Case Study: Áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản bị hủy án

Áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản khiến yêu cầu đòi tiền hợp pháp bị Tòa án đình chỉ oan ngay từ cấp sơ thẩm. Luật Long Phan PMT phân tích Bản án phúc thẩm số 709/2026/DS-PT ngày 06/8/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long: cấp sơ thẩm nhầm mốc thời hiệu, đình chỉ luôn yêu cầu đòi 65 triệu đồng của nguyên đơn, khiến bản án bị Viện kiểm sát kháng nghị và cấp phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ trong vụ tranh chấp dân sự này.

Áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản bị hủy án trong tranh chấp 65 triệu đồng.
Bản án 709/2026/DS-PT hủy án sơ thẩm do áp dụng sai thời hiệu đối với yêu cầu đòi lại tài sản.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Tòa án không được áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, đòi lại tài sản theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, dù đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không.
  • Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, nhưng thời hiệu này không đương nhiên phủ luôn phần yêu cầu đòi lại khoản tiền cụ thể mà một bên đã giao cho bên kia.
  • Khi một bên trong giao dịch đã chết, nghĩa vụ trả tiền không đương nhiên chấm dứt mà chuyển cho người thừa kế thực hiện trong phạm vi di sản để lại, theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015.
  • Bản án sơ thẩm áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản đã bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long kháng nghị và bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tuyên hủy toàn bộ để xét xử lại từ đầu.

Nội Dung Bài Viết

Bối cảnh vụ án: Khoản tiền 65 triệu đồng và thỏa thuận cùng canh tác vườn nhãn thuê

Tranh chấp phát sinh từ khoản tiền 65 triệu đồng được giao giữa các bên, nhưng cách xác định đây là tiền vay hay tiền góp vốn hợp tác canh tác lại hoàn toàn khác nhau. Diễn biến vụ án cho thấy chính sự khác biệt này đã dẫn đến tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả và cách áp dụng thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản.

Diễn biến từ thỏa thuận dân sự đến tranh chấp đòi lại tài sản

Ngày 11/6/2019, do có quan hệ quen biết, vợ chồng ông Lâm Hiếu T và bà Trần Thị S cho ông Lê Hoàng D và bà Nguyễn Thị P vay số tiền 65.000.000 đồng để làm ăn kinh tế. Thay vì trả lãi cho bên cho vay, ông D và bà P đề nghị cho ông T, bà S cùng canh tác trên diện tích 4.000m² vườn nhãn mà vợ chồng ông D, bà P đang thuê của bà Lê Thị Hồng N, chia đôi lợi nhuận thu hoạch. Để ghi nhận thỏa thuận này, các bên có lập văn bản “hợp đồng thuê huê lợi nhãn xuồng”, tuy nhiên chỉ một mình ông D ký tên dù bà P có mặt khi lập văn bản.

Theo thỏa thuận, sau 01 năm – tức đến ngày 09/5/2020 âm lịch – ông D, bà P phải hoàn trả 65 triệu đồng; nếu đến hạn mà chưa trả được thì được gia hạn thêm 01 năm, tức đến ngày 18/6/2021 dương lịch (09/5/2021 âm lịch). Ông D chết ngày 05/4/2020, trước thời điểm đến hạn lần đầu. Đến ngày 09/5/2020 âm lịch, do vợ chồng ông D, bà P chưa có khả năng hoàn trả nên hai bên tiếp tục thực hiện việc canh tác, chia lợi nhuận thêm 01 năm theo thỏa thuận ban đầu. Đến ngày 18/6/2021 (09/5/2021 âm lịch), bà P lấy lại toàn bộ vườn nhãn để tự canh tác, không hoàn trả số tiền 65 triệu đồng cho ông T, bà S. Đến ngày 12/9/2024, ông T và bà S mới nộp đơn khởi kiện, sau đó có đơn sửa chữa, bổ sung khởi kiện ngày 26/11/2024.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà P cùng những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông D (gồm bà Nguyễn Thị B – mẹ ông D, và các con ông D là Lê Xuân M, Lê Vũ Trường G1, Lê Thị Cẩm T1) liên đới trả 65.000.000 đồng tiền vay, cộng lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 18/6/2021 đến khi xét xử. Tạm tính đến ngày 14/4/2026 (57 tháng 27 ngày), tiền lãi là 31.237.050 đồng; tổng vốn và lãi là 96.237.050 đồng.

