Không đọc thông báo Tòa án trên VNeID: hậu quả và cách xử lý

Không đọc thông báo Tòa án trên VNeID có thể dẫn đến xét xử vắng mặt, nhưng chỉ khi thông báo đã được gửi hợp lệ vào tài khoản mà người nhận đã yêu cầu hoặc đồng ý nhận văn bản điện tử. Luật Long Phan PMT phân tích hậu quả và cách phòng tránh để người tham gia thủ tục tố tụng dân sự không mất quyền tranh tụng chỉ vì một thông báo chưa mở.

Người xem thông báo trên điện thoại kèm hồ sơ và cán cân công lý minh họa không đọc thông báo Tòa án trên VNeID
Tòa án tống đạt điện tử theo yêu cầu của đương sự; vắng mặt lần thứ nhất thì hoãn phiên tòa, từ lần thứ hai hậu quả khác nhau theo tư cách tham gia tố tụng.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Tòa án chỉ cấp, tống đạt văn bản bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác, theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
  • Thông điệp của Tòa án được tính là đã nhận khi vào hệ thống do người nhận chỉ định và có thể truy cập được, theo khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP.
  • Đương sự vắng mặt lần thứ nhất thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, còn từ lần thứ hai hậu quả khác nhau theo tư cách tham gia tố tụng, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • Bị cáo vắng mặt không vì bất khả kháng có thể bị dẫn giải, và chỉ được xét xử vắng mặt trong các trường hợp luật định, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021, 2024, 2025).

Nội Dung Bài Viết

Thông báo của Tòa án qua VNeID có giá trị pháp lý khi nào

Thông báo của Tòa án gửi qua VNeID chỉ làm phát sinh hậu quả tố tụng khi việc tống đạt điện tử có căn cứ pháp luật, đúng người nhận và được hệ thống ghi nhận. Điều kiện nền tảng là đương sự đã yêu cầu hoặc đồng ý nhận văn bản điện tử.

Căn cứ pháp lý của tống đạt điện tử

Pháp luật tố tụng hiện hành xây dựng việc tống đạt điện tử trên ba lớp quy định. Lớp thứ nhất là luật tố tụng, lớp thứ hai là pháp luật về giao dịch điện tử, lớp thứ ba là văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 liệt kê các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, trong đó có phương thức bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác. Điều 176 cùng bộ luật quy định việc này thực hiện theo pháp luật về giao dịch điện tử và giao Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn.

Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 15/01/2026, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, gồm 32 điều và thay thế Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP. Theo điểm c khoản 1 Điều 1, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản là một trong các thủ tục được thực hiện trên môi trường số.

Về công cụ xác thực, Điều 8 Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP quy định việc đăng ký và đăng nhập bằng tài khoản định danh điện tử. Điểm a khoản 1 Điều 7 liệt kê mã OTP qua VNeID là một hình thức xác nhận được sử dụng. Do đó, VNeID là kênh được pháp luật tố tụng thừa nhận, không phải một ứng dụng thông báo thông thường.

Điều kiện để thông báo qua VNeID được coi là hợp lệ

Theo thực tiễn áp dụng, một thông báo điện tử thường được coi là hợp lệ khi đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:

  • Đương sự hoặc người tham gia tố tụng đã yêu cầu, đăng ký hoặc đồng ý nhận văn bản bằng phương tiện điện tử.
  • Tài khoản nhận là tài khoản định danh điện tử của chính người đó, đã được xác thực.
  • Thông điệp được gửi đúng tài khoản và hệ thống ghi nhận việc gửi thành công.
  • Nội dung thông báo nêu đủ loại văn bản, số vụ việc, thời gian và địa điểm làm việc hoặc mở phiên tòa.
  • Tòa án lưu được nhật ký gửi, nhận để chứng minh khi có tranh chấp.

Trường hợp ngoại lệ thường gặp là đương sự nhận được thông báo qua VNeID nhưng chưa từng đồng ý nhận văn bản điện tử trong vụ án. Khi đó, Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đặt điều kiện “theo yêu cầu của đương sự”, nên Tòa án thường phải bổ sung phương thức tống đạt khác.

Lời khuyên dành cho khách hàng ở tình huống này là không nên chỉ dựa vào lập luận chưa đồng ý nhận điện tử rồi bỏ qua thông báo. Hãy chủ động liên hệ Tòa án, xác nhận số vụ việc và thể hiện rõ quan điểm bằng văn bản. Làm vậy vừa bảo vệ được quyền lợi, vừa tránh bị đánh giá là cố ý trì hoãn.

