Công ty đổi người đại diện có phải trả nợ hợp đồng là vấn đề nhiều doanh nghiệp quan tâm khi thay đổi người đại diện theo pháp luật. Nhiều người lầm tưởng rằng khi thay người đại diện theo pháp luật hoặc thay thành viên góp vốn, nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng đã ký trước đó cũng thay đổi theo, kéo theo việc khởi kiện nhầm chủ thể hoặc bỏ lỡ thời hiệu khởi kiện. Bài viết dưới đây của Luật Long Phan PMT sẽ phân tích rõ trách nhiệm trả nợ trong từng tình huống thay đổi nhân sự, thành viên của công ty theo quy định pháp luật hiện hành nhằm hạn chế các tranh chấp doanh nghiệp sau này.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Công ty đổi người đại diện theo pháp luật không làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ cá nhân đối với người đại diện cũ, vì pháp nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình.
- Người đại diện mới không đương nhiên gánh nợ cá nhân từ hợp đồng do người tiền nhiệm ký, trừ trường hợp có sai phạm riêng thuộc trách nhiệm cá nhân.
- Thành viên đã chuyển nhượng phần vốn góp vẫn còn quyền và nghĩa vụ với công ty cho đến khi thông tin thành viên mới được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên.
- Thủ tục đăng ký thay đổi tại Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ mang tính hành chính, không làm mất hiệu lực ràng buộc của hợp đồng đã ký nhân danh công ty.
Công ty đổi người đại diện theo pháp luật — trách nhiệm trả nợ hợp đồng cũ thuộc về ai?
Về nguyên tắc, công ty vẫn là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, dù người đại diện theo pháp luật đã thay đổi. Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật không làm thay đổi tư cách pháp lý của công ty và cũng không đương nhiên làm chấm dứt, chuyển giao hoặc thay đổi các nghĩa vụ mà công ty đã xác lập trước đó.
Người đại diện cũ có phải tự trả nợ bằng tài sản cá nhân không?
Về nguyên tắc, không. Nếu hợp đồng được xác lập đúng thẩm quyền, người ký hợp đồng nhân danh công ty và giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ cho công ty thì người đại diện cũ không phải dùng tài sản cá nhân để thực hiện khoản nợ đó.
Theo khoản 2 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình và không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân. Ngược lại, khoản 3 Điều 87 quy định người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Vì vậy, nếu người đại diện cũ ký hợp đồng đúng thẩm quyền và nhân danh công ty thì chủ thể có nghĩa vụ trả nợ vẫn là công ty, không phải cá nhân người đại diện.
Trong tranh chấp đòi nợ, chủ nợ thông thường phải xác định công ty là bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Người đại diện cũ chỉ có thể bị xem xét trách nhiệm riêng nếu có căn cứ cho thấy người này đã xác lập giao dịch không có quyền đại diện, vượt quá phạm vi đại diện hoặc có hành vi vi phạm pháp luật làm phát sinh trách nhiệm cá nhân.
Người đại diện mới có phải kế thừa nghĩa vụ hợp đồng do người tiền nhiệm ký không?
Người đại diện mới chỉ tiếp nhận vị trí đại diện cho công ty và thực hiện quyền, nghĩa vụ của công ty trong các quan hệ pháp luật đang tồn tại.
Theo khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025), người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp; đồng thời đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn trước Trọng tài, Tòa án.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015 xác định pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.
Do đó, khi công ty thay đổi người đại diện theo pháp luật, nghĩa vụ trả nợ không chuyển từ công ty sang người đại diện mới. Công ty vẫn là bên có nghĩa vụ theo hợp đồng, còn người đại diện mới thực hiện việc đại diện cho công ty trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, thương lượng, giải quyết tranh chấp hoặc tham gia tố tụng nếu phát sinh.
Trường hợp người đại diện phải chịu trách nhiệm cá nhân
NViệc người đại diện ký hợp đồng nhân danh công ty không đồng nghĩa với việc trong mọi trường hợp người này đều được miễn trách nhiệm cá nhân. Trách nhiệm riêng có thể phát sinh nếu người đại diện không có quyền đại diện, vượt quá phạm vi đại diện hoặc có hành vi vi phạm pháp luật làm phát sinh trách nhiệm cá nhân theo quy định.