Về phía bị đơn, bà P không thừa nhận đây là khoản tiền vay mà cho rằng đó là tiền hùn vốn tham gia hợp tác canh tác, đã được sử dụng hết trong quá trình hợp tác (chi phí phân bón, thuốc, công chăm sóc, tiền trả chủ vườn) và đã được chia lợi nhuận đầy đủ trong hai năm 2020–2021. Bà P có đơn phản tố yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Riêng về phần thừa kế, ông D chết không để lại di chúc và không có tài sản riêng; tài sản chung duy nhất của hộ ông D là quyền sử dụng đất các thửa 644, 645 đang thế chấp tại một ngân hàng thương mại cổ phần, chưa được phân chia và chưa ai nhận thừa kế. Bà B (mẹ ông D) cùng các con là Lê Xuân M, Lê Vũ Trường G1, Lê Thị Cẩm T1 đều trình bày không nhận di sản nào của ông D và không biết về khoản tiền 65 triệu đồng, nên không đồng ý liên đới trả nợ.

Bản án sơ thẩm chấp nhận phản tố, đình chỉ toàn bộ yêu cầu vì thời hiệu khởi kiện

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2026/DSST ngày 14/4/2026, căn cứ Điều 429, Điều 504, Điều 505 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 218, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện; đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Hiếu T, bà Trần Thị S đối với bà P và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông D về việc đòi trả 65.000.000 đồng.

Ngày 16/4/2026, nguyên đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn. Ngày 28/4/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long ban hành quyết định kháng nghị, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm theo hướng hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2026/DSST.

Vấn đề pháp lý trung tâm: Thế nào là áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản?

Áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản xảy ra khi Tòa án dùng chung một mốc thời hiệu của quan hệ hợp đồng để bác luôn phần yêu cầu hoàn trả tài sản vốn không bị giới hạn thời hiệu. Tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng hợp tác canh tác vườn nhãn có thời hiệu khởi kiện 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, nhưng phần yêu cầu đòi lại khoản tiền 65 triệu đồng mà hai bên đều thừa nhận là tài sản của nguyên đơn thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, vì đây là yêu cầu thực hiện quyền đòi lại tài sản quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015. Việc cấp sơ thẩm dùng chung một mốc thời hiệu cho cả hai loại yêu cầu chính là điểm bị Tòa án cấp phúc thẩm xác định là áp dụng sai pháp luật.

Tòa án phúc thẩm nhận định và xử lý vụ việc như thế nào?

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 06/8/2026, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; bị đơn vắng mặt, không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu giữ nguyên nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2026/DSST. Sau khi xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát.

Xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng hợp tác đã hết — phần này Tòa sơ thẩm không sai

Bản án phúc thẩm số 709/2026/DS-PT ghi nhận: bản án sơ thẩm xác định giữa hai bên có xác lập hợp đồng hợp tác cùng chăm sóc, đầu tư, khai thác phần đất nhãn 4.000m² là có căn cứ; việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ hợp đồng hợp tác này đã hết cũng có căn cứ. Đây là phần nhận định của cấp sơ thẩm được cấp phúc thẩm giữ nguyên, phù hợp với điều kiện tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 – Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của đương sự trước khi xét xử sơ thẩm, và trong vụ án này bà P đã có đơn phản tố yêu cầu áp dụng thời hiệu đúng thời điểm.

Đình chỉ luôn yêu cầu đòi lại 65 triệu đồng vì thời hiệu — đây là điểm áp dụng sai pháp luật

Đối với phần tiền 65.000.000 đồng mà hai bên đều thừa nhận nguyên đơn đã đưa cho bị đơn và đây là tài sản của nguyên đơn, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định việc cấp sơ thẩm xác định do thời hiệu đã hết nên không xem xét giải quyết “là không đúng trong việc áp dụng pháp luật về quyền đòi lại tài sản”. Bản án phúc thẩm nêu rõ: cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết là không đúng quy định pháp luật về bảo vệ quyền về tài sản theo Điều 165, Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu; quyền đòi lại tài sản là một trong các nội dung của quyền sở hữu được ghi nhận cụ thể tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015. Hướng dẫn nghiệp vụ tại Công văn 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao cũng khẳng định: đối với tranh chấp về quyền sở hữu, đòi lại tài sản, Tòa án không áp dụng thời hiệu, không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không. Như vậy, dù thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản không được tính theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 như đối với tranh chấp hợp đồng, phần yêu cầu đòi lại khoản tiền 65 triệu đồng vẫn phải được Tòa án xem xét giải quyết về nội dung, không thể đình chỉ chỉ vì lý do thời hiệu.

