu quả và hướng tới mục tiêu cuối cùng: nhận được bồi thường thiệt hại một cách nhanh chóng, hạn chế tối đa các tranh chấp kéo dài.

Thỏa thuận cơ chế hòa giải giải quyết tranh chấp khi thương lượng bất thành

Khi quá trình thương lượng trực tiếp qua thư khiếu nại không mang lại kết quả, việc kích hoạt một cơ chế giải quyết tranh chấp khác thân thiện, ít tốn kém là bước đi tiếp theo. Xác nhận điều khoản hòa giải trong hợp đồng/PO là ưu tiên đầu tiên. 

  • Nếu hợp đồng đã quy định cơ chế giải quyết tranh chấp theo trọng tài, Quý khách hàng phải yêu cầu đối tác xác nhận văn bản về việc tuân thủ điều khoản này. Bởi lẽ theo Điều 5 Luật TTTM quy định thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản, có thể là điều khoản trong hợp đồng chính hoặc thỏa thuận riêng lập sau khi tranh chấp phát sinh.
  • Nếu hợp đồng/PO chưa có điều khoản hòa giải, Quý khách hàng cần đề xuất xác lập thỏa thuận hòa giải. Thỏa thuận hòa giải phải xác định: trung tâm trọng tài, hòa giải viên, thời hạn hòa giải, chi phí, nguyên tắc bảo mật thông tin.

Khuyến nghị của luật sư: Đề xuất mô hình MED-ARB (Mediation-Arbitration) là cơ chế kết hợp hòa giải và trọng tài. Giai đoạn hòa giải (MED) diễn ra trước với hòa giải viên trung lập giúp các bên tìm giải pháp tự nguyện. Nếu hòa giải không thành trong thời hạn 15-30 ngày, tranh chấp tự động chuyển sang trọng tài (ARB) theo thỏa thuận sẵn có. 

Tóm lại, việc chủ động thiết lập cơ chế hòa giải giải quyết tranh chấp, đặc biệt là mô hình MED-ARB không chỉ giúp các bên tiết kiệm thời gian, chi phí so với kiện tụng tại tòa án mà còn tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, bảo mật và linh hoạt để tìm kiếm giải pháp chung, bảo vệ mối quan hệ kinh doanh lâu dài.

>>> Xem thêm: Giải quyết tranh chấp hợp đồng logistics do giao hàng chậm

Đề nghị cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế

Đề nghị cơ quan tài phán là bước cuối cùng khi thương lượng và hòa giải không đạt kết quả trong giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế. 

Thời hiệu khởi kiện

Việc nắm rõ thời hiệu khởi kiện—tức thời hạn pháp luật cho phép người bị thiệt hại đưa vụ việc ra trọng tài hoặc tòa án—là điều kiện tiên quyết để bảo vệ quyền lợi.

Thời hiệu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng vận chuyển theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Quy định chung này áp dụng cho các tranh chấp hợp đồng dân sự, tuy nhiên các loại hình vận chuyển có thời hiệu riêng theo pháp luật chuyên ngành và công ước quốc tế.

Thời hiệu khởi kiện vận tải đường biển lại quy định riêng biết đối với từng loại tranh chấp:

  • Thời hiệu khởi kiện đối với hư hỏng, mất mát hàng hóa theo Điều 169 Bộ luật Hàng hải 2015 là 01 năm kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng đối với tranh chấp về hư hỏng, mất mát hàng hóa.
  • Thời hiệu khởi kiện về thực hiện hợp đồng vận chuyển theo chuyến theo Điều 195 Bộ luật Hàng hải 2015 quy định là 02 năm kể từ ngày người khởi kiện biết hoặc phải biết quyền lợi bị xâm phạm. 

Thời hiệu khởi kiện vận tải hàng không theo khoản 1 Điều 29 Công ước MC99 (Montreal Convention 1999) là 02 năm kể từ ngày tàu bay đến điểm đến, hoặc từ ngày lẽ ra tàu bay phải đến, hoặc kể từ ngày vận chuyển chấm dứt. 

