Khiếu nại quyết định xử phạt vì quảng cáo gây nhầm lẫn là giải pháp pháp lý quan trọng khi chủ thể quảng cáo cho rằng nội dung của mình không vi phạm hoặc việc áp dụng chế tài chưa chính xác. Không ít trường hợp chủ thể quảng cáo cho rằng nội dung quảng cáo của mình không gây nhầm lẫn hoặc việc áp dụng chế tài xử phạt của cơ quan có thẩm quyền chưa chính xác, chưa phù hợp với quy định pháp luật. Bài viết dưới đây của Luật Long Phan PMT sẽ cung cấp hướng dẫn chi tiết về quy trình và hồ sơ cần thiết để thực hiện thủ tục này.

Xác định đúng căn cứ pháp lý mà cơ quan xử phạt đang viện dẫn
Bước đầu tiên trong quá trình chuẩn bị khiếu nại là người bị xử phạt cần xem xét kỹ quyết định hành chính để xác định xem cơ quan chức năng đã viện dẫn các căn cứ pháp lý nào để đưa ra quyết định xử phạt. Cụ thể, cơ sở để xác định hành vi vi phạm là căn cứ khoản 9 Điều 8 Luật Quảng cáo 2012 quy định về hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo: Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về:
- khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ;
- số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố.
Khi thực hiện hành vi vi phạm trên, căn cứ khoản 5, khoản 7, khoản 8 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP cá nhân, tổ chức có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Đồng thời, doanh nghiệp còn có thể đối mặt với hình thức phạt bổ sung và khắc phục hậu quả như bị tước giấy tiếp nhận bản công bố/giấy xác nhận nội dung quảng cáo và buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo – xin lỗi tổ chức cá nhân bằng văn bản – cải chính thông tin.
>>> Xem thêm: Vi phạm về điều kiện quảng cáo bị xử lý như thế nào?
Quy trình khiếu nại quyết định xử phạt vì quảng cáo gây nhầm lẫn
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn là quyết định hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Trường hợp tổ chức, cá nhân bị xử phạt cho rằng việc xử phạt không có căn cứ pháp luật, không đúng bản chất hành vi vi phạm hoặc mức xử phạt không phù hợp, thì có quyền thực hiện khiếu nại theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Sau đây là hướng dẫn cụ thể về thời hiệu khiếu nại, cách viết đơn khiếu nại và trình tự, thủ tục khiếu nại quyết định xử phạt vì quảng cáo gây nhầm lẫn theo đúng quy định pháp luật hiện hành.
Thời hiệu khiếu nại
Thời hiệu khiếu nại được quy định cụ thể như sau:
Căn cứ theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011, tổ chức, cá nhân bị xử phạt có quyền thực hiện khiếu nại trong thời hiệu 90 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn. Trường hợp người khiếu nại không thể thực hiện quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu do ốm đau, thiên tai, bệnh dịch, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác, thì thời gian xảy ra trở ngại không được tính vào thời hiệu khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Thành phần hồ sơ khiếu nại
Khi thực hiện quyền khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính vì quảng cáo gây nhầm lẫn, người khiếu nại cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu và chứng cứ liên quan nhằm bảo đảm tính hợp pháp và thuyết phục của nội dung khiếu nại. Thành phần hồ sơ khiếu nại bao gồm:
Đơn khiếu nại theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo tại Phụ lục của Nghị định 124/2020/NĐ-CP và hồ sơ chứng cứ khuyến nghị cần chuẩn bị đính kèm:
- Hồ sơ pháp lý sản phẩm, dịch vụ: bản công bố, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy (nếu có), nhãn quảng cáo hoặc bao bì đã đăng ký; tài liệu kỹ thuật chứng minh công dụng, chỉ tiêu đúng như quảng cáo.
- Dữ liệu nguồn quảng cáo gồm: hợp đồng quảng cáo, file gốc nội dung quảng cáo (artwork/script), lịch duyệt nội bộ, lịch phát hành (placement plan), log quản trị hệ thống (người đăng, thời điểm đăng tải), hóa đơn dịch vụ truyền thông.
- Giám định nội dung (nếu cần thiết): người khiếu nại có thể cung cấp ý kiến chuyên gia hoặc nghiệm thu thử nghiệm chứng minh công dụng, số liệu mình sử dụng là đúng sự thật.