Vì sao cần xác định rõ 65 triệu đồng là tiền cho vay hay là vốn góp hợp tác trước khi giải quyết lại

Bản án phúc thẩm chỉ ra rằng cấp sơ thẩm lẽ ra cần thu thập chứng cứ để xác định số tiền 65.000.000 đồng là tiền vay hay là tiền đưa vào hợp tác làm ăn; nếu là tiền tham gia hợp tác thì trong quá trình hợp tác đã sử dụng vào việc gì, có chứng cứ về lãi, lỗ hay không, để từ đó giải quyết đúng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây chính là lý do khiến Tòa án cấp phúc thẩm xác định vụ án chưa được thu thập chứng cứ đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể tự bổ sung tại phiên tòa, thuộc căn cứ hủy án theo Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Việc xác định đúng bản chất khoản tiền có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hướng giải quyết: nếu là khoản tiền cho vay hoặc khoản tiền mà bên nhận không còn căn cứ pháp luật để giữ lại, đây là đối tượng của quyền đòi lại tài sản, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản; nếu là phần vốn góp đã hòa vào quá trình hợp tác, phát sinh lãi lỗ, việc xử lý phải đặt trong khuôn khổ thanh lý hợp đồng hợp tác theo các quy định liên quan của Bộ luật Dân sự 2015 về tài sản chung của thành viên hợp tác.

Tòa án phúc thẩm hủy án sơ thẩm do áp dụng sai pháp luật về thời hiệu khởi kiện.
Cấp phúc thẩm xác định sai sót trong áp dụng thời hiệu và giao vụ án xét xử lại.

Kết quả: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao xét xử lại từ đầu

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại Bản án 709/2026/DS-PT đã chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long, tuyên hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2026/DSST ngày 14/4/2026, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long để giải quyết lại theo thủ tục chung. Do bản án sơ thẩm bị hủy nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết nội dung kháng cáo của nguyên đơn; về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án; án phí phúc thẩm được hoàn tạm ứng cho nguyên đơn.

Kết quả này đồng nghĩa toàn bộ vụ án – bao gồm cả phần quan hệ hợp đồng hợp tác lẫn phần yêu cầu đòi lại tài sản, cùng vấn đề thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại của ông D – sẽ được Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử lại từ đầu.

Bài học pháp lý: Nhận diện áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản để không mất quyền khởi kiện

Việc xác định đúng bản chất yêu cầu khởi kiện có ý nghĩa trực tiếp đến việc áp dụng thời hiệu. Trong những vụ việc vừa có quan hệ hợp đồng vừa có yêu cầu hoàn trả tài sản, đương sự cần tách bạch từng yêu cầu để tránh bị áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản như trong case study trên.

>>> Xem thêm: Hướng giải quyết khi hết thời hiệu khởi kiện

Khi nào một yêu cầu được xem là “đòi lại tài sản” không bị giới hạn thời hiệu

Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, một yêu cầu được xem là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, đòi lại tài sản khi bản chất của yêu cầu là chủ sở hữu đòi lại tài sản (bao gồm cả tiền) từ người đang chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản đó, theo Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015. Điểm mấu chốt trong vụ án phân tích trên là quyền sở hữu của nguyên đơn đối với khoản tiền 65 triệu đồng không hề bị bị đơn phủ nhận – hai bên chỉ tranh cãi về việc bên nhận tiền có phải hoàn trả hay không, và số tiền đó mang bản chất pháp lý gì. Đây chính là dấu hiệu để nhận diện một yêu cầu đòi lại tài sản không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện, khác với tranh chấp thuần túy về việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Vì sao không nên gộp chung yêu cầu đòi lại tài sản vào yêu cầu tranh chấp hợp đồng khi khởi kiện?

Vụ án nêu trên cho thấy rủi ro thực tế khi một quan hệ dân sự vừa mang tính chất hợp đồng hợp tác, vừa gắn với việc giao nhận một khoản tiền cụ thể, nhưng đơn khởi kiện và quá trình tố tụng không tách bạch rõ hai loại yêu cầu này. Khi Tòa án áp dụng một mốc thời hiệu duy nhất cho toàn bộ vụ việc, phần yêu cầu đòi lại tài sản vốn không bị giới hạn thời hiệu có thể bị đình chỉ oan, buộc đương sự phải trải qua kháng cáo, kháng nghị và một vòng tố tụng mới mới khôi phục lại được quyền lợi của mình.

Người khởi kiện cần chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ gì để bảo vệ quyền đòi lại tài sản?