Thời hiệu khởi kiện vận tải đường bộ quốc tế theo Điều 32 CMR 1956 (Convention on the Contract for the International Carriage of Goods by Road) là 01 năm kể từ ngày phát sinh các tình huống được quy định. Trong trường hợp có hành vi cố ý sai trái hoặc hành vi vi phạm theo luật của tòa án xét xử được coi là tương đương với hành vi cố ý sai trái, thời hiệu kéo dài lên 03 năm

Lưu ý: CMR áp dụng cho vận chuyển hàng hóa bằng xe ô tô có thù lao giữa hai quốc gia, trong đó ít nhất một quốc gia là thành viên công ước.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Theo Điều 338 và 339 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam cho phép các bên trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài tự do thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan trọng tài hoặc tòa án ở nước ngoài.

Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài: phương thức giải quyết thông qua trọng tài được ưu tiên trong tranh chấp thương mại quốc tế nhờ tính linh hoạt, bảo mật, và khả năng thi hành quốc tế theo Công ước New York 1958.  

Một số trung tâm trọng tài phổ biến trong logistics bao gồm: VIAC (Việt Nam), SIAC (Singapore), HKIAC (Hong Kong), ICC (Paris).

Các bên có thể thỏa thuận áp dụng luật của một quốc gia cụ thể (ví dụ: luật Việt Nam, luật Singapore, luật Anh) cho hợp đồng vận chuyển. Nếu không có thỏa thuận, trọng tài viên sẽ áp dụng luật mà trọng tài cho là phù hợp nhất theo Điều 14 Luật TTTM 2010. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Lưu ý: Theo Điều 3 Luật TTTM, trọng tài giải quyết tranh chấp khi các bên có thỏa thuận trọng tài bằng văn bản. Thỏa thuận này có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng vận chuyển hoặc thỏa thuận riêng lập sau khi tranh chấp phát sinh. 

Thứ hai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án

Theo Điều 28 Công ước Montreal 1999, bên bị vi phạm có quyền lựa chọn khởi kiện tại tòa án: nơi có nơi ở cố định của người vận chuyển, nơi có trụ sở kinh doanh chính của người vận chuyển, nơi người vận chuyển có cơ sở kinh doanh mà hợp đồng được ký kết, hoặc tòa án nơi đến. Quy định này mang tính bảo vệ người thuê vận chuyển bằng cách cho phép họ khởi kiện tại địa điểm thuận lợi nhất.

Tuy nhiên, thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam theo Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 áp dụng cho tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng bất động sản, tranh chấp thừa kế. Do đó, loại thẩm quyền này không áp dụng cho tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế. Như vậy, Quý khách hàng không thể viện dẫn thẩm quyền riêng biệt để bắt buộc bên nước ngoài ra tòa án Việt Nam nếu hợp đồng không có yếu tố liên hệ với Việt Nam. Tuy nhiên, thẩm quyền chung theo Điều 40 và 41 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vẫn áp dụng nếu bị đơn có trụ sở tại Việt Nam hoặc hợp đồng được thực hiện tại Việt Nam.

Đơn khởi kiện và hồ sơ kèm theo

Đơn khởi kiện tòa án phải theo Mẫu số 23-DS ban hành kèm Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/0/2017. Nội dung đơn gồm: tên tòa án có thẩm quyền, thông tin nguyên đơn (họ tên/tên tổ chức, địa chỉ, số điện thoại, email, số giấy tờ pháp nhân), thông tin bị đơn tương tự, nội dung yêu cầu cụ thể (số tiền bồi thường, lãi suất, chi phí giám định), căn cứ pháp lý (điều luật được viện dẫn), căn cứ thực tế (diễn biến sự việc theo thời gian), danh sách chứng cứ, tài liệu đính kèm. 