Theo Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một số trường hợp như người được đại diện công nhận giao dịch hoặc biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý. Đối với giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ các trường hợp luật định.
Trong trường hợp giao dịch không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với công ty và đáp ứng điều kiện phát sinh trách nhiệm theo Điều 142 hoặc Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015, người không có quyền đại diện hoặc người đại diện vượt quá phạm vi đại diện có thể phải chịu trách nhiệm đối với bên đã giao dịch với mình.
Ngoài ra, theo Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025), người đại diện theo pháp luật phải thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; không được lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp để tư lợi. Trường hợp vi phạm và gây thiệt hại cho doanh nghiệp thì phải chịu trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: trách nhiệm cá nhân của người đại diện không đương nhiên biến khoản nợ hợp đồng của công ty thành khoản nợ cá nhân của người đại diện. Nếu hợp đồng được công ty xác lập hợp pháp và công ty là chủ thể có nghĩa vụ thì khoản nợ vẫn do công ty thực hiện.
Vì vậy, khi xem xét trách nhiệm trả nợ sau khi công ty thay đổi người đại diện theo pháp luật, cần kiểm tra hợp đồng, điều lệ công ty, quyết định hoặc nghị quyết liên quan, văn bản ủy quyền và các tài liệu xác định thẩm quyền của người ký tại thời điểm giao kết. Đây là cơ sở để xác định khoản nợ thuộc trách nhiệm của công ty hay có căn cứ phát sinh trách nhiệm riêng của người đại diện.
>>> Xem thêm: Chủ công ty và đại diện pháp luật chết khởi kiện đòi nợ thế nào?

Công ty đổi thành viên góp vốn (chuyển nhượng phần vốn góp) — ai chịu trách nhiệm khoản nợ hợp đồng?
Khi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thay đổi thành viên do chuyển nhượng phần vốn góp, nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vẫn thuộc về công ty với tư cách pháp nhân. Việc thay đổi thành viên không làm chấm dứt hoặc chuyển khoản nợ của công ty sang thành viên cũ hay thành viên mới.
Về nguyên tắc, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp, trừ các trường hợp pháp luật quy định khác.
Thành viên cũ chuyển nhượng vốn góp có còn phải trả nợ hợp đồng của công ty không?
Về nguyên tắc, thành viên đã chuyển nhượng phần vốn góp không phải dùng tài sản cá nhân để trả khoản nợ hợp đồng của công ty. Khoản nợ vẫn là nghĩa vụ của công ty, không phụ thuộc vào việc người sở hữu phần vốn góp tại công ty đã thay đổi.
Theo khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025), thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này.
Đối với việc chuyển nhượng phần vốn góp, khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025) quy định người chuyển nhượng vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. Sau thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với phần vốn góp được chuyển sang người nhận chuyển nhượng theo quy định pháp luật.
Điều này cần được phân biệt với nghĩa vụ trả nợ của công ty. Việc người chuyển nhượng vẫn còn quyền, nghĩa vụ với tư cách thành viên trong giai đoạn chưa hoàn tất việc ghi nhận người mua vào sổ đăng ký thành viên không đồng nghĩa với việc người đó phải dùng tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ của công ty.
Thành viên mới nhận chuyển nhượng có phải gánh khoản nợ phát sinh trước khi tham gia không?
Không phải dùng tài sản cá nhân để trả khoản nợ của công ty chỉ vì nhận chuyển nhượng phần vốn góp. Khi nhận chuyển nhượng, thành viên mới trở thành thành viên của công ty và hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp được chuyển nhượng. Tuy nhiên, công ty vẫn là chủ thể chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ hợp đồng đã phát sinh trước đó.
Theo khoản 1, khoản 2 Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc tham gia công ty của thành viên mới không làm phát sinh trách nhiệm trả nợ cá nhân, kể cả với các khoản nợ phát sinh trước thời điểm nhận chuyển nhượng phần vốn góp. Tài sản của công ty vẫn độc lập với tài sản của từng thành viên trong suốt quá trình hoạt động.