Không đọc thông báo trên VNeID có bị coi là đã nhận không?

Trong nhiều trường hợp, câu trả lời là có thể bị coi là đã nhận. Mốc pháp lý được tính theo thời điểm thông điệp đã nằm trong hệ thống mà người nhận có thể truy cập, không phải thời điểm người nhận mở xem. Vì vậy, thói quen không mở thông báo không tạo ra lá chắn pháp lý.

Thời điểm được coi là đã nhận

Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP quy định thời điểm nhận thông điệp dữ liệu do Tòa án gửi là lúc thông điệp nhập vào hệ thống do người nhận chỉ định và có thể truy cập được. Nếu người nhận không chỉ định hệ thống, thời điểm được xác định theo bất kỳ hệ thống nào hoặc tài khoản định danh điện tử của họ.

Có thể hiểu rằng yếu tố quyết định là khả năng truy cập, không phải hành vi đọc. Một thông báo nằm sẵn trong mục thông báo của tài khoản, người nhận có thể mở bất cứ lúc nào, thì về nguyên tắc đã đáp ứng tiêu chí này dù người nhận chưa xem.

Chứng minh việc tống đạt và việc không thể truy cập

Trong tranh chấp về việc đã nhận hay chưa, chứng cứ then chốt là dữ liệu hệ thống: thời điểm gửi, tài khoản nhận, trạng thái gửi thành công. Bên cạnh đó, đương sự có quyền nêu và chứng minh sự cố khiến mình không thể truy cập, ví dụ lỗi ứng dụng, tài khoản bị khóa hoặc thông báo không hiển thị.

So sánh các phương thức tống đạt và thời điểm coi là đã nhận

Bảng dưới đây giúp phân biệt rủi ro của tống đạt điện tử so với các phương thức truyền thống trong tố tụng dân sự.

Phương thức Thời điểm hoặc điều kiện coi là đã nhận Căn cứ Rủi ro với người nhận
Giao trực tiếp Người nhận ký nhận; nếu từ chối, người thực hiện lập biên bản có xác nhận Khoản 2 và khoản 4 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Từ chối nhận không làm mất hiệu lực nếu biên bản đúng quy định
Bưu chính Ngày người nhận xác nhận đã nhận Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Thông thường có chứng từ giấy để đối chiếu
Niêm yết công khai Sau 15 ngày kể từ ngày niêm yết Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Người nhận thường không biết, nhưng thời hạn vẫn chạy
Điện tử qua VNeID Khi thông điệp vào hệ thống và có thể truy cập Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP Không mở thông báo vẫn có thể bị tính là đã nhận

Khi nào Tòa án được xét xử vắng mặt vụ án dân sự và hành chính

Tòa án chỉ xét xử vắng mặt đương sự ở những trường hợp luật cho phép, và hậu quả phụ thuộc vào lần triệu tập, tư cách tham gia tố tụng và lý do vắng mặt. Vắng mặt lần thứ nhất thường dẫn đến hoãn phiên tòa, nhưng từ lần thứ hai, hậu quả có thể bất lợi nghiêm trọng.

Vắng mặt sau lần triệu tập hợp lệ thứ nhất

Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà đương sự hoặc người đại diện vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án phải thông báo việc hoãn cho những người liên quan.

Quy định tương tự tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) áp dụng cho vụ án hành chính. Như vậy, cơ hội đầu tiên thường được bảo toàn, nhưng chỉ khi việc triệu tập lần đầu là hợp lệ và người vắng mặt chưa có đơn xin xét xử vắng mặt.

Vắng mặt sau lần triệu tập hợp lệ thứ hai

Từ lần triệu tập hợp lệ thứ hai, nếu không có đơn xin xét xử vắng mặt và không có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Tòa án xử lý theo tư cách tham gia tố tụng. Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau.

Tư cách tham gia tố tụng Hậu quả khi vắng mặt không có người đại diện Căn cứ
Nguyên đơn Bị coi là từ bỏ việc khởi kiện, Tòa án đình chỉ yêu cầu khởi kiện đó Điểm a khoản 2 Điều 227
Bị đơn không có yêu cầu phản tố Tòa án xét xử vắng mặt Điểm b khoản 2 Điều 227
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập Tòa án xét xử vắng mặt Điểm b khoản 2 Điều 227
Bị đơn có yêu cầu phản tố Bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố Điểm c khoản 2 Điều 227
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập Điểm d khoản 2 Điều 227
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ Điểm đ khoản 2 Điều 227

Với vụ án hành chính, khoản 2 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính 2015 có cấu trúc tương tự: người khởi kiện vắng mặt có thể bị coi là từ bỏ khởi kiện, còn người bị kiện vắng mặt thì Tòa án xét xử vắng mặt.

