Hướng dẫn kiểm tra điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán đất đai là bước thẩm định tiên quyết để xác định giá trị pháp lý của giao dịch khi xảy ra tranh chấp. Việc này đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng về năng lực hành vi dân sự và tính tự nguyện của các bên tại thời điểm ký kết. Đồng thời, mục đích và nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của luật hay trái đạo đức xã hội. Đặc biệt, hình thức văn bản bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực theo đúng quy định của Luật Đất đai. Bất kỳ vi phạm nào trong các yếu tố trên đều có thể là căn cứ để Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Để hỗ trợ Quý khách đánh giá rủi ro chính xác nhất, Luật Long Phan PMT xin phân tích cụ thể trong nội dung dưới đây.

Kiểm tra về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Theo nguyên tắc chung tại Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, không phải mọi hợp đồng giấy tay (vi phạm hình thức) đều đương nhiên vô hiệu. Việc công nhận hay hủy bỏ hợp đồng phụ thuộc hoàn toàn vào thời điểm xác lập giao dịch và mức độ thực hiện nghĩa vụ của các bên.
Đối với các giao dịch xác lập từ ngày 01/01/2017 (khi Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực):
- Hợp đồng chuyển nhượng phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã. Nếu không tuân thủ, về cơ bản là vô hiệu.
- Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện được ít nhất hai phần ba (2/3) nghĩa vụ trong giao dịch, thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
- Trong trường hợp này, các bên không cần phải quay lại thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực nữa. Phán quyết của Tòa án sẽ thay thế văn bản công chứng để làm thủ tục sang tên.
Giai đoạn từ 01/7/2004 đến trước 01/01/2017: Trong giai đoạn này, Bộ luật Dân sự 2005 đang có hiệu lực. Nếu tranh chấp xảy ra đối với hợp đồng vi phạm hình thức (giấy tay), Tòa án sẽ áp dụng Điều 134 Bộ luật Dân sự 2005.
- Tòa án buộc các bên thực hiện quy định về hình thức (đi công chứng) trong một thời hạn nhất định. Nếu quá thời hạn đó mà các bên không thực hiện (thường do bên bán cố tình trốn tránh), Tòa án mới tuyên bố giao dịch vô hiệu.
- Hậu quả là các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên nào có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu (gây thiệt hại) thì phải bồi thường.
Giai đoạn trước ngày 01/7/2004: áp dụng Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP:
- Trường hợp 1: Đất chưa có Sổ đỏ tại thời điểm bán, nhưng sau đó đã được cấp Sổ đỏ (hoặc đủ điều kiện cấp) thì không coi là vô hiệu về hình thức.
- Trường hợp 2: Nếu bên mua đã nhận đất, trồng cây lâu năm, làm nhà kiên cố và không bị cơ quan nhà nước xử lý vi phạm hành chính, bên bán không phản đối trong thời gian dài, thì Tòa án sẽ công nhận hợp đồng. Nếu người mua chỉ làm nhà trên một phần đất, Tòa án công nhận phần đất có nhà và hủy phần còn lại (nếu tách thửa được), đồng thời buộc các bên thanh toán chênh lệch giá trị.
🡺 Xem thêm: Dịch vụ Luật sư soạn thảo hợp đồng mua bán nhà đất
Kiểm tra tư cách và năng lực của chủ thể tham gia giao dịch mua bán đất đai
Theo Điểm 1 Mục 2 Phần II Hướng dẫn số 13/HD-VKSTC năm 2023, khi xem xét tính hợp pháp của giao dịch dân sự, đặc biệt là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cơ quan tiến hành tố tụng cần tập trung kiểm tra hai nhóm vấn đề:
- Thứ nhất, kiểm tra năng lực hành vi dân sự của chủ thể. Việc kiểm tra được thực hiện trên cơ sở đánh giá độ tuổi, khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của người tham gia giao dịch. Trường hợp giao dịch được xác lập với người chưa đủ năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện theo pháp luật hợp lệ thì giao dịch có nguy cơ bị tuyên vô hiệu.