- Chứng cứ tự khắc phục hậu quả: biên bản gỡ bài,cải chính hoặc xin lỗi, ảnh chụp sau khắc phục, thống kê phạm vi hiển thị đã thu hồi.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Việc xác định chính xác cơ quan có thẩm quyền giải quyết ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố quan trọng giúp cá nhân, tổ chức tránh tình trạng đơn khiếu nại bị trả lại hoặc thất lạc.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu
Căn cứ Điều 4 Nghị định 141/2025/NĐ-CP, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu được phân định dựa trên nguyên tắc phân cấp quản lý mới. Cụ thể, người khiếu nại sẽ nộp đơn đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nếu quyết định xử phạt quảng cáo gây nhầm lẫn là:
- Các quyết định, hành vi hành chính của chính Chủ tịch xã, của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, của công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp.
- Các quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện về vụ việc liên quan đến nội dung đã được phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi kết thúc chính quyền cấp huyện.
Ngược lại, thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nếu đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện về vụ việc liên quan đến nội dung đã được phân cấp cho cấp tỉnh sau khi kết thúc chính quyền cấp huyện.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai
Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn luật định mà khiếu nại chưa được giải quyết, quy trình khiếu nại tiếp theo sẽ được thực hiện theo cơ chế cấp trên trực tiếp hoặc chuyển sang tố tụng hành chính.
- Đối với vụ việc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết lần đầu, người khiếu nại có quyền khiếu nại lần hai lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện ra Tòa án.
- Đối với các vụ việc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết lần nhân, người khiếu nại vẫn có quyền tiếp tục khiếu nại lần hai lên Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Cơ sở pháp lý: Điều 4 Nghị định 141/2025/NĐ-CP; Điều 7, Điều 21 Luật Khiếu nại 2011; Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015.
Thụ lý và giải quyết
Quy trình giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau:
Bước 1: Thụ lý và giải quyết khiếu nại
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 16 Nghị định 124/2020/NĐ-CP.
Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại.
Bước 2: Xác minh nội dung khiếu nại
Căn cứ Điều 29 Luật Khiếu nại 2011, trong thời hạn quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm sau đây:
- Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp, nếu khiếu nại đúng thì ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay;
- Trường hợp chưa có cơ sở kết luận nội dung khiếu nại thì tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm (sau đây gọi chung là người có trách nhiệm xác minh) xác minh nội dung khiếu nại, kiến nghị giải quyết khiếu nại.
Bước 3: Ra quyết định giải quyết khiếu nại
Căn cứ Điều 31 Luật khiếu nại 2011:
Căn cứ quy định pháp luật và kết quả xác minh nội dung khiếu nại người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định khiếu nại lần đầu. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung theo khoản 2 Điều 31 Luật khiếu nại 2011.
Bước 4: Gửi quyết định giải quyết khiếu nại
Căn cứ Điều 32 Luật khiếu nại 2011, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết khiếu nại hoặc người có thẩm quyền, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp.
>>> Xem thêm: Thời hạn giải quyết khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính
Căn cứ để khiếu nại được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận
Thực tiễn cho thấy, quyết định xử phạt thường có thể bị hủy bỏ hoặc điều chỉnh nếu doanh nghiệp chứng minh được những điểm chưa vững chắc trong quá trình xác minh vi phạm, cụ thể qua các khía cạnh:
- Không có yếu tố “gây nhầm lẫn”: Quý khách hàng cần chứng minh nội dung quảng cáo của doanh nghiệp trùng khớp hồ sơ đã đăng ký hoặc đã công bố (bản công bố sản phẩm, tiêu chuẩn cơ sở, hợp chuẩn/hợp quy, nhãn, hướng dẫn sử dụng). Điểm mấu chốt là cụm từ “đã đăng ký hoặc đã được công bố” theo quy định trong Luật Quảng cáo 2012 và các Nghị định hướng dẫn – nếu trùng khớp với quy định thì không cấu thành hành vi vi phạm.
- Việc định danh và quy kết trách nhiệm của cơ quan xử phạt chưa vững: Ảnh chụp màn hình, bản ghi được sử dụng làm chứng cứ không đủ cơ sở chứng minh chủ thể thực hiện hành vi quảng cáo là doanh nghiệp của người khiếu nại (ví dụ nội dung do đại lý/affiliate tự ý tạo; dấu vết quản trị trang không thuộc về doanh nghiệp).
- Sai điều khoản: Nếu cơ quan ra quyết định quy kết hành vi vi phạm theo khoản 2 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP nhưng thực tế doanh nghiệp chỉ dùng từ “nhất/duy nhất/tốt nhất/số một” có chứng minh hợp pháp thì không vi phạm; ngược lại, nếu thiếu tài liệu hợp pháp để chứng minh thì nên hạ định danh từ “gây nhầm lẫn” xuống hành vi dùng từ “tuyệt đối” để giảm mức độ vi phạm và hậu quả cho hành vi vi phạm.