Từ thực tiễn giải quyết vụ án trên, người khởi kiện trong các tranh chấp có tính chất tương tự nên chuẩn bị:

  • Chứng cứ giao nhận tiền hoặc tài sản một cách độc lập với văn bản hợp đồng hợp tác (giấy biên nhận, sao kê chuyển khoản, lời khai người làm chứng việc giao nhận tiền), tránh tình trạng chỉ có một bên ký văn bản như trong vụ án này.
  • Tài liệu tách bạch rõ khoản tiền/tài sản gốc với phần lợi tức, lợi nhuận phát sinh từ quá trình hợp tác, để không bị Tòa án gộp chung thành một khoản duy nhất khi xét xử.
  • Trình bày rõ trong đơn khởi kiện và bản tự khai: yêu cầu nào là yêu cầu đòi lại tài sản theo Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 (không áp dụng thời hiệu), yêu cầu nào là yêu cầu phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng hợp tác (áp dụng thời hiệu khởi kiện 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015).
  • Khi một bên trong giao dịch đã chết, cần thu thập thông tin về hàng thừa kế, di sản để lại và tình trạng phân chia di sản, làm cơ sở xác định phạm vi nghĩa vụ của từng người thừa kế theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015.
Hồ sơ chứng cứ đòi lại tài sản gồm tài liệu giao nhận và chứng minh quyền sở hữu.
Chuẩn bị đúng chứng cứ giúp làm rõ quyền sở hữu và yêu cầu đòi lại tài sản.

Dịch vụ luật sư tham gia giải quyết tranh chấp tài sản Luật Long Phan PMT

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản với các công việc cụ thể sau:

  • Rà soát toàn bộ hồ sơ, tài liệu và chứng cứ liên quan đến khoản tiền hoặc tài sản đang tranh chấp.
  • Xác định nguồn gốc, quá trình giao nhận và tình trạng pháp lý của tài sản.
  • Phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền: tiền vay, tiền góp vốn, tiền hợp tác, tiền đặt cọc hoặc tài sản được giao cho bên khác quản lý, sử dụng.
  • Phân định rõ yêu cầu tranh chấp hợp đồng với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, đòi lại tài sản.
  • Đánh giá việc áp dụng thời hiệu đối với từng yêu cầu khởi kiện độc lập.
  • Xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu đối với từng quan hệ tranh chấp.
  • Rà soát việc Tòa án có áp dụng thời hiệu theo đúng yêu cầu của đương sự và đúng phạm vi pháp luật hay không.
  • Tư vấn cách tách riêng yêu cầu đòi lại tài sản khỏi yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng trong đơn khởi kiện.
  • Hướng dẫn thu thập chứng cứ chứng minh quyền sở hữu đối với tiền hoặc tài sản.
  • Thu thập chứng cứ giao nhận tiền như giấy biên nhận, chứng từ chuyển khoản, tài liệu giao nhận và lời khai người làm chứng.
  • Đánh giá giá trị chứng minh của hợp đồng, giấy viết tay và các văn bản do các bên lập trong quá trình giao dịch.
  • Rà soát chứng cứ chứng minh bên kia đang chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi từ tài sản.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua email: pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo: 0939846973 để được đánh giá sơ bộ.

>>> Xem thêm: Tư vấn thủ tục đòi lại tài sản nhờ gửi giữ

Các câu hỏi thường gặp về case study: Áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản bị hủy án

Việc xác định đúng bản chất yêu cầu, thời hiệu và trách nhiệm của người thừa kế có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự khi giải quyết tranh chấp. Dưới đây là một số vấn đề thường gặp liên quan đến việc áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản.

1. Áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản là gì và Tòa án có được bác yêu cầu vì lý do này không?

Không. Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, đòi lại tài sản, không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không. Bản án 709/2026/DS-PT là ví dụ cụ thể về việc áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ luôn cả yêu cầu đòi 65 triệu đồng, và đã bị cấp phúc thẩm tuyên hủy án.

2. Khi nào một khoản tiền cho vay được coi là đòi lại tài sản thay vì tranh chấp hợp đồng?

Khi quyền sở hữu của bên giao tiền đối với khoản tiền đó không bị bên kia phủ nhận và yêu cầu chỉ là buộc hoàn trả, đây thuộc phạm vi quyền đòi lại tài sản theo Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện. Trong vụ án trên, chính vì hai bên đều thừa nhận 65 triệu đồng là tiền của nguyên đơn nên Tòa án cấp phúc thẩm xác định đây phải được xem xét theo quyền đòi lại tài sản, dù các bên còn tranh cãi đó là tiền vay hay tiền góp vốn hợp tác.

3. Bản án bị hủy vì áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản thì vụ án được giải quyết lại như thế nào?

Theo khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án được chuyển về đúng Tòa án đã ra bản án bị hủy để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Trong vụ án trên, Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long sẽ phải thu thập đầy đủ chứng cứ về bản chất khoản tiền 65 triệu đồng, xác định rõ hàng thừa kế và phạm vi di sản của ông D, trước khi xác định thời hiệu áp dụng cho từng phần yêu cầu.