Nguyên tắc này xuất phát từ việc công ty có tư cách pháp nhân và tài sản của công ty độc lập với tài sản của thành viên. Thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Do đó, nếu một khoản nợ đã phát sinh trước thời điểm chuyển nhượng phần vốn góp thì không vì việc thay đổi thành viên mà khoản nợ đó trở thành nghĩa vụ tài sản cá nhân của người nhận chuyển nhượng.
Tuy nhiên, người nhận chuyển nhượng cần lưu ý rằng khi mua phần vốn góp, họ tiếp nhận quyền và lợi ích kinh tế gắn với phần vốn góp, đồng thời trở thành thành viên của một công ty đang có các nghĩa vụ tài chính tồn tại. Vì vậy, việc thẩm định tình trạng công nợ, hợp đồng, nghĩa vụ thuế và tranh chấp của công ty trước khi nhận chuyển nhượng có ý nghĩa quan trọng để đánh giá giá trị thực tế của phần vốn góp.
Trường hợp ngoại lệ — thành viên chưa góp đủ vốn cam kết
Nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn không được áp dụng theo hướng tuyệt đối đối với thành viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết.
Theo khoản 4 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025), trường hợp thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn luật định. Đồng thời, thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ.
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi đánh giá khả năng thu hồi nợ. Nếu tại thời điểm khoản nợ phát sinh, một thành viên chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp vốn thì trách nhiệm của thành viên đó có thể được xác định theo quy định đặc biệt nêu trên, thay vì chỉ căn cứ vào số vốn thực tế đã góp.
Thủ tục thay đổi đăng ký người đại diện, thành viên có ảnh hưởng đến hiệu lực hợp đồng đã ký không?
Về nguyên tắc, việc thay đổi người đại diện theo pháp luật hoặc thay đổi thành viên không làm mất hiệu lực của hợp đồng mà công ty đã ký trước đó. Thủ tục đăng ký thay đổi tại Cơ quan đăng ký kinh doanh chủ yếu nhằm cập nhật thông tin pháp lý của doanh nghiệp và không làm thay đổi tư cách pháp nhân của công ty.
Trường hợp hợp đồng được xác lập hợp pháp, đúng thẩm quyền và người ký nhân danh công ty thì quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thuộc về công ty. Việc sau đó thay đổi người đại diện theo pháp luật hoặc thay đổi thành viên không làm chấm dứt các quyền, nghĩa vụ này.
Đối với thay đổi người đại diện theo pháp luật, doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi theo Điều 43 Nghị định 168/2025/NĐ-CP. Đối với thay đổi thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, thủ tục đăng ký thay đổi được thực hiện theo Điều 45 Nghị định này. Việc cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc công ty trở thành một chủ thể mới trong các quan hệ hợp đồng đã được xác lập trước đó.
Tuy nhiên, cần phân biệt thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp với thay đổi chủ thể hợp đồng. Nếu các bên có thỏa thuận chuyển giao hợp đồng, thay đổi chủ thể có nghĩa vụ hoặc việc thay đổi làm phát sinh một giao dịch pháp lý mới thì phải xem xét các điều kiện có liên quan theo Bộ luật Dân sự và nội dung cụ thể của hợp đồng.
Phân biệt trách nhiệm trả nợ theo từng tình huống thay đổi
Việc công ty thay đổi người đại diện theo pháp luật, chuyển nhượng phần vốn góp hoặc thay đổi thành viên không đồng nghĩa các khoản nợ đã phát sinh trước đó được chuyển sang cho cá nhân mới hoặc tự động chấm dứt. Chủ thể chịu trách nhiệm cần được xác định dựa trên tư cách pháp lý của công ty, việc giao dịch có được xác lập nhân danh công ty hay không, thẩm quyền đại diện của người ký và tình trạng thực hiện nghĩa vụ góp vốn của thành viên.