Đơn yêu cầu trọng tài phải đáp ứng Điều 30 Luật TTTM 2010: tên, địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ email của bên yêu cầu trọng tài và bên bị yêu cầu trọng tài; nội dung tranh chấp, yêu cầu giải quyết cụ thể; căn cứ pháp lý, căn cứ thực tế của yêu cầu; tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu; ý kiến về số lượng, việc lựa chọn trọng tài viên; chữ ký của bên yêu cầu hoặc người đại diện. 

Lưu ý: Mẫu đơn của mỗi trung tâm trọng tài khác nhau, cho nên Quý khách hàng cần tải mẫu chính thức từ website trung tâm (VIAC, SIAC, HKIAC, ICC) để đảm bảo tuân thủ quy tắc tố tụng.

Về thành phần hồ sơ kèm theo, Quý khách chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ tại mục 1.  

Phương thức giải quyết tranh chấp tại trọng tài giúp tiết kiệm thời gian
Phương thức giải quyết tranh chấp tại trọng tài giúp tiết kiệm thời gian

Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế được giải quyết bởi cơ quan tài phán nước ngoài

Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế thường được giải quyết tại nước ngoài khi hợp đồng có điều khoản lựa chọn tòa án hoặc trọng tài nước ngoài. Khi đó, bản án, phán quyết nước ngoài cần được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam để có giá trị cưỡng chế đối với tài sản của bên thua kiện trên lãnh thổ Việt Nam. 

Các trường hợp bản án/phán quyết được yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Làm thế nào để một phán quyết của trọng tài hay bản án của tòa án nước ngoài có hiệu lực thi hành tại Việt Nam?

Theo Điều 451 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, phán quyết trọng tài nước ngoài được công nhận tại Việt Nam khi: 

  • Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài theo thỏa thuận giữa các bên;
  • Phán quyết đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật nước nơi ra phán quyết; 
  • Phán quyết không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Bản án dân sự của tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện theo Điều 438 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: 

  • Có điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước đó về công nhận lẫn nhau bản án dân sự, hoặc theo nguyên tắc có đi có lại; 
  • Bản án đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của nước đó; 
  • Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết theo điều ước quốc tế hoặc theo pháp luật của nước đó; 
  • Thủ tục tố tụng đảm bảo quyền tự bảo vệ của đương sự; bản án không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Lưu ý về Nguyên tắc có đi có lại (reciprocity) áp dụng khi không có điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước có tòa án ra bản án. Theo nguyên tắc này, bản án của tòa án nước ngoài được công nhận tại Việt Nam nếu nước đó cũng công nhận bản án của tòa án Việt Nam trong điều kiện tương tự.

Trường hợp bản án/phán quyết không được công nhận tại Việt Nam

Không phải mọi bản án hay phán quyết của nước ngoài đều được tự động thi hành tại Việt Nam. Vậy, đâu là những “lằn ranh đỏ” pháp lý khiến một quyết định của tòa án hay trọng tài nước ngoài bị từ chối?

Thứ nhất, đối với bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo Điều 439 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trong các trường hợp sau: 

  • Bản án không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; 
  • Bản án chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật nước có tòa án đã ra bản án đó; 
  • Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó vắng mặt tại phiên tòa do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của tòa án không được tống đạt trong thời hạn hợp lý để họ thực hiện quyền tự bảo vệ;
  • Vụ việc dân sự đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án Việt Nam;
  • Trước khi cơ quan xét xử nước ngoài thụ lý vụ việc, tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc;
  • Đã có bản án, quyết định dân sự của tòa án nước thứ ba đã được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành;
  • Hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có tòa án đã ra bản án hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam;
  • Việc thi hành bản án đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có tòa án đã ra bản án đó;
  • Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam như: chủ quyền quốc gia, quyền con người, quyền tài sản, quyền bình đẳng trước pháp luật. Nếu bản án nước ngoài vi phạm các nguyên tắc này, tòa án Việt Nam sẽ từ chối công nhận ngay cả khi đáp ứng các điều kiện hình thức khác.

