Đòi lại đất cho mượn khi người mượn không trả là việc người cho mượn có thể giải quyết theo lộ trình rõ ràng: thông báo bằng văn bản, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, khởi kiện ra Tòa án và yêu cầu thi hành án. Luật Long Phan PMT phân tích từng bước theo quy định mới nhất về tranh chấp đất đai, kèm chứng cứ cần chuẩn bị và các lỗi thường gặp.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản khi bên mượn đã đạt mục đích mượn mà không có thỏa thuận thời hạn. Khi có nhu cầu đột xuất và cấp bách, bên cho mượn vẫn được đòi nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, theo khoản 1 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015.
- Chủ sở hữu được đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật theo khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015. Với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu và tranh chấp quyền sử dụng đất, thời hiệu khởi kiện không áp dụng theo khoản 2 và khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015.
- Trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết, các bên phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất trong thời hạn 30 ngày theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 (sửa đổi, bổ sung 2024, 2025). Bên có Giấy chứng nhận thì Tòa án giải quyết theo khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
- Vụ án đòi đất thuộc Tòa án nơi có đất theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025). Khi bên mượn vẫn không giao đất, người thắng kiện yêu cầu cưỡng chế theo Điều 90 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Khi nào người cho mượn có quyền đòi lại đất đã cho mượn
Người cho mượn được đòi lại đất khi hết thời hạn mượn, khi bên mượn đã đạt mục đích mượn, khi mình có nhu cầu đột xuất và cấp bách, hoặc khi bên mượn dùng sai mục đích hay tự ý cho người khác mượn lại. Cần xác định đúng căn cứ trước khi gửi yêu cầu.
Bốn căn cứ pháp lý để đòi lại đất
Theo thực tiễn áp dụng, quan hệ cho mượn đất thường được xem xét theo quy định về hợp đồng mượn tài sản. Điều 494 Bộ luật Dân sự 2015 xác định bên mượn phải trả lại tài sản khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được. Người cho mượn có thể dựa vào các căn cứ sau:
- Hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được: bên mượn phải trả lại tài sản đúng thời hạn, và nếu không có thỏa thuận về thời hạn thì phải trả ngay khi mục đích mượn đã đạt được, theo khoản 3 Điều 496 Bộ luật Dân sự 2015.
- Người cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách: được đòi lại dù bên mượn chưa đạt mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, theo khoản 1 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015.
- Bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng hoặc cách thức đã thỏa thuận: người cho mượn được đòi lại theo khoản 2 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015.
- Bên mượn cho người khác mượn lại khi chưa được đồng ý: người cho mượn được đòi lại theo khoản 2 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015, đồng thời hành vi này vi phạm khoản 2 Điều 496 Bộ luật Dân sự 2015.
Khi bên mượn nói đất không phải đất mượn
Quyền đòi lại không áp dụng đối với người đang chiếm hữu đất trên một căn cứ pháp lý khác. Khoản 2 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó, chẳng hạn người thuê đất hợp pháp hoặc người nhận tặng cho hợp lệ.
Trong thực tế, bên bị đòi đất thường phản biện rằng đất đã được cho miệng, được bán hoặc cho thuê, hoặc rằng mình đã bỏ công sức tôn tạo. Người cho mượn cần chứng minh nguồn gốc đất và việc giao đất ngay từ đầu, thay vì chỉ khẳng định mình là chủ đất. Lời khai thống nhất của người làm chứng thường có giá trị hơn lời khẳng định chung chung.

Bước 1: gửi thông báo đòi đất bằng văn bản và ấn định thời hạn hợp lý
Thông báo bằng văn bản là bước đầu tiên và ít tốn kém nhất. Nó xác lập thời điểm bạn yêu cầu trả đất, cho bên mượn thời hạn hợp lý để di dời và tạo chứng cứ rằng bên mượn đã biết yêu cầu nhưng không thực hiện.
Nội dung cần có trong giấy đòi đất
Một giấy đòi đất hiệu quả cần ngắn gọn, cụ thể và không mang tính đe dọa. Nội dung nên thể hiện đủ các yếu tố sau:
- Mô tả thửa đất: số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ, diện tích và hiện trạng tài sản trên đất.