- Thứ hai, kiểm tra thẩm quyền định đoạt đối với tài sản chung. Đối với các tài sản thuộc sở hữu chung, như quyền sử dụng đất của hộ gia đình hoặc tài sản chung của vợ chồng, việc xác lập giao dịch phải bảo đảm sự tham gia hoặc chấp thuận hợp pháp của tất cả các chủ thể có quyền lợi liên quan. Việc bỏ sót bất kỳ thành viên nào có quyền, lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc giao dịch không đúng thẩm quyền đều dẫn đến hậu quả pháp lý là giao dịch bị vô hiệu.
Về năng lực chủ thể tham gia giao kết hợp đồng
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, ý chí, mục đích và nội dung. Cụ thể:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.
- Bên chuyển nhượng phải là người có quyền sử dụng đất hợp pháp, đồng thời thuộc trường hợp được pháp luật cho phép thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Bên nhận chuyển nhượng phải là chủ thể được phép tham gia giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không thuộc các trường hợp bị hạn chế quyền nhận chuyển nhượng theo quy định của Luật Đất đai năm.
Về tư cách đại diện và sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu
Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng nhưng chỉ một người ký hợp đồng chuyển nhượng: Theo tinh thần Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016, hợp đồng chuyển nhượng vẫn được công nhận nếu có đủ căn cứ xác định rằng:
- Bên chuyển nhượng đã nhận đủ tiền theo thỏa thuận;
- Người không ký hợp đồng biết việc chuyển nhượng và cùng sử dụng số tiền chuyển nhượng;
- Bên nhận chuyển nhượng đã nhận, quản lý và sử dụng nhà đất công khai;
- Người không ký tên trong hợp đồng biết nhưng không có ý kiến phản đối.
Trường hợp nhà đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng: Theo tinh thần Án lệ số 16/2017/AL ngày 14/12/2017, Nếu các đồng thừa kế khác biết việc chuyển nhượng mà không phản đối, số tiền chuyển nhượng được sử dụng để bảo đảm cuộc sống chung của các đồng thừa kế và bên nhận chuyển nhượng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng là hợp pháp. Phần diện tích đất đã chuyển nhượng không còn là di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên nhận chuyển nhượng.
Trường hợp quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình nhưng việc chuyển nhượng không có sự đồng ý của đầy đủ các thành viên. Theo Điều 102 và Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình chỉ được định đoạt khi có sự đồng ý của tất cả các thành viên có quyền sử dụng đất. Việc đồng ý này phải được lập thành văn bản và được công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật. Ngoài ra:
- Khoản 1 Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định hợp đồng, văn bản về quyền sử dụng đất của hộ gia đình phải do người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền hợp pháp ký tên.
- Khoản 5 Điều 14 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT tiếp tục khẳng định: người ký hợp đồng chỉ được thực hiện việc ký kết khi đã có văn bản thể hiện sự đồng ý của các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất, và văn bản này phải được công chứng hoặc chứng thực.
Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình mà không có đầy đủ sự đồng ý hợp lệ của các thành viên là vi phạm điều kiện về chủ thể và có thể bị tuyên vô hiệu.
>>> Xem thêm: Giao dịch dân sự do người dưới 15 tuổi xác lập có hiệu lực hay không?
Kiểm tra điều kiện của thửa đất (Đối tượng của hợp đồng)
Căn cứ Điểm 2 Mục 2 Phần II Hướng dẫn 13/HD-VKSTC năm 2023, thửa đất đủ điều kiện chuyển nhượng phải thỏa mãn đồng thời các tiêu chí:
- Giấy chứng nhận (Sổ đỏ/Sổ hồng): người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền chuyển nhượng khi đã có Giấy chứng nhận. Tại thời điểm giao kết nếu chưa có Giấy chứng nhận thì bên bán chưa có đầy đủ quyền định đoạt. Trừ trường hợp ngoại lệ là nhận thừa kế quy định tại Luật Đất đai.
- Thời hạn sử dụng đất: Quyền sử dụng đất chuyển nhượng phải còn trong thời hạn sử dụng đất.