Ngoài ra, Tòa án nước ngoài không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định tại Điều 440 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là cơ sở từ chối công nhận. Cụ thể Điều 440 quy định tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt giải quyết các tranh chấp: về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền thuê, quyền thế chấp đối với bất động sản ở Việt Nam; về thừa kế đối với di sản ở Việt Nam; về hôn nhân, gia đình khi cả hai bên đều là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam. Như vậy, nếu tòa án nước ngoài ra bản án về các vụ việc này, bản án sẽ không được công nhận tại Việt Nam.

Thứ hai, đối với phán quyết trọng tài

Trường hợp 1: Phán quyết trọng tài không được công nhận nếu bên phải thi hành cung cấp chứng cứ yêu cầu phản đối phán quyết khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;
  • Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó;
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình;
  • Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài;
  • Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;
  • Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên;
  • Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành.

Trường hợp 2: Phán quyết trọng tài không được công nhận nếu Tòa án Việt Nam tự xét thấy: 

  • Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài;
  • Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các quy định về trường hợp không công nhận này đóng vai trò trong việc bảo vệ quyền tự bảo vệ của đương sự, chủ quyền quốc gia và các nguyên tắc pháp luật nền tảng. Đối với các bên tham gia tranh chấp quốc tế, việc hiểu rõ những rủi ro này là điều kiện tiên quyết để xây dựng một chiến lược pháp lý hiệu quả.

>>> Xem thêm: Giải quyết tranh chấp hợp đồng ngoại thương và những lưu ý

Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế

Dịch vụ luật sư chuyên về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế cung cấp giải pháp toàn diện từ phòng ngừa rủi ro đến đại diện tại tòa án, trọng tài. Luật Long Phan PMT có đội ngũ luật sư dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực logistics, thương mại quốc tế sẽ hỗ trợ chuyên nghiệp trong quá trình giải quyết tranh chấp. Dịch vụ của chúng tôi bao gồm: 

  • Tư vấn soạn thảo, rà soát hợp đồng vận chuyển quốc tế;
  • Tư vấn lựa chọn điều kiện giao hàng (FOB, CIF, FCA, CPT) phù hợp với khả năng kiểm soát rủi ro và trách nhiệm bảo hiểm;
  • Hỗ trợ thu thập chứng cứ và thực hiện biện pháp khẩn cấp ngay khi tranh chấp phát sinh;
  • Luật sư hướng dẫn Quý khách hàng thu thập đầy đủ hợp đồng, invoice, B/L/AWB, chứng từ kho bãi, nhật ký nhiệt độ, hình ảnh video hiện trường;
  • Tư vấn kích hoạt bảo hiểm và nguyên tắc thế quyền để tối ưu hóa việc bồi thường thiệt hại cho Quý khách hàng;
  • Tư vấn, hướng dẫn đàm phán với đối tác để đạt được thỏa thuận bồi thường hợp lý, tiết kiệm thời gian chi phí so với khởi kiện;
  • Luật sư xây dựng chiến lược hòa giải, chuẩn bị position paper, tham gia cuộc họp chung và cuộc họp riêng với hòa giải viên;
  • Luật sư soạn thảo đơn yêu cầu trọng tài, đơn khởi kiện và các đơn từ khác có liên quan;
  • Luật sư tham gia phiên họp trọng tài, trình bày lập luận pháp lý, chất vấn chứng nhân, phản biện quan điểm đối phương;
  • Tư vấn xác định thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết tranh chấp, quy trình khởi kiện tại Tòa án Việt Nam;
  • Hỗ trợ công nhận và thi hành bản án, phán quyết nước ngoài tại Việt Nam.

Chi phí dịch vụ được tính toán minh bạch dựa trên độ phức tạp vụ việc, giá trị tranh chấp, và giai đoạn giải quyết. Ngoài ra, Luật sư Long Phan PMT cam kết bảo mật thông tin khách hàng, lợi ích xung đột, và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp luật sư theo Luật Luật sư.