- Căn cứ đòi lại: hết hạn, đã đạt mục đích, có nhu cầu cấp bách hoặc bên mượn vi phạm.
- Thời hạn cụ thể phải bàn giao đất và địa điểm, cách thức bàn giao.
- Thông báo rằng nếu quá hạn, người cho mượn sẽ yêu cầu hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã và khởi kiện ra Tòa án.
Cách gửi để có bằng chứng đã gửi
Cách gửi thông báo quan trọng không kém nội dung. Người nhận có thể chối rằng chưa nhận được, nên phải có dấu vết khách quan về việc đã gửi. Có thể thực hiện theo trình tự sau:
- Lập thông báo thành ít nhất hai bản, một bản gửi và một bản lưu có chữ ký.
- Gửi qua dịch vụ bưu chính có phiếu báo phát hoặc xác nhận đã giao tận tay.
- Nếu bên mượn từ chối nhận, nhờ tổ trưởng dân phố hoặc trưởng thôn chứng kiến và lập biên bản ghi nhận việc từ chối.
- Cân nhắc nhờ Văn phòng Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận việc giao thông báo, nhất là khi quan hệ giữa hai bên đã căng thẳng.
Nếu đất có nhà ở nhờ hoặc nhờ trông coi, quy trình thông báo tương tự và được trình bày thêm trong hướng dẫn về khởi kiện đòi lại nhà đất cho mượn, ở nhờ của Luật Long Phan PMT.
Thế nào là thời hạn hợp lý
Khoản 1 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ yêu cầu báo trước một thời gian hợp lý mà không ấn định số ngày. Theo nhận định chuyên môn, Tòa án xem xét hiện trạng đất, loại tài sản trên đất và thời gian cần để di dời; khoảng 15 đến 60 ngày thường là mức dễ được chấp nhận.
Trường hợp ngoại lệ là đất đang có hoa màu, cây trồng theo mùa vụ hoặc vật nuôi, khi đó thời hạn hợp lý có thể kéo dài đến hết vụ thu hoạch. Lời khuyên là nên chủ động nêu mốc thu hoạch cụ thể trong thông báo, vì cách này thể hiện thiện chí và khiến bên mượn khó viện cớ chưa có thời gian di dời.
Bước 2: hòa giải tại cấp xã nơi có đất
Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là bước pháp luật đất đai yêu cầu trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, với thời hạn 30 ngày. Biên bản hòa giải vừa là điều kiện thụ lý trong nhiều vụ án, vừa là chứng cứ cho thấy bên mượn từ chối trả.
Hòa giải có bắt buộc khi đòi đất cho mượn không
Khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Điều 236, các bên phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập Hội đồng hòa giải và việc hòa giải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày.
Theo thực tiễn áp dụng, Tòa án thường yêu cầu biên bản hòa giải đối với tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất. Vụ việc đòi đất cho mượn thường rơi vào nhóm này vì bên mượn hay phản biện rằng mình có quyền với thửa đất. Vì vậy, nên thực hiện hòa giải ngay cả khi bên mượn thừa nhận có mượn đất, để tránh bị trả lại đơn.
Trình tự nộp đơn và tham gia hòa giải
Người cho mượn có thể tự nộp đơn hoặc ủy quyền cho người khác tham gia. Quy trình điển hình như sau, chi tiết xem hướng dẫn về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã:
- Chuẩn bị đơn đề nghị hòa giải, nêu rõ thửa đất, quá trình cho mượn và yêu cầu trả lại đất.
- Nộp đơn kèm bản sao giấy tờ về đất, thông báo đòi đất và bằng chứng đã gửi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất.
- Nhận thông báo về thời gian, địa điểm hòa giải và có mặt đúng hẹn.
- Trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và nghe ý kiến của bên mượn.
- Ký biên bản hòa giải. Nếu một bên không ký, Chủ tịch Hội đồng và các thành viên vẫn ký và đóng dấu theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024.