Đặc biệt, cần phân biệt nghĩa vụ của công ty đối với chủ nợ với trách nhiệm cá nhân của người đại diện hoặc thành viên đối với công ty hoặc bên thứ ba.
| Tình huống | Chủ thể chịu trách nhiệm và phạm vi trách nhiệm | Căn cứ pháp lý |
| Công ty thay đổi người đại diện theo pháp luật | Về nguyên tắc, công ty vẫn là chủ thể chịu trách nhiệm đối với khoản nợ do giao dịch được xác lập hợp pháp nhân danh công ty. Việc thay người đại diện không làm thay đổi tư cách pháp nhân hoặc tự động chuyển nghĩa vụ của công ty sang người đại diện cũ hay mới. Pháp nhân thực hiện trách nhiệm bằng tài sản của mình; cá nhân của pháp nhân không phải dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ của pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác. | Khoản 1, 2, 3 Điều 87 BLDS 2015; khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025). |
| Người ký giao dịch không có quyền đại diện | Giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập về nguyên tắc không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với công ty, trừ các trường hợp pháp nhân công nhận giao dịch; biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý; hoặc có lỗi làm bên giao dịch không biết người ký không có quyền đại diện. Người không có quyền đại diện có thể phải thực hiện nghĩa vụ với bên đã giao dịch trong phạm vi luật quy định. | Điều 142 BLDS 2015. |
| Người đại diện xác lập giao dịch vượt quá phạm vi đại diện | Phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện về nguyên tắc không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với công ty, trừ các trường hợp được công ty đồng ý, công ty biết mà không phản đối hoặc công ty có lỗi khiến bên thứ ba không biết việc vượt quá phạm vi đại diện. Người đại diện có thể phải thực hiện nghĩa vụ đối với phần vượt quá phạm vi đại diện theo Điều 143 BLDS. | Điều 143 BLDS 2015. |
| Người đại diện vi phạm nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành gây thiệt hại cho công ty | Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại của công ty phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ của mình. Đây chủ yếu là quan hệ trách nhiệm giữa người đại diện và doanh nghiệp, không có nghĩa mọi khoản nợ của công ty đều được chuyển sang người đại diện để chủ nợ trực tiếp yêu cầu thanh toán. | Khoản 1, khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025). |
| Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên đã góp đủ vốn và chuyển nhượng phần vốn góp | Công ty tiếp tục chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty đối với nghĩa vụ của mình. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp, trừ trường hợp Luật Doanh nghiệp có quy định khác. Việc chuyển nhượng phần vốn góp không mặc nhiên làm cho người chuyển nhượng phải dùng toàn bộ tài sản cá nhân trả nợ của công ty. | Khoản 1 Điều 46; Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025) |
| Thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết | Thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ vốn phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên theo quy định. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào số tiền thực tế đã góp để xác định giới hạn trách nhiệm trong giai đoạn này. | Khoản 4 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025). |
| Thành viên rút vốn khỏi công ty trái quy định | Thành viên không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ các trường hợp luật cho phép. Trường hợp hoàn trả một phần hoặc toàn bộ vốn góp trái quy định thì thành viên và người có liên quan có thể phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi luật định. | Điều 50 và các quy định có liên quan của Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025). |
Rủi ro và sai lầm thường gặp khi xử lý công nợ sau khi công ty đổi chủ
Sai lầm phổ biến nhất khi xử lý công nợ sau khi công ty thay đổi người đại diện hoặc thành viên là xác định sai bị đơn, bỏ sót thẩm quyền đại diện tại thời điểm ký kết, và thiếu thỏa thuận rõ ràng về chuyển giao nghĩa vụ nợ trong hợp đồng chuyển nhượng vốn góp.
Khởi kiện nhầm bị đơn — kiện cá nhân thay vì kiện công ty
Một số chủ nợ có thể nhầm lẫn giữa người đang đại diện cho công ty và người trực tiếp chịu trách nhiệm về khoản nợ, từ đó khởi kiện cá nhân người đại diện cũ hoặc người đại diện mới thay vì công ty.