Triệu tập hợp lệ gắn với tống đạt hợp lệ

Hậu quả của việc vắng mặt chỉ phát sinh khi triệu tập là hợp lệ, mà triệu tập hợp lệ lại phụ thuộc vào việc tống đạt hợp lệ. Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 coi việc tống đạt thực hiện đúng bộ luật là hợp lệ.

Do đó, khi đương sự bị xét xử vắng mặt, câu hỏi đầu tiên của luật sư luôn là Tòa án đã tống đạt bằng phương thức nào, có căn cứ đồng ý nhận điện tử hay không, và có nhật ký hệ thống chứng minh hay không.

Trường hợp ngoại lệ là vắng mặt có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Khoản 2 Điều 227 cho phép Tòa án hoãn phiên tòa trong trường hợp này. Lời khuyên dành cho khách hàng là phải báo ngay cho Tòa án bằng văn bản, kèm tài liệu chứng minh như giấy nhập viện, vé di chuyển bị hủy hoặc xác nhận lỗi hệ thống, thay vì chỉ gọi điện thông báo miệng.

Bị cáo không đọc thông báo: xét xử vắng mặt trong vụ án hình sự hạn chế hơn

Trong vụ án hình sự, sự có mặt của bị cáo là nguyên tắc, còn xét xử vắng mặt là ngoại lệ được quy định chặt chẽ. Bị cáo không đọc thông báo không thể mặc nhiên trông chờ vào việc phiên tòa bị hoãn.

Nghĩa vụ có mặt và khả năng bị dẫn giải

Khoản 1 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021, 2024, 2025) quy định bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án trong suốt thời gian xét xử. Nếu vắng mặt mà không do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, bị cáo có thể bị dẫn giải.

Nếu vắng mặt do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Trường hợp bị cáo bỏ trốn, Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu truy nã.

Các trường hợp được xét xử vắng mặt bị cáo

Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chỉ cho phép xét xử vắng mặt bị cáo trong các trường hợp sau:

  • Bị cáo trốn hoặc không biết bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả (điểm a).
  • Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa (điểm b).
  • Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận (điểm c).
  • Bị cáo vắng mặt không do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nhưng sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử (điểm d).

Hoãn phiên tòa hình sự và thời hạn hoãn

Điểm a khoản 1 Điều 297 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định Tòa án hoãn phiên tòa khi có căn cứ tại các điều 52, 53, 288, 289, 290, 291, 292, 293, 294 và 295 của bộ luật này. Khoản 2 Điều 297 giới hạn thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn.

Trường hợp ngoại lệ là bị cáo có bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo. Khoản 1 Điều 290 quy định Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án đến khi bị cáo hồi phục. Lời khuyên dành cho thân nhân và người bào chữa là chuẩn bị sớm hồ sơ bệnh án, kết luận giám định để Tòa án có căn cứ.

Hoãn phiên tòa dân sự: thời hạn và cách đề nghị đúng quy định

Đề nghị hoãn phiên tòa có hiệu quả khi nêu đúng căn cứ pháp luật, gửi đúng thời điểm và kèm chứng cứ. Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giới hạn thời gian hoãn phiên tòa, nên đương sự cần chuẩn bị sẵn kế hoạch tham gia trong lần mở lại.

Thời hạn hoãn theo Bộ luật Tố tụng dân sự

Theo Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời gian hoãn phiên tòa không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định hoãn, hoặc 15 ngày với vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn. Quyết định hoãn phải nêu lý do và thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

Các bước đề nghị hoãn hoặc xin xét xử vắng mặt

Khi phát hiện không thể tham gia phiên tòa, đương sự nên thực hiện lần lượt các bước sau:

  1. Xác định chính xác ngày giờ, số vụ án, Tòa án và Thẩm phán phụ trách từ thông báo trên VNeID.
  2. Quyết định xin hoãn vì lý do chính đáng hay xin xét xử vắng mặt, vì hai hướng này dẫn đến hậu quả khác nhau.
  3. Soạn đơn nêu rõ lý do, căn cứ pháp luật và đề nghị cụ thể của mình.
  4. Đính kèm tài liệu chứng minh như giấy xác nhận y tế, vé tàu xe, văn bản của cơ quan, lịch sử lỗi hệ thống.
  5. Gửi đơn trước phiên tòa, ưu tiên cách để có xác nhận đã nhận như nộp trực tiếp hoặc qua chính kênh điện tử Tòa án sử dụng.
  6. Lưu bản sao đơn và chứng từ gửi để sử dụng khi kháng cáo nếu cần.