Hòa giải không thành hoặc xã không tổ chức hòa giải
Khi xã chậm hoặc từ chối tổ chức hòa giải, người cho mượn không nên chờ vô thời hạn mà cần lưu bằng chứng đã nộp đơn và văn bản trả lời của xã. Cách xử lý được trình bày trong hướng dẫn về Ủy ban nhân dân cấp xã không hòa giải tranh chấp đất đai. Nếu hòa giải không thành, hãy nhận biên bản hòa giải không thành để chuẩn bị khởi kiện.
Bước 3: khởi kiện đòi lại đất tại tòa án có thẩm quyền
Khi thông báo và hòa giải không có kết quả, khởi kiện là con đường buộc bên mượn trả đất bằng bản án có hiệu lực. Người khởi kiện cần xác định đúng Tòa án, chuẩn bị đơn kèm chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và theo dõi thời hạn giải quyết của vụ án.
Xác định Tòa án có thẩm quyền
Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản thuộc khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, còn tranh chấp đất đai thuộc khoản 9 Điều 26 Bộ luật này. Theo Điều 35 Bộ luật này (đã sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm các tranh chấp trên từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Về thẩm quyền theo lãnh thổ, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Do đó, dù bị đơn cư trú ở nơi khác, đơn vẫn phải nộp tại Tòa án nơi có thửa đất.
Về thẩm quyền theo loại giấy tờ, khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định khi một bên có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ hợp lệ thì tranh chấp do Tòa án giải quyết. Khoản 2 Điều này cho phép các bên chọn nộp đơn đến cơ quan hành chính có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra Tòa án nếu không bên nào có giấy tờ.
Với người cho mượn không có giấy tờ về đất, lời khuyên là cân nhắc kỹ trước khi chọn con đường hành chính. Quyết định của cơ quan hành chính có thể bị khiếu nại hoặc khởi kiện tiếp, làm kéo dài thời gian. Khi chứng cứ về nguồn gốc đất đủ mạnh, khởi kiện thẳng ra Tòa án thường cho kết quả ràng buộc nhanh hơn.
Hồ sơ khởi kiện đòi lại đất
Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính theo khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, gồm thông tin người khởi kiện, người bị kiện, quyền lợi bị xâm phạm, yêu cầu cụ thể và danh mục tài liệu, chứng cứ. Mẫu đơn có thể tham khảo tại hướng dẫn về đơn khởi kiện đòi lại đất. Hồ sơ nên gồm:
- Đơn khởi kiện và bản sao căn cước công dân của người khởi kiện.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp.
- Chứng cứ về việc cho mượn: văn bản, tin nhắn, ghi âm, lời khai người làm chứng.
- Thông báo đòi đất và bằng chứng đã gửi, phản hồi của bên mượn nếu có.
- Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc văn bản chứng minh đã yêu cầu hòa giải.
- Sơ đồ, trích lục thửa đất và hình ảnh hiện trạng.
Khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép người khởi kiện nộp những chứng cứ hiện có và bổ sung theo yêu cầu của Tòa án nếu vì lý do khách quan chưa thể nộp đủ. Đây là điểm có lợi, nhưng không nên lạm dụng vì hồ sơ thiếu chứng cứ dễ khiến vụ án bị kéo dài.
Phần yêu cầu khởi kiện cần ghi rõ ba nội dung: buộc bị đơn trả lại diện tích đất cụ thể, buộc di dời hoặc xử lý tài sản của bị đơn trên đất, và bồi thường nếu có thiệt hại theo khoản 3 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015. Thiếu nội dung thứ hai sẽ gây khó khăn lớn khi thi hành án.
Tạm ứng án phí và thụ lý vụ án
Sau khi nhận đơn, Thẩm phán xem xét và thụ lý theo trình tự sau, căn cứ Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
- Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí, theo khoản 1 Điều 195.
- Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng, ghi vào giấy báo; người khởi kiện nộp tiền và nộp biên lai cho Tòa án trong thời hạn 07 ngày, theo khoản 2 Điều 195.