4. Người thừa kế của bị đơn đã chết có phải chịu trách nhiệm với khoản tiền tranh chấp không?

Theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015, những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại. Trong vụ án trên, ông D chết không để lại di chúc, tài sản chung của hộ (quyền sử dụng đất đang thế chấp ngân hàng) chưa được phân chia và chưa ai nhận thừa kế, nên phạm vi nghĩa vụ cụ thể của từng người thừa kế đối với khoản tiền 65 triệu đồng vẫn là vấn đề cần được Tòa án cấp sơ thẩm xác định lại khi giải quyết vụ án, dựa trên di sản thực tế để lại.

5. Thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản là bao lâu?

Pháp luật hiện hành không quy định một khoảng thời hiệu cụ thể cho yêu cầu đòi lại tài sản, bởi khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 đã loại trừ hẳn loại yêu cầu này khỏi phạm vi áp dụng thời hiệu khởi kiện. Chủ sở hữu có quyền khởi kiện đòi lại tài sản của mình bất kể thời gian đã trôi qua bao lâu, miễn là chứng minh được quyền sở hữu và việc bên kia đang chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản đó.

6. Khi không đồng ý với việc Tòa án áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản, đương sự cần làm gì?

Đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm trong thời hạn luật định. Nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có căn cứ cho rằng Tòa án áp dụng sai quy định về thời hiệu, đương sự có thể đề nghị Viện kiểm sát xem xét kháng nghị. Trong vụ án trên, chính kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long là căn cứ trực tiếp để Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xem xét lại và tuyên hủy bản án sơ thẩm.

Kết luận

Bản án 709/2026/DS-PT cho thấy áp dụng sai thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản có thể khiến một yêu cầu chính đáng bị đình chỉ oan ngay từ cấp sơ thẩm, dù khoản tiền tranh chấp hoàn toàn có thể được xem xét theo quyền đòi lại tài sản tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015. Phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu tranh chấp hợp đồng và yêu cầu đòi lại tài sản, đồng thời xác định rõ hàng thừa kế khi một bên đã chết, là yếu tố quyết định để bảo vệ quyền lợi đương sự ngay từ vòng tố tụng đầu tiên. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, xác định đúng loại yêu cầu và thời hiệu áp dụng cho từng trường hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể vui lòng liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bản án dân sự phúc thẩm số 709/2026/DS-PT
  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Công văn 02/TANDTC-PC
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Lê Ngọc Tuấn

Luật sư Lê Ngọc Tuấn –là một Luật sư dày dặn kinh nghiệm, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai. Với sự hiểu biết sâu rộng và nhiều năm cống hiến trong ngành, ông đã từng đảm nhiệm vai trò pháp lý quan trọng tại nhiều công ty lớn như: Công ty TNHH Dịch vụ - Tư vấn - Đầu tư - Bất động sản Tiến Phát; Công ty TNHH Đầu tư – Xây dựng Du lịch Đại Cát; Công ty Luật TNHH MTV Hải Châu; Công ty Cổ phần Thẩm định giá và Tư vấn đầu tư Việt – Nhật, ... Và hiện đang là Luật sư Cộng sự tại Công ty Luật TNHH MTV Long Phan PMT. Chuyên môn của Luật sư Lê Ngọc Tuấn tập trung vào các lĩnh vực tư vấn pháp lý, thẩm định giá, đất đai và bất động sản. Với phong cách làm việc chuyên nghiệp và tâm huyết, ông đã hỗ trợ nhiều cá nhân và doanh nghiệp giải quyết các thủ tục pháp lý phức tạp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản. Chính khả năng xử lý tình huống linh hoạt và am hiểu về quy định pháp luật đã giúp ông mang lại sự an tâm và lợi ích tối đa cho khách hàng. Suốt quá trình hành nghề, Luật sư Lê Ngọc Tuấn đã xây dựng được uy tín lớn nhờ vào sự tận tâm và cam kết luôn giữ vững đạo đức nghề nghiệp. Ông hoạt động với triết lý làm việc “Tâm sáng - Lòng Trong - Vững chí,” luôn đặt giá trị công minh và chính trực lên hàng đầu. Đây cũng chính là nền tảng giúp ông định hướng rõ ràng trong mọi vụ việc, không ngừng phấn đấu để mang lại dịch vụ pháp lý minh bạch, chất lượng và tận tâm nhất cho từng khách hàng.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87