- Không so sánh trực tiếp: Nếu biên bản viện dẫn yếu tố so sánh là hành vi vi phạm, căn cứ khoản 10 Điều 8 Luật Quảng cáo 2012, quý khách hàng cần đối chiếu lại quảng cáo của mình vì phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác mới là hành vi bị cấm.
- Áp dụng biện pháp khắc phục: Quý khách có thể xin áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc cải chính, xin lỗi – tháo gỡ quảng cáo thay cho việc giảm mức phạt tiền và không tước giấy tờ nếu hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn ít nghiêm trọng, quý khách đã tự nguyện khắc phục theo quy định tại khoản 7, 8 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP.

Một số khuyến nghị khi quyết định xử phạt vì quảng cáo gây nhầm lẫn
Nhằm hạn chế các hậu quả bất lợi và đảm bảo tính khách quan trong quá trình xử lý vi phạm, doanh nghiệp có thể cân nhắc áp dụng các phương thức pháp lý sau khi nhận được quyết định xử phạt.
Quyền đề nghị tạm đình chỉ quyết định thu hồi
Căn cứ Điều 35 Luật Khiếu nại và hướng dẫn tại Nghị định 124/2020/NĐ-CP, trong quá trình giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn, người khiếu nại có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thi hành quyết định xử phạt nếu có căn cứ cho rằng việc tiếp tục thi hành quyết định đó sẽ gây hậu quả khó khắc phục.
Trong thực tiễn, hậu quả khó khắc phục có thể bao gồm việc buộc tháo gỡ, thu hồi, tiêu hủy sản phẩm, đình chỉ hoạt động quảng cáo, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, thương hiệu và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong khi nội dung quảng cáo đang bị khiếu nại vẫn còn nhiều vấn đề cần được xem xét lại về căn cứ pháp lý và chứng cứ.
Bên cạnh đó, thời hạn tạm đình chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời hạn giải quyết khiếu nại. Quyết định tạm đình chỉ phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và những người có trách nhiệm thi hành khác.
Quyền khiếu nại lần 2 hoặc khởi kiện hành chính
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết, pháp luật cho phép người khiếu nại lựa chọn một trong hai phương thức pháp lý tiếp theo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Căn cứ Điều 33, Điều 42 Luật Khiếu nại 2011, phương thức thứ nhất là người khiếu nại tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại lần hai, thông qua việc nộp đơn khiếu nại đến người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết khiếu nại lần đầu. Việc khiếu nại lần hai phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày (hoặc 45 ngày đối với vùng sâu, vùng xa), kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng không đồng ý với nội dung giải quyết.
Lựa chọn thứ hai là khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015. Theo đó, tổ chức, cá nhân bị xử phạt có quyền khởi kiện ra Tòa án trong hai trường hợp:
- ngay sau khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, mà không bắt buộc phải thực hiện thủ tục khiếu nại lần hai; hoặc
- sau khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai nhưng vẫn cho rằng quyết định này không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là 01 năm, kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn (khoản 2 Điều 1 Luật Tố tụng hành chính 2015).
Việc lựa chọn con đường tố tụng tại Tòa án giúp bảo đảm tính độc lập, khách quan và công bằng trong việc xem xét vụ việc, khi Hội đồng xét xử sẽ đánh giá toàn diện tính hợp pháp, tính có căn cứ và tính tương xứng của quyết định xử phạt trên cơ sở chứng cứ, lập luận pháp lý và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa.
>>> Xem thêm: Khi nào hành vi quảng cáo hành vi gian dối bị truy cứu hình sự
Dịch vụ tư vấn luật sư tư vấn và tham gia giải quyết hành vi xử phạt vì quảng cáo gây nhầm lẫn
Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ toàn diện để hỗ trợ Quý khách trong suốt quá trình khiếu nại. Dịch vụ của chúng tôi bao gồm:
- Soạn thảo nội dung đơn từ và tài liệu pháp lý liên quan đến việc khiếu nại quyết định xử phạt;
- Đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại Tòa án;
- Phân tích yêu cầu của khách hàng về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn;
- Rà soát các quy định pháp luật liên quan đến điều kiện, thủ tục khiếu nại;
- Soát xét nội dung chương trình quảng cáo, đảm bảo tuân thủ pháp luật;
- Tư vấn điều chỉnh nội dung quảng cáo nếu có điểm chưa phù hợp quy định;
- Giải đáp các vướng mắc của khách hàng trong quá trình thực hiện.