- Thẩm phán thụ lý vụ án khi nhận được biên lai thu tiền tạm ứng án phí, theo khoản 3 Điều 195.
Về mức tiền, Điều 7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định mức tạm ứng án phí sơ thẩm. Với vụ án không có giá ngạch, mức tạm ứng là 300.000 đồng. Với vụ án có giá ngạch, mức tạm ứng bằng 50% mức án phí sơ thẩm dự tính nhưng không thấp hơn mức của vụ án không có giá ngạch. Chi tiết có trong hướng dẫn về án phí khi khởi kiện tranh chấp đất đai.
Trường hợp ngoại lệ là người thuộc diện miễn án phí, như hộ nghèo, người cao tuổi hoặc người khuyết tật theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Lời khuyên là nên nộp giấy xác nhận thuộc diện miễn ngay khi nộp đơn để không làm chậm thời điểm thụ lý.
Thời hạn chuẩn bị xét xử và nghĩa vụ chứng minh
Theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự thuộc Điều 26 là 04 tháng kể từ ngày thụ lý. Vụ án phức tạp có thể được Chánh án gia hạn tối đa 02 tháng.
Thực tiễn cho thấy vụ án đòi đất thường kéo dài hơn vì phải xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản trên đất. Do khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đặt nghĩa vụ chứng minh lên người có yêu cầu, người cho mượn phải thu thập chứng cứ từ sớm.
Bước 4: yêu cầu thi hành án khi người mượn vẫn không giao đất
Bản án có hiệu lực chưa đồng nghĩa với việc nhận lại đất. Nếu bên mượn không tự nguyện giao, người được thi hành án phải nộp đơn yêu cầu và cơ quan thi hành án dân sự sẽ tổ chức cưỡng chế bằng lực lượng và thủ tục theo luật.
Quy trình yêu cầu thi hành án
Luật Thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 và thay thế Luật Thi hành án dân sự 2008; việc thi hành án phát sinh trước ngày này cần đối chiếu Điều 116 Luật Thi hành án dân sự 2025. Quy trình chung như sau, chi tiết xem thủ tục yêu cầu thi hành bản án dân sự có hiệu lực pháp luật:
- Nhận bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
- Nộp đơn yêu cầu thi hành án kèm bản án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Nhận quyết định thi hành án và thông báo về việc tự nguyện thi hành.
- Nếu bên mượn không tự nguyện, Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế giao đất.
Cưỡng chế giao đất và xử lý tài sản trên đất
Theo khoản 1 Điều 90 Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên giao thửa đất cho người được thi hành án; buổi giao đất phải có đại diện cơ quan quản lý đất đai hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất. Việc đưa người và tài sản ra khỏi nhà, tài sản gắn liền với đất thực hiện theo khoản 1 Điều 89 của Luật này.
Đối với tài sản của người thứ ba trên đất mà bản án chưa xử lý, khoản 3 Điều 90 Luật Thi hành án dân sự 2025 phân biệt hai trường hợp. Tài sản tạo lập sau bản án sơ thẩm bị buộc di dời trong 15 ngày; tài sản tạo lập trước đó thì cơ quan thi hành án đề nghị Tòa án giải thích hoặc xem xét lại bản án.
Vì vậy, bản án cần ghi rõ cách xử lý tài sản trên đất để việc cưỡng chế không phát sinh vướng mắc.
Chứng cứ cần chuẩn bị khi đòi lại đất cho mượn
Người cho mượn có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ, theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Chứng cứ cần chứng minh được ba điều: mình có quyền với thửa đất, hai bên có quan hệ cho mượn, và bên mượn đã được yêu cầu trả nhưng từ chối.