Nếu khoản nợ phát sinh từ hợp đồng được công ty xác lập hợp pháp và người ký giao dịch nhân danh công ty trong phạm vi đại diện thì công ty mới là chủ thể có nghĩa vụ thanh toán. Người đại diện theo pháp luật hiện tại đại diện cho công ty trong quan hệ tố tụng, nhưng không vì giữ chức danh này mà trở thành người có nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản cá nhân.
Việc xác định sai bị đơn có thể khiến hồ sơ khởi kiện phải được sửa đổi, bổ sung hoặc Tòa án phải xác định lại tư cách tham gia tố tụng của các bên. Vì vậy, trước khi khởi kiện, chủ nợ cần xác định chính xác ai là chủ thể xác lập hợp đồng, ai là bên có nghĩa vụ và có hay không căn cứ phát sinh trách nhiệm riêng của cá nhân.
Không kiểm tra thẩm quyền đại diện tại thời điểm ký hợp đồng
Không nên chỉ căn cứ vào việc một cá nhân được ghi nhận là người đại diện theo pháp luật tại thời điểm hiện tại để đánh giá hiệu lực của hợp đồng đã ký trước đó.
Cần kiểm tra tình trạng pháp lý của doanh nghiệp và thẩm quyền của người ký tại đúng thời điểm giao kết hợp đồng. Các tài liệu cần rà soát có thể gồm Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Điều lệ công ty, quyết định hoặc nghị quyết bổ nhiệm, văn bản ủy quyền và các tài liệu liên quan đến việc phân công thẩm quyền.
Việc bỏ qua bước này có thể dẫn đến đánh giá sai về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng đối với công ty, đặc biệt khi phát sinh tranh chấp về việc người ký không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện.
>>> Xem thêm: Người giao kết hợp đồng không có thẩm quyền ký thì xử lý thế nào?
Bỏ sót thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ nợ trong hợp đồng chuyển nhượng vốn góp
Khi soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, các bên thường tập trung vào giá chuyển nhượng, phương thức thanh toán và thời điểm bàn giao mà bỏ sót việc xác định các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính và tranh chấp đã phát sinh trước thời điểm chuyển nhượng.
Các bên nên lập danh sách và xác định rõ trách nhiệm đối với những khoản nợ đã biết, khoản nợ tiềm ẩn, nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ với người lao động và các tranh chấp đang tồn tại. Đồng thời, nên quy định rõ cơ chế xử lý nếu sau khi hoàn tất chuyển nhượng xuất hiện khoản nợ hoặc nghĩa vụ phát sinh từ giai đoạn trước chuyển nhượng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thỏa thuận phân chia trách nhiệm giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng chủ yếu có giá trị trong quan hệ giữa các bên. Thỏa thuận này không tự động làm thay đổi chủ thể có nghĩa vụ đối với chủ nợ bên ngoài công ty. Nếu công ty là bên ký hợp đồng và là chủ thể có nghĩa vụ thì chủ nợ vẫn có quyền yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
Do đó, việc quy định rõ trách nhiệm xử lý công nợ trong hợp đồng chuyển nhượng vốn góp có ý nghĩa quan trọng trong việc phân bổ rủi ro và xác định quyền yêu cầu hoàn trả, bồi hoàn giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, nhưng không nên hiểu rằng điều khoản này có thể làm cho khoản nợ của công ty tự động chuyển sang cá nhân bên chuyển nhượng hoặc bên nhận chuyển nhượng.
>>> Xem thêm: Case study: tranh chấp phần vốn góp khi thay đổi chủ sở hữu công ty

Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp nghĩa vụ trả nợ của công ty
Luật Long Phan PMT hỗ trợ doanh nghiệp và chủ nợ trong các vụ việc liên quan đến trách nhiệm trả nợ khi công ty thay đổi người đại diện, thay đổi thành viên góp vốn với các công việc sau:
- Rà soát Điều lệ công ty, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và lịch sử thay đổi người đại diện, thành viên để xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm trả nợ.
- Đánh giá thẩm quyền đại diện tại thời điểm ký hợp đồng, xác định hợp đồng có ràng buộc công ty hay chỉ ràng buộc cá nhân người ký.