- Đất không có tranh chấp: Khái niệm tranh chấp ở đây cần được hiểu theo hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát và Tòa án: Không phải cứ hàng xóm cãi nhau là có tranh chấp. Đất thuộc diện bị tranh chấp là khi đã có cơ quan có thẩm quyền (UBND thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai hoặc Tòa án thụ lý vụ án dân sự/hành chính) tiếp nhận đơn.
- Không bị kê biên thi hành án: Nếu quyền sử dụng đất đang là tài sản bảo đảm cho một nghĩa vụ khác (thế chấp ngân hàng, bảo lãnh) hoặc bị Cơ quan Thi hành án/Tòa án ra quyết định kê biên, cấm chuyển dịch, thì mọi hợp đồng mua bán xác lập sau thời điểm đó đều không được công nhận hiệu lực.
- Điều kiện về Diện tích tối thiểu (Đối với tách thửa): Đất chuyển nhượng còn phải bảo đảm diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất chuyển nhượng. Nếu vi phạm điều kiện này thì hợp đồng chuyển nhượng được xác định là vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.
🡺 Xem thêm: Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất
Kiểm tra về nội dung và ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia giao dịch
Căn cứ Điểm 3 Mục 2 Phần II Hướng dẫn 13/HD-VKSTC và điểm b khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi người tham gia hoàn toàn tự nguyện.
Về nội dung của giao dịch. Hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu nơi vào các trường hợp sau đây:
- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015 .
Kiểm tra về nội dung và ý chí tự nguyện để bản chất bên trong của giao dịch. Một hợp đồng mua bán đất đai chỉ đảm bảo về pháp lý khi nó phản ánh đúng sự thật (không giả cách), xuất phát từ tự do ý chí (không bị ép buộc/lừa dối) và tuân thủ giới hạn của luật pháp (không vi phạm điều cấm).
🡺 Xem thêm: Thủ tục hủy hợp đồng mua bán nhà đất đã công chứng
Thời điểm có hiệu lực và chuyển quyền trong giao dịch mua bán nhà đất
Trong giao dịch bất động sản, người mua thường nghĩ Công chứng xong là đất đã thuộc về mình. Thực tế, Hợp đồng mua bán có hiệu lực từ thời điểm công chứng, nhưng quyền sử dụng đất (quyền sở hữu) chỉ thực sự chuyển sang người mua tại thời điểm đăng ký vào sổ địa chính theo Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024. Công chứng là điều kiện cần, Đăng ký là điều kiện đủ. Hợp đồng công chứng chỉ sinh ra quyền yêu cầu, còn việc đăng ký vào sổ địa chính mới sinh ra quyền sở hữu. Khi xảy ra tranh chấp, việc xác định vụ việc đang nằm ở giai đoạn nào (trước hay sau đăng ký) sẽ quyết định chiến lược tố tụng: Kiện để buộc thực hiện hợp đồng hay Kiện để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Do đó, khuyến nghị cho người mua là phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động (sang tên) ngay lập tức sau khi công chứng để xác lập quyền sở hữu của mình lại.

Các câu hỏi thường gặp (FAQs) hướng dẫn kiểm tra điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán đất đai khi có tranh chấp
Khi phát sinh tranh chấp trong giao dịch mua bán nhà đất, việc đầu tiên và quan trọng nhất là xác định xem hợp đồng đã ký kết có đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được pháp luật công nhận hay không. Dưới đây là những câu hỏi thường gặp về tính pháp lý của hợp đồng.
Hợp đồng mua bán đất bằng giấy tay không công chứng có bị coi là vô hiệu không?
Hợp đồng giấy tay xác lập từ ngày 01/01/2017 đến nay về nguyên tắc là vô hiệu về hình thức do vi phạm quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, Tòa án có thể công nhận hiệu lực của hợp đồng này nếu một trong các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ. Theo quy định tại Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 và Khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Nếu không tuân thủ, hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định ngoại lệ: nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch (ví dụ: bên mua đã trả 2/3 số tiền hoặc bên bán đã giao đất và bên mua đã trả phần lớn tiền), thì theo yêu cầu của một bên, Tòa án có thể ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không cần phải thực hiện lại thủ tục công chứng.
Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình nhưng chỉ có chủ hộ ký bán thì hợp đồng có hiệu lực không?
Hợp đồng này có nguy cơ cao bị tuyên vô hiệu toàn bộ hoặc một phần do vi phạm quy định về chủ thể giao dịch, bởi đất cấp cho hộ gia đình là tài sản chung của tất cả các thành viên trong hộ. Căn cứ Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản chung của hộ gia đình (quyền sử dụng đất) phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trong hộ gia đình đó. Sự đồng ý này phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Nếu chủ hộ tự ý ký bán mà không có văn bản ủy quyền hoặc chữ ký của các thành viên khác (vợ, chồng, con cái đã thành niên có tên trong hộ khẩu tại thời điểm cấp đất), thì giao dịch này vi phạm điều kiện về chủ thể và thẩm quyền đại diện. Tòa án sẽ tuyên bố giao dịch vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Đất đang bị Tòa án kê biên hoặc có tranh chấp thì hợp đồng mua bán có hiệu lực không?
Hợp đồng mua bán đối với loại đất này là vô hiệu tuyệt đối do vi phạm điều cấm của luật và đối tượng của hợp đồng không đủ điều kiện giao dịch. Theo quy định tại Điều 45 Luật Đất đai 2024 (quy định về điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất), một trong những điều kiện bắt buộc để được chuyển nhượng là đất không có tranh chấp và quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án. Việc xác lập giao dịch mua bán trong khi đất đang bị cơ quan nhà nước ngăn chặn (kê biên, phong tỏa) hoặc đang có tranh chấp (đã được cơ quan thẩm quyền thụ lý giải quyết) là hành vi vi phạm điều cấm. Căn cứ Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của luật thì vô hiệu. Người mua sẽ được hoàn trả tiền và có quyền yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại nếu bên bán cố tình che giấu thông tin này.
Vợ chồng cùng đứng tên sổ đỏ nhưng chỉ có chồng ký bán thì xử lý thế nào?
Về nguyên tắc, hợp đồng này vô hiệu do thiếu sự đồng ý của đồng sở hữu. Tuy nhiên, Tòa án có thể công nhận hợp đồng nếu chứng minh được người vợ đã biết và đồng thuận với giao dịch đó. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình và Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản chung của vợ chồng phải do cả hai cùng định đoạt. Nếu chỉ chồng ký bán, hợp đồng vi phạm về chủ thể. Tuy nhiên, áp dụng tinh thần Án lệ số 04/2016/AL, nếu người mua chứng minh được rằng: người vợ đã biết việc chuyển nhượng (tham gia đếm tiền, biết chồng dùng tiền bán đất để chi tiêu chung, sửa nhà, hoặc đã dọn đi nơi khác để giao nhà cho khách…) mà không có ý kiến phản đối, thì Tòa án sẽ công nhận hợp đồng là hợp pháp. Điều này nhằm bảo vệ người mua ngay tình và đảm bảo sự ổn định của các giao dịch dân sự.
Hợp đồng mua bán đã công chứng nhưng chưa sang tên (đăng ký biến động) thì đất đã thuộc về tôi chưa?
Tại thời điểm này, đất chưa thuộc quyền sở hữu của Quý khách. Hợp đồng công chứng chỉ mới phát sinh hiệu lực của hợp đồng (quyền và nghĩa vụ), còn quyền sử dụng đất chỉ được chuyển giao khi hoàn tất thủ tục đăng ký vào sổ địa chính. Căn cứ khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013 (và quy định tương ứng tại Khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024), việc chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Điều này cũng phù hợp với Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, nếu mới chỉ công chứng mà chưa sang tên, Quý khách chưa phải là chủ sở hữu hợp pháp. Nếu xảy ra tranh chấp hoặc đất bị kê biên nợ của chủ cũ trong giai đoạn này, bạn sẽ gặp rủi ro rất lớn. Do đó, cần thực hiện đăng ký biến động ngay sau khi công chứng.
Tôi bị ép buộc hoặc lừa dối khi ký hợp đồng mua bán đất, tôi có thể yêu cầu hủy hợp đồng không?