| Nhóm chứng cứ | Chứng minh điều gì | Ví dụ thực tế |
|---|---|---|
| Giấy tờ về đất | Quyền sử dụng đất hợp pháp của người cho mượn | Giấy chứng nhận, giấy tờ mua bán, thừa kế, sổ địa chính |
| Thỏa thuận cho mượn | Có quan hệ cho mượn, mục đích và thời hạn mượn | Giấy mượn đất, tin nhắn, bản ghi âm, lời khai người làm chứng |
| Việc giao đất và quá trình sử dụng | Đất được giao tạm thời, người mượn không phải chủ | Ảnh hiện trạng, xác nhận của tổ dân phố, hóa đơn điện nước đứng tên chủ đất |
| Việc đòi đất và bị từ chối | Bên mượn biết yêu cầu nhưng không trả | Thông báo, phiếu báo phát, biên bản từ chối nhận |
| Kết quả hòa giải | Đã thực hiện thủ tục hòa giải tại cấp xã | Biên bản hòa giải không thành, văn bản trả lời của xã |

Kinh nghiệm thực tế: những lỗi thường gặp khi đòi đất cho mượn
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, phần lớn hồ sơ bị kéo dài không phải vì thiếu căn cứ pháp luật mà vì người cho mượn mắc những sai sót tố tụng có thể tránh được. Dưới đây là những lỗi thường gặp nhất qua các hồ sơ đã tiếp nhận.
Những sai lầm phổ biến ở giai đoạn trước khởi kiện
Sai lầm đầu tiên là chỉ đòi miệng nhiều lần mà không để lại dấu vết. Đến khi ra Tòa, bên mượn có thể phủ nhận mình từng bị yêu cầu trả đất, và người cho mượn không còn gì để chứng minh. Việc gửi một thông báo có phiếu báo phát chỉ tốn vài chục nghìn đồng nhưng thường là chứng cứ then chốt.
Sai lầm thứ hai là tự ý rào chắn, khóa cổng, cắt điện nước hoặc dỡ công trình để ép bên mượn rời đi. Cách làm này dễ đảo ngược vị thế: bên mượn khiếu nại, yêu cầu bồi thường hoặc tố cáo đến cơ quan công an. Mọi biện pháp nên đi qua hòa giải, khởi kiện và thi hành án.
Những sai lầm phổ biến ở giai đoạn khởi kiện và thi hành án
Một lỗi khác là mô tả thửa đất không khớp với hiện trạng, như sai số thửa, số tờ bản đồ hoặc diện tích thực tế sử dụng. Khi bản án tuyên không rõ ranh giới, Chấp hành viên không xác định được phần đất phải giao. Trước khi nộp đơn, nên đo đạc hoặc trích lục để đối chiếu hiện trạng với giấy tờ.
Một sai lầm khác là bỏ sót những người cùng sử dụng đất như vợ, chồng hoặc con của bên mượn, khiến việc thi hành án phát sinh thêm người thứ ba không chịu rời đi.
Câu hỏi thường gặp về đòi lại đất cho mượn khi người mượn không trả
Các câu hỏi dưới đây phản ánh thắc mắc thực tế của người cho mượn đất khi bên mượn không chịu trả. Mỗi câu trả lời nêu kết luận trước, căn cứ pháp lý sau để bạn dễ áp dụng vào trường hợp của mình.
1. Đòi lại đất cho mượn có bị hết thời hiệu khởi kiện không?
Thông thường là không. Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, và khoản 3 Điều này áp dụng tương tự với tranh chấp về quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai. Các yêu cầu khác kèm theo, như bồi thường thiệt hại, cần được xem xét riêng.
2. Cho mượn đất bằng miệng có đòi lại được không?
Có thể đòi lại, nhưng phải chứng minh được việc cho mượn. Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đặt nghĩa vụ chứng minh lên người có yêu cầu. Người cho mượn nên bổ sung chứng cứ gián tiếp như lời khai người làm chứng, tin nhắn, ghi âm và hiện trạng sử dụng đất để chứng minh quan hệ mượn.
3. Bên mượn nói đất đã được tặng cho thì xử lý thế nào?
Bên mượn phải chứng minh có căn cứ pháp lý để chiếm hữu đất. Khoản 2 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ chặn quyền đòi lại khi chủ thể đang chiếm hữu có quyền khác đối với tài sản, và khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu mỗi bên chứng minh điều mình nêu ra. Một giao dịch tặng cho đất thông thường phải có giấy tờ.