Các câu hỏi thường gặp khi thực hiện khiếu nại hành vi xử phạt quảng cáo gây nhầm lẫn
Dưới đây là phần giải đáp một số thắc mắc phổ biến liên quan đến khiếu nại hành vi xử phạt quảng cáo gây nhầm lẫn:
Nếu nội dung quảng cáo sai lệch do lỗi của KOL, doanh nghiệp có phải chịu trách nhiệm không?
Căn cứ Điều 15a của Luật Quảng cáo 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định rõ nghĩa vụ của người chuyển tải quảng cáo, chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu quảng cáo có nội dung sai sự thật, gây hiểu lầm. Cũng tại khoản 2 Điều Luật này, quy định doanh nghiệp (người quảng cáo) phải chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo của mình trong trường hợp trực tiếp thực hiện quảng cáo trên các phương tiện; liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo trong trường hợp thuê người khác thực hiện. Như vậy, doanh nghiệp phải liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩm về sản phẩm quảng cáo trong trường hợp thuê người khác (KOL) thực hiện, ngay cả khi sai sót trực tiếp thuộc về KOL.
Những tình tiết giảm nhẹ nào nên đưa vào đơn khiếu nại nhằm xin giảm mức phạt tiền?
Căn cứ Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, các tình tiết giảm nhẹ nên đưa vào đơn khiếu nại bao gồm: Người vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm; đã tự nguyện khắc phục hậu quả, xin lỗi, tháo gỡ bài, đăng cải chính công khai trước khi bị lập biên bản…những tình tiết trên sẽ quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính của hành vi vi phạm.
Hành vi quảng cáo trên nhiều nền tảng khác nhau (Facebook, Website, YouTube) cùng một nội dung gây nhầm lẫn thì bị phạt một lần hay nhiều lần?
Thông thường, đây được xem là một hành vi vi phạm nhưng có tình tiết tăng nặng là “vi phạm nhiều lần” hoặc “vi phạm trên quy mô lớn” theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, dẫn đến mức phạt có thể bị áp dụng ở khung cao nhất. Tuy nhiên, nếu các chiến dịch quảng cáo là độc lập, tách biệt hoàn toàn về thời gian và nội dung, cơ quan chức năng có thể lập biên bản xử phạt cho từng hành vi riêng biệt.
Ngoài việc nộp phạt hành chính, doanh nghiệp có trách nhiệm bồi thường cho người tiêu dùng đã mua sản phẩm do tin vào quảng cáo gây nhầm lẫn không?
Có. Việc chấp hành quyết định xử phạt hành chính không loại trừ trách nhiệm dân sự. Nếu người tiêu dùng chứng minh được họ đã chịu thiệt hại (mua nhầm hàng hóa, ảnh hưởng sức khỏe…) do tin vào nội dung quảng cáo sai lệch, họ có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015.
Hình thức “cải chính thông tin” phải thực hiện như thế nào mới được công nhận là đã khắc phục hậu quả?
Căn cứ Điều 34 Luật xử lý vi phạm hành chính 2019, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã được công bố, đưa tin trên chính phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử đã công bố, đưa tin chẳng hạn như nếu quảng cáo trên báo giấy/báo điện tử, phải cải chính trên báo đó; nếu quảng cáo trên mạng xã hội, phải đăng bài cải chính công khai ở chế độ công cộng và lưu trữ trong thời gian nhất định. Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Kết luận
Thủ tục khiếu nại quyết định xử phạt vì quảng cáo gây nhầm lẫn cần chuẩn bị kỹ lưỡng về hồ sơ và các chứng cứ chứng minh. Trong bối cảnh các quy định về quảng cáo ngày càng được áp dụng chặt chẽ, việc cơ quan quản lý đánh giá chưa đầy đủ hồ sơ pháp lý của sản phẩm, bối cảnh quảng cáo có thể dẫn đến những quyết định xử phạt chưa thực sự thỏa đáng. Để bảo vệ quyền lợi tối ưu, Quý khách cần đánh giá chính xác tính chất vụ việc, từ đó lựa chọn phương án phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Luật Long Phan PMT sẵn sàng đồng hành, hỗ trợ Quý khách hàng trong toàn bộ quy trình này. Liên hệ ngay qua hotline 1900.63.63.87 để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.
Tags: Hồ sơ khiếu nại quảng cáo, Khiếu nại quyết định xử phạt, Khởi kiện vụ án hành chính, Quảng cáo gây nhầm lẫn, Thủ tục khiếu nại hành chính, Trách nhiệm của KOL, xử phạt hành vi quảng cáo, Xử phạt vi phạm hành chính

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.