Có, bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Căn cứ Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015, khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối (bên kia cố ý làm sai lệch sự thật về thửa đất như quy hoạch, giá trị, tình trạng pháp lý) hoặc bị đe dọa, cưỡng ép (làm cho lo sợ phải thực hiện giao dịch để tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, uy tín, tài sản), thì bên bị lừa dối/đe dọa có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu. Quý khách cần thu thập các chứng cứ chứng minh hành vi gian dối hoặc đe dọa của đối phương (tin nhắn, ghi âm, nhân chứng, quy hoạch thực tế trái ngược cam kết…) để cung cấp cho Tòa án.
Dịch vụ kiểm tra điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán đất đai khi có tranh chấp của Luật Long Phan PMT
Xác định tính hiệu lực của hợp đồng là chìa khóa để giải quyết mọi tranh chấp mua bán đất đai. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ thẩm định pháp lý chi tiết, giúp khách hàng tìm ra các lỗ hổng hoặc căn cứ bảo vệ hợp đồng thông qua các hạng mục công việc cụ thể sau:
1.Rà soát điều kiện về chủ thể và đối tượng giao dịch:
- Kiểm tra năng lực hành vi dân sự, độ tuổi và thẩm quyền ký kết của các bên (đặc biệt lưu ý sự đồng thuận của vợ/chồng hoặc đầy đủ thành viên hộ gia đình).
- Xác minh tình trạng pháp lý thực tế của thửa đất tại thời điểm giao dịch: có Giấy chứng nhận (Sổ đỏ) chưa, có đang tranh chấp, bị kê biên thi hành án hay hết hạn sử dụng không.
- Đánh giá tính hợp pháp của văn bản ủy quyền (nếu giao dịch thực hiện qua người đại diện) để phát hiện các dấu hiệu vượt quá phạm vi ủy quyền hoặc ủy quyền đã chấm dứt.
2.Thẩm định điều kiện về hình thức và thủ tục công chứng:
- Đối chiếu hình thức hợp đồng với quy định pháp luật tại thời điểm ký kết (xác định trường hợp bắt buộc công chứng/chứng thực hoặc các ngoại lệ công nhận giấy tay theo thời kỳ).
- Rà soát quy trình công chứng để phát hiện các vi phạm tố tụng (như ký thay, không ký trước mặt Công chứng viên, hồ sơ giả mạo) làm căn cứ yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu.
- Tư vấn khả năng yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực đối với hợp đồng vi phạm về hình thức (thiếu công chứng) nhưng một bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ theo Bộ luật Dân sự.
3.Đánh giá yếu tố tự nguyện và nội dung thỏa thuận:
- Thu thập chứng cứ và lập luận chứng minh hợp đồng vô hiệu do giả tạo (điển hình là làm hợp đồng mua bán đất để che giấu hợp đồng vay nặng lãi) hoặc do bị lừa dối, đe dọa.
- Rà soát các điều khoản thỏa thuận để xem xét có vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc chứa đựng nội dung không thể thực hiện được trên thực tế hay không.
- Tư vấn dự báo hệ quả pháp lý khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu (các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bồi thường thiệt hại…) để khách hàng cân nhắc phương án tranh tụng.

Kết luận
Việc kiểm tra kỹ lưỡng điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán đất đai là yếu tố quyết định khi xảy ra tranh chấp. Các bên cần rà soát lại năng lực chủ thể, hình thức văn bản và tính pháp lý của thửa đất để xác định rủi ro vô hiệu. Sự tham vấn từ luật sư chuyên môn là bước đi cần thiết để đánh giá toàn diện hồ sơ và bảo vệ quyền lợi tài sản. Luật Long Phan PMT hiện cung cấp các giải pháp chuyên sâu thông qua Dịch vụ luật sư đất đai và Dịch vụ giải quyết tranh chấp hợp đồng để hỗ trợ khách hàng. Hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được tư vấn chi tiết
Tags: Công chứng hợp đồng đất đai, đất không tranh chấp, Điều kiện có hiệu lực hợp đồng mua bán đất, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng mua bán đất vô hiệu, Năng lực hành vi dân sự trong giao dịch đất đai

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.