4. Có bắt buộc hòa giải ở xã trước khi khởi kiện đòi đất không?
Nên thực hiện. Khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định các bên phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Thực tiễn cho thấy Tòa án thường yêu cầu biên bản hòa giải đối với tranh chấp xác định người có quyền sử dụng đất, nên bỏ qua dễ bị trả lại đơn.
5. Khởi kiện đòi đất nộp đơn ở đâu và phải nộp bao nhiêu tạm ứng án phí?
Nộp tại Tòa án nơi có đất, theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Sau khi nhận giấy báo, người khởi kiện có 07 ngày để nộp tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án theo khoản 2 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Mức tạm ứng phụ thuộc vụ án có giá ngạch hay không theo Điều 7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
6. Thắng kiện mà bên mượn vẫn không giao đất thì làm gì?
Người thắng kiện nộp đơn yêu cầu thi hành án để Chấp hành viên cưỡng chế. Theo khoản 1 Điều 90 Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên giao thửa đất cho người được thi hành án với sự có mặt của đại diện cơ quan quản lý đất đai hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất. Người cho mượn không nên tự mình chiếm lại đất.
Kết luận
Đòi lại đất cho mượn khi người mượn không trả cần một lộ trình có thứ tự: thông báo bằng văn bản, hòa giải tại cấp xã, khởi kiện đúng Tòa án và yêu cầu thi hành án. Luật Long Phan PMT sẵn sàng đánh giá hồ sơ cụ thể của bạn qua hotline 1900636387. Với những vụ việc có tranh chấp về nguồn gốc đất, tài sản trên đất hoặc nhiều người cùng sử dụng, việc có luật sư đồng hành từ giai đoạn thông báo sẽ giúp tránh các sai sót khó sửa về sau. Người đọc quan tâm có thể tìm hiểu thêm về Dịch vụ luật sư hỗ trợ nhà đất của Luật Long Phan PMT để chuẩn bị hồ sơ đúng ngay từ đầu.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Dân sự 2015
- Luật Đất đai 2024
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
- Luật Thi hành án dân sự 2025
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: cho mượn đất bằng miệng, chứng cứ đòi lại đất, chứng minh quan hệ cho mượn, Cưỡng chế giao đất, đòi lại đất cho mượn, đòi lại đất nhiều năm, Hòa giải tranh chấp đất đai, hợp đồng mượn tài sản, Khởi kiện đòi lại đất, người mượn đất không trả, Quyền sử dụng đất, thi hành án giao đất, Thời hiệu khởi kiện đất đai, thông báo đòi lại đất, Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai, Tòa án nơi có đất, tranh chấp đất cho mượn, Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đất nhà bố mẹ em có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1982, khi cho người khác mượn ở tạm , đến khi bố mẹ em đòi lại đất thì bên mượn không trả , đã ra ủy ban xã để giải quyết cũng không được, đến nay bố em đã mất còn mỗi mẹ em thì có đòi lại được nữa không ạ, hay phải làm thế nào ,bên luật sư tư vẫn giúp e , e cam on ạ
Kính chào quý khách, nội dung câu hỏi của quý khách đã được chúng tôi phản hồi qua email. Qúy khách vui lòng xem mail để biết chi tiết. Trân trọng./.
B ơi luật sư tư vấn cho bạn thế nào ạ. Nhà mình cũng y như vậy. Giờ ko biết làm thế nào
Đất của nhà ba mẹ em có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất . Ngày xưa xây nhà có chừa lại 1 phần đất kế bên , người cô họ có qua xin ba em cho ở nhờ . Khi nào em lớn sẽ trả lại , chỉ trao đổi bằng miệng . Đến khi em lớn thì có yêu cầu họ trả lại phần đất nhưng họ lật lọng không chịu trả . Em xin hỏi bên luật sư là em có thể đòi lại được phần đất đó không ? Em cám ơn
Kính chào Quý Khách! Cảm ơn Quý Khách đã liên hệ. Quý Khách vui lòng để ý điện thoại, chuyên viên tư vấn của Chúng tôi sẽ sớm liên hệ tư vấn.