- Tư vấn phương án khởi kiện đòi nợ đúng bị đơn, chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ chứng minh nghĩa vụ trả nợ thuộc về công ty.
- Soạn thảo, rà soát điều khoản chuyển giao nghĩa vụ nợ trong hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp để hạn chế tranh chấp phát sinh sau này.
- Đại diện khách hàng làm việc với công ty, tham gia tố tụng tại Tòa án hoặc Trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp công nợ.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về giải đáp: công ty đổi người đại diện có phải trả nợ hợp đồng
Dưới đây là một số câu hỏi thực tế thường gặp khi công ty đổi người đại diện có phải trả nợ hợp đồng không, dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025).
1. Công ty đổi người đại diện có phải trả nợ hợp đồng do người đại diện cũ ký không?
Có. Theo khoản 1 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. Vì vậy, nếu hợp đồng được người đại diện cũ ký đúng thẩm quyền và nhân danh công ty, nghĩa vụ trả nợ vẫn thuộc về công ty dù người đại diện theo pháp luật sau đó đã thay đổi.
2. Người đại diện theo pháp luật cũ có phải dùng tài sản cá nhân để trả nợ cho công ty không?
Về nguyên tắc là không. Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với nghĩa vụ do pháp nhân xác lập; người của pháp nhân không phải chịu trách nhiệm thay cho pháp nhân, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, trách nhiệm cá nhân có thể được xem xét nếu người đại diện không có quyền đại diện, xác lập giao dịch vượt quá phạm vi đại diện hoặc thuộc trường hợp pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm riêng.
3. Thành viên đã chuyển nhượng phần vốn góp còn phải chịu trách nhiệm gì với công ty không?
Có, thành viên chuyển nhượng vẫn còn quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp đã chuyển nhượng cho đến khi thông tin thành viên mới được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên, theo khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025).
4. Chủ nợ có thể khởi kiện cá nhân người đại diện theo pháp luật để đòi nợ công ty không?
Về nguyên tắc là không, vì nghĩa vụ trả nợ thuộc về công ty với tư cách pháp nhân độc lập theo khoản 2 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015. Chủ nợ chỉ có thể khởi kiện cá nhân người đại diện nếu chứng minh được người đó ký kết vượt quá phạm vi đại diện theo Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015, hoặc vi phạm nghĩa vụ theo Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025) gây thiệt hại trực tiếp.
5. Thủ tục đăng ký thay đổi người đại diện tại Cơ quan đăng ký kinh doanh mất bao lâu?
Theo Điều 43 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật tại Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới; nếu hồ sơ chưa hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo bằng văn bản yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung hồ sơ.
6. Thành viên chưa góp đủ vốn cam kết có phải chịu trách nhiệm nhiều hơn thành viên đã góp đủ vốn không?
Có. Theo khoản 4 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025), thành viên chưa góp đủ vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trước khi công ty đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, không chỉ giới hạn ở phần vốn đã thực góp.
Kết luận
Công ty đổi người đại diện có phải trả nợ hợp đồng không phụ thuộc vào việc hợp đồng có được xác lập đúng thẩm quyền và nhân danh công ty hay không, chứ không phụ thuộc vào việc ai đang giữ chức danh người đại diện theo pháp luật tại thời điểm tranh chấp. Nguyên tắc chung là công ty với tư cách pháp nhân luôn là chủ thể chịu trách nhiệm trả nợ, còn cá nhân người đại diện hoặc thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm riêng trong các trường hợp ngoại lệ có căn cứ rõ ràng theo luật định. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp và chủ nợ rà soát hồ sơ, xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm và tư vấn phương án xử lý công nợ phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Dân sự 2015
- Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025)
- Nghị định 168/2025/NĐ-CP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Chuyển nhượng phần vốn góp, công ty đổi người đại diện, đòi nợ doanh nghiệp, hợp đồng của công ty, nghĩa vụ tài chính doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, thẩm quyền đại diện, thay đổi người đại diện, trách nhiệm người đại diện, trách nhiệm thành viên công ty, trách nhiệm trả nợ công ty

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.