Hậu quả sau khi bị xét xử vắng mặt và cách bảo vệ quyền lợi

Sau khi bị xét xử vắng mặt, quyền lợi vẫn có thể được bảo vệ thông qua kháng cáo, nhưng thời hạn rất ngắn và phụ thuộc vào cách Tòa án gửi bản án. Đương sự cần xác định ngay thời điểm bắt đầu tính thời hạn thay vì chờ đến khi nhận được bản án giấy.

Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm

Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Với đương sự, người đại diện hoặc người khởi kiện vắng mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng, thời hạn tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Ngược lại, nếu đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án không có lý do chính đáng, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Do vậy, nếu lý do vắng mặt không được chấp nhận là chính đáng, đương sự có thể phải tính thời hạn theo mốc bất lợi hơn.

Trường hợp ngoại lệ là đương sự không biết vì sao Tòa án gửi bản án. Lời khuyên dành cho khách hàng là nộp đơn kháng cáo sớm, ngay khi biết về bản án, đồng thời nêu rõ trong đơn việc chưa được tống đạt hợp lệ và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.

Vắng mặt ở phiên phúc thẩm

Theo Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án hoãn phiên tòa, trừ khi có đơn xin xét xử vắng mặt. Vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì bị coi là từ bỏ kháng cáo.

Ghế trống phòng xét xử và bốn hậu quả khi đương sự vắng mặt từ lần triệu tập hợp lệ thứ hai
Nguyên đơn bị coi là từ bỏ khởi kiện; bị đơn không phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không độc lập bị xét xử vắng mặt; phản tố bị coi là từ bỏ.

Kinh nghiệm thực tế khi xử lý thông báo tố tụng điện tử

Qua các hồ sơ tố tụng đã tiếp nhận, phần lớn rắc rối không đến từ việc đương sự cố tình né tránh Tòa án. Chúng thường đến từ những thói quen sử dụng ứng dụng định danh điện tử trong đời sống hằng ngày, vốn chưa được điều chỉnh cho việc theo dõi thủ tục tố tụng.

Một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là coi VNeID như ứng dụng chỉ mở khi cần xuất trình giấy tờ. Có người nhiều tuần không vào mục thông báo, đến khi phát hiện thì thời hạn nộp ý kiến hoặc thời điểm phiên tòa đã qua.

Tình huống thứ hai là thay đổi số điện thoại, đổi thiết bị hoặc cập nhật lại tài khoản nhưng không thông báo cho Tòa án. Khi đó, thông báo vẫn có thể được gửi vào hệ thống như đã đăng ký, còn người nhận thực tế không nhận được cảnh báo nào.

Với doanh nghiệp, sai lầm thường gặp là thông báo gửi vào tài khoản cá nhân của người đại diện theo pháp luật, trong khi người này đi công tác dài ngày và không có ai theo dõi thay. Doanh nghiệp nên phân công người có thẩm quyền xử lý tài liệu tố tụng.

Điều chỉ nhận ra sau nhiều vụ việc là: bản án vắng mặt thường chỉ được biết đến khi cơ quan thi hành án liên hệ. Lúc này thời hạn kháng cáo có thể đã hết, còn việc chứng minh việc tống đạt không hợp lệ rất khó khăn và tốn kém.

Quy trình xử lý khi phát hiện đã bỏ lỡ thông báo của Tòa án

Khi phát hiện đã bỏ lỡ thông báo, hành động nhanh trong những ngày đầu quyết định phần lớn kết quả. Mục tiêu là xác định tình trạng vụ án, ngăn chặn hậu quả vắng mặt và bảo toàn chứng cứ trước khi thời hạn tố tụng kết thúc.

Có thể thực hiện theo trình tự sau:

  1. Mở ngay mục thông báo trên VNeID, chụp màn hình toàn bộ thông báo kèm thời điểm hiển thị.
  2. Ghi lại số vụ việc, tên Tòa án, loại văn bản và ngày giờ làm việc được ghi trong thông báo.
  3. Liên hệ Tòa án đang thụ lý để xác nhận phiên tòa đã diễn ra hay chưa, và có quyết định hoặc bản án nào đã được ban hành.
  4. Nếu phiên tòa chưa diễn ra, gửi đơn đề nghị hoãn hoặc đề nghị xét xử vắng mặt, kèm tài liệu chứng minh.
  5. Nếu bản án đã được tuyên, tính ngay thời hạn kháng cáo theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và chuẩn bị đơn.
  6. Nhờ luật sư rà soát tính hợp lệ của việc tống đạt và hồ sơ chứng cứ.