Bố tôi có đứng tên 1 thửa đất, bố tôi ở đó cùng gia đình của người em . Và cùng gia đình người em canh tác thừa đất đó. Năm 2019 bố tôi mất. Tôi và mẹ tôi (có giấy đăng ký kết hôn) đã về và yêu cầu người em trả lại mảnh đất đó, nhưng người em không đồng ý. Tôi có gửi đơn kiện ra tòa án huyện để đòi lại đất . Tòa án đã thụ lý va tiến hành hòa giải, kết quả không thành. Tòa nói các bên về chờ, để tòa chuẩn bị đầy đủ hồ sơ xác minh , nguồn gốc sẽ đưa vụ kiện ra xét cửu sơ thẩm. Đến nay đã gần 7 tháng tôi chưa thấy tòa thông báo nên tôi có gọi hỏi thì tòa bảo tôi đợi tiếp vì hồ sơ xác minh gửi ủy ban xã chưa có, tòa có làm công văn đôn đốc nhắn nhở đến ủy ban nhưng không được kết quả gì. Xin luật sư tư vấn giúp tôi cách giải quyết thế nào.? Tôi có thể khiếu nại địa chính xã hay không? Chân thành cám ơn.
Đất nhà bố mẹ em có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1975, khi cho người khác mượn ở tạm , đến khi bố mẹ em đòi lại đất thì bên mượn không trả , đã ra ủy ban xã để giải quyết cũng không được, đến nay bố em đã mất. hay phải làm thế nào ,bên luật sư tư vẫn giúp e , e cam on ạ
gd e đứng tên quyền sử dụng đất, cô ck e thuoc diện hộ nghèo k có đất ở,con cái không nuôi dưỡng, bên xã có cho 1 căn nhà tình thương nhưng yêu cầu phải có người đứng ra lam giấy thỏa thuận cho ở nhờ trên nền đất thì mới cho 30tr để cất nhà,, thấy vậy cha chồng e có làm giấy thỏa thuận đồng ý cho cất nhà, và ở đậu đến hêt đời, ( nội dung chỉ cho duy nhât 1 minh cô chồng e ở và không được phép cho chồng, con về ở, vì con và ck bà quạy phá, thường xuyên chửi bới gd e, , cô ck e đồng ý và biên bản có xác nhận của trưởng ấp nhung đến nay cô ck e thường xuyên cho ck và con về ở , cụ thể con bà còn đập phá tài sản, chửi bới xúc phạm gđ e, và e có trình báo vụ việc với công an, cô ck e k nhận thấy hành vi sai trái của con minh, k hề xin lỗi gđ e, thấy vậy ba ck e có lời qua tiếng lại và kêu bà dọn di, k cho ở nữa, nhưng bà lại đi làm đơn thưa gđ e.bây giờ gia đình e k muốn cho ở nữa và không chấp nhận hòa giải có dc không, có phải đền bù tài sản không, ( giấy sử dụng đất la hộ gia đinh đứng tên,nhưng biên bản chỉ có ba ck e kí, những người còn lại trong gđ không đòng ý, nhờ luật sư hướng dẫn giúp ạ
Bố mẹ em mua lại miếng đất hơn 500 mét vuông, cho bà dì xây nhà ở bên cạnh từ năm 1998. Đã làm lại sổ đỏ từ 2017 mang tên bố mẹ em. Nay bà dì đã bỏ đi chỗ khác xây nhà mới được 2, 3 năm rồi nên bố mẹ em muốn đòi lại đất và phá bỏ nhà cũ để làm con đường thì làm thế nào. Mong nhận được tư vấn từ luật sư.
Đất cho ở nhờ trên 15 năm , người ở nhờ chưa đăng ký quyền sở hữu, chủ đất có sổ đỏ. Xin hỏi có lấy lại được đất đã cho ở nhờ hay không?
Chào Luật sư: Luật sư cho tôi hỏi ạ! Nhà tôi có đất cho người ta mượn làm nhưng chưa có sổ đỏ nay muốn lấy lại đất thì họ đã làm sổ đỏ tên của họ. Vậy phải làm sao để lấy lại được ạ?