>>> Xem thêm: Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 

Câu hỏi thường gặp về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế

Đề giúp Quý khách hiểu rõ hơn về các vấn đề xoay quanh tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế, chúng tôi đã tổng hợp một số câu hỏi phổ biến sau:

Ngoài phí luật sư, các chi phí chính trong một vụ kiện hoặc trọng tài là gì?

Các chi phí chính bao gồm: 1) Án phí tòa án hoặc tạm ứng án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; 2) Phí trọng tài do trung tâm trọng tài quy định theo Điều 34 Luật Trọng tài thương mại 2010; 3) Chi phí giám định, định giá tài sản theo yêu cầu của đương sự hoặc cơ quan tài phán; và 4) Các chi phí tố tụng hợp lý khác.

Nếu hợp đồng không có điều khoản chọn cơ quan tài phán, thẩm quyền sẽ được xác định ra sao?

Trường hợp không có thỏa thuận, thẩm quyền được xác định theo pháp luật và công ước quốc tế. Điều 469 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nếu bị đơn có trụ sở hoặc hợp đồng được thực hiện tại Việt Nam. Đối với vận tải hàng không, Điều 28 Công ước Montreal 1999 cho phép khởi kiện tại nhiều nơi như trụ sở của người vận chuyển hoặc điểm đến.

Nếu bảo hiểm từ chối bồi thường, tôi còn có thể đòi người vận chuyển không?

Chắc chắn là có. Nghĩa vụ của người vận chuyển phát sinh từ hợp đồng vận chuyển (theo Bộ luật Hàng hải 2015 hoặc các luật chuyên ngành khác). Nghĩa vụ của công ty bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm (theo Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022). Đây là hai nghĩa vụ pháp lý riêng biệt và độc lập với nhau.

Ưu điểm chính của mô hình MED-ARB so với việc chỉ chọn trọng tài là gì?

Mô hình này tận dụng được cả hai cơ chế được pháp luật công nhận: hòa giải và trọng tài. Giai đoạn hòa giải (MED) tuân thủ các nguyên tắc tại Chương VII của Luật Trọng tài thương mại 2010, giúp các bên tự nguyện tìm giải pháp. Nếu không thành, vụ việc tự động chuyển sang trọng tài (ARB) để có phán quyết ràng buộc, đảm bảo giải quyết dứt điểm tranh chấp mà không cần bắt đầu lại thủ tục mới.

“Nghĩa vụ giảm thiểu tổn thất” trong thực tế có nghĩa là gì?

Đây là nghĩa vụ pháp lý được quy định tại Điều 362 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, bên có quyền (bên bị thiệt hại) phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn hoặc hạn chế tổn thất. Nếu không thực hiện, bên vi phạm có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường tương đương với phần tổn thất đáng lẽ có thể ngăn chặn được.

Trên đây là các vấn đề cho các thắc mắc của Quý khách xoay quanh vấn đề này. Chúng tôi mong rằng với những câu trả lời này, Quý khách đã phần nào hiểu được nội dung cốt lõi của vấn đề và chọn cho mình hướng đi phù hợp. 

Kết luận

Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế đòi hỏi Quý khách hàng nắm vững quy trình từ thu thập chứng cứ, thương lượng, đến khởi kiện tại cơ quan tài phán có thẩm quyền. Nếu Quý khách có bất kỳ thắc mắc về tranh chấp logistics quốc tế hãy liên hệ Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được tư vấn chi tiết và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Quý khách hàng.

 

Tags: , , , ,

Nguyễn Thu Hương

Luật sư Nguyễn Thu Hương thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội - hiện đang là Luật sư Cộng sự tại Luật Long Phan PMT. Với hơn 10 năm hoạt động, Luật sư Hương đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực luật khác nhau như Dân sự, Doanh nghiệp, Đất đai, Thương mại, Lao động, hôn nhân gia đình, v.v.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87