Nếu vụ việc của bạn đã có thông báo mở phiên tòa hoặc bản án sơ thẩm được tuyên trong lúc bạn vắng mặt, hãy gửi hồ sơ cho luật sư ngay trong ngày để xác định thời hạn kháng cáo và cách chứng minh việc tống đạt chưa hợp lệ.

Quy trình 6 bước xử lý khi bỏ lỡ thông báo của Tòa án trên VNeID, từ chụp màn hình đến nhờ luật sư
Mở và chụp thông báo, ghi lại thông tin vụ việc, liên hệ Tòa án, gửi đơn hoãn hoặc xét xử vắng mặt, tính thời hạn kháng cáo và nhờ luật sư rà soát.

Câu hỏi thường gặp về không đọc thông báo Tòa án trên VNeID

Các câu hỏi dưới đây phản ánh thắc mắc khách hàng hay đặt ra khi nhận thông báo tố tụng điện tử. Kết quả trong từng vụ việc vẫn phụ thuộc vào hồ sơ và đánh giá của Tòa án có thẩm quyền.

1. Tôi không mở thông báo VNeID thì Tòa án có xét xử vắng mặt ngay không?

Thông thường là không ngay ở lần đầu. Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự vắng mặt khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ khi có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, từ lần thứ hai, Tòa án có thể xét xử vắng mặt hoặc đình chỉ theo tư cách tham gia tố tụng.

2. Tôi chưa từng đăng ký nhận văn bản điện tử mà vẫn nhận thông báo VNeID, có hợp lệ không?

Điều này cần xem xét kỹ. Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép tống đạt bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác. Nếu không có yêu cầu hoặc sự đồng ý như vậy, bạn có cơ sở để lập luận việc tống đạt chưa hợp lệ. Hãy phản hồi Tòa án bằng văn bản ngay.

3. Đã bị xét xử vắng mặt, tôi còn quyền kháng cáo không?

Còn, nếu trong thời hạn luật định. Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn kháng cáo là 15 ngày, và với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng thì tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Nên nộp đơn kháng cáo kèm chứng cứ càng sớm càng tốt.

4. Bị cáo không đọc thông báo của Tòa án có bị dẫn giải không?

Có thể. Khoản 1 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập và nếu vắng mặt mà không do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải. Việc xét xử vắng mặt chỉ thực hiện trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 290. Vì vậy bị cáo cần chủ động liên hệ Tòa án.

5. Ứng dụng bị lỗi nên không truy cập được thông báo thì có được coi là đã nhận không?

Có thể không. Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP lấy tiêu chí thông điệp “có thể truy cập được” để xác định thời điểm nhận. Nếu bạn chứng minh được sự cố khiến thông điệp không thể truy cập, bạn có cơ sở đề nghị Tòa án xem xét lại. Hãy lưu ngay ảnh chụp lỗi và xác nhận sự cố.

Kết luận

Không đọc thông báo Tòa án trên VNeID không phải là hành vi vô hại. Khi thông báo đã vào hệ thống và có thể truy cập, đương sự có thể bị coi là đã nhận, rồi đối mặt với đình chỉ, xét xử vắng mặt hoặc mất quyền kháng cáo. Cách an toàn nhất là kiểm tra tài khoản thường xuyên, cập nhật thông tin liên hệ cho Tòa án, lưu giữ chứng cứ và hành động sớm khi bỏ lỡ thông báo. Nếu bạn đang ở trong tình huống này, Luật Long Phan PMT sẵn sàng rà soát hồ sơ; vui lòng liên hệ hotline 1900636387 để được hướng dẫn bước xử lý phù hợp.

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Nếu bạn nhận được thông báo của Tòa án trên VNeID, đã bỏ lỡ lịch làm việc hoặc phiên tòa, Luật Long Phan PMT có thể rà soát tính hợp lệ của việc tống đạt, đề nghị hoãn phiên tòa và chuẩn bị kháng cáo kịp thời hạn.

Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư thủ tục tố tụng dân sự

📞 Hotline: 1900 636 387

✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn

💬 Zalo: 0939 846 973

📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021, 2024, 2025)
  • Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐTP
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , ,

Võ Mộng Thu

Thạc sĩ Luật sư Võ Mộng Thu - Thạc sĩ Luật sư 15 năm kinh nghiệm tố tụng, tranh chấp lao động, doanh nghiệp. Hiện Luật sư Thu là luật sư cộng sự tại Công ty Luật Long Phan PMT

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87