Chưa tìm ra người gây thiệt hại, bảo hiểm có bồi thường không?

Chưa tìm ra người gây thiệt hại, bảo hiểm có bồi thường không là câu hỏi Luật Long Phan PMT nhận được rất thường xuyên từ khách hàng bị tai nạn giao thông hoặc bị thiệt hại tài sản mà cơ quan chức năng chưa xác định được ai là người có lỗi. Nhiều người lo ngại rằng nếu chưa có kết luận điều tra, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ viện lý do này để trì hoãn hoặc từ chối chi trả. Trên thực tế, pháp luật về tranh chấp dân sự đã có quy định khá rõ để bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trong tình huống này. Bài viết dưới đây phân tích cụ thể từng loại hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và hướng xử lý khi bị từ chối hoặc trì hoãn bồi thường.

Chưa tìm ra người gây thiệt hại, bảo hiểm có bồi thường không và các căn cứ xử lý quyền lợi bảo hiểm.
Nghĩa vụ bồi thường được xác định theo phạm vi trách nhiệm bảo hiểm và trường hợp loại trừ đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Nghĩa vụ bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, theo điểm đ khoản 2 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), không có quy định nào cho phép hoãn bồi thường chỉ vì chưa xác định được người gây thiệt hại.
  • Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được từ chối bồi thường khi sự kiện không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm đã thoả thuận rõ trong hợp đồng, theo điểm d khoản 1 Điều 20 và Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025).
  • Đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, trường hợp không xác định được xe gây tai nạn vẫn có cơ chế chi hỗ trợ nhân đạo từ Quỹ bảo hiểm xe cơ giới, theo điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 67/2023/NĐ-CP.
  • Sau khi đã bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi hoàn nếu sau đó xác định được người này, theo khoản 1 Điều 54 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), nhưng quyền này không làm phát sinh quyền trì hoãn bồi thường trước đó.

Nội Dung Bài Viết

Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc xử lý khác nhau thế nào khi chưa xác định người gây thiệt hại?

Hai loại hợp đồng bảo hiểm này có cơ chế chi trả hoàn toàn khác nhau: bảo hiểm tài sản trả tiền dựa trên thiệt hại thực tế của chính người mua bảo hiểm, còn bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc gắn liền với việc xác định trách nhiệm của bên gây tai nạn. Việc phân biệt đúng loại hợp đồng đang có sẽ quyết định hướng xử lý khi hồ sơ bị vướng vì chưa rõ người có lỗi.

Theo Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), hợp đồng bảo hiểm được chia thành năm loại gồm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm, trong đó ba loại sau thuộc loại hình bảo hiểm phi nhân thọ. Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là một dạng hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm theo quy định tại Nghị định 67/2023/NĐ-CP.

Bảo hiểm vật chất, bảo hiểm tài sản bồi thường dựa trên thiệt hại của chính người được bảo hiểm

Theo Điều 43 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), đối tượng bảo hiểm tài sản là tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền khác hoặc quyền chiếm hữu, sử dụng hợp pháp của bên mua bảo hiểm. Khi xe hoặc tài sản của khách hàng bị hư hỏng do va chạm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường trên cơ sở giá thị trường của tài sản tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, theo khoản 1 Điều 51 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025). Việc chưa xác định được ai gây ra va chạm không làm thay đổi nghĩa vụ này, vì căn cứ bồi thường nằm ở thiệt hại xảy ra với chính tài sản được bảo hiểm, không phụ thuộc vào lỗi của bên thứ ba.

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc chi trả dựa trên trách nhiệm của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba

Theo Điều 57, Điều 58 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), đối tượng của bảo hiểm trách nhiệm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba, và trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh khi người thứ ba yêu cầu người được bảo hiểm bồi thường do có hành vi gây thiệt hại. Với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo Nghị định 67/2023/NĐ-CP, phạm vi bồi thường gắn với thiệt hại mà xe của người mua bảo hiểm gây ra cho bên thứ ba, theo Điều 5, Điều 7 Nghị định 67/2023/NĐ-CP. Đây là lý do câu hỏi “chưa tìm ra người gây thiệt hại” thường xuất hiện nhiều nhất ở loại hợp đồng này, khi khách hàng là bên bị thiệt hại chứ không phải chủ xe được bảo hiểm.

Bảng so sánh dưới đây tóm tắt sự khác biệt giữa hai loại hợp đồng khi chưa xác định được người gây thiệt hại:

Tiêu chí Bảo hiểm vật chất, tài sản Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc xe cơ giới
Đối tượng bảo hiểm Tài sản của chính người mua bảo hiểm Trách nhiệm dân sự của chủ xe, người lái xe đối với người thứ ba
Ai nhận tiền bồi thường Chủ tài sản, tức người được bảo hiểm Người thứ ba bị thiệt hại
Có phụ thuộc việc xác định người gây thiệt hại không Không, bồi thường dựa trên thiệt hại thực tế của tài sản Có liên quan, vì nghĩa vụ chi trả gắn với trách nhiệm của chủ xe cụ thể
Hướng xử lý khi chưa xác định người gây thiệt hại Doanh nghiệp bảo hiểm của chính khách hàng vẫn bồi thường bình thường Có thể áp dụng cơ chế tạm ứng hoặc Quỹ bảo hiểm xe cơ giới

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều khách hàng nhầm lẫn giữa hai loại hợp đồng này. Một sai lầm phổ biến là chỉ nộp hồ sơ cho một loại hợp đồng rồi chờ kết quả điều tra mới nộp hồ sơ còn lại, khiến thời hạn nộp hồ sơ bị bỏ lỡ đối với hợp đồng chưa nộp.

Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu ai bồi hoàn sau khi đã bồi thường cho khách hàng?

Sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được kế thừa quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi hoàn số tiền đã trả, nhưng đây là quyền phát sinh sau bồi thường chứ không phải điều kiện để trì hoãn bồi thường. Nguyên tắc này giúp khách hàng hiểu rằng việc chưa tìm ra người có lỗi là vấn đề giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên thứ ba, không phải lý do để từ chối quyền lợi của khách hàng.

Nguyên tắc chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn khi xác định được người thứ ba có lỗi

Theo khoản 1 Điều 54 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), sau khi doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường, người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho doanh nghiệp bảo hiểm quyền yêu cầu người thứ ba có hành vi gây thiệt hại bồi hoàn số tiền đã bồi thường. Nếu người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền này, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm.

Chưa xác định được người gây thiệt hại thì quyền thế quyền của bảo hiểm xử lý ra sao

Trường hợp tại thời điểm giải quyết bồi thường vẫn chưa xác định được người thứ ba có lỗi, quyền yêu cầu bồi hoàn quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025) đơn giản là chưa phát sinh trên thực tế, chứ không tạo ra căn cứ pháp lý để hoãn nghĩa vụ bồi thường cho khách hàng. Doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải hoàn tất bồi thường theo hợp đồng, quyền đòi bồi hoàn sẽ được thực hiện sau nếu sau này xác định được người gây thiệt hại.

Nếu hồ sơ rơi vào tình huống này, khách hàng nên chủ động yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm nêu rõ bằng văn bản căn cứ pháp lý cho việc chậm trễ, vì việc chờ xác định người thứ ba không phải là điều kiện luật định cho việc bồi thường giữa doanh nghiệp bảo hiểm với chính khách hàng.

Doanh nghiệp bảo hiểm có được tạm hoãn bồi thường để chờ xác định người gây thiệt hại không?

Pháp luật hiện hành không quy định căn cứ cho phép doanh nghiệp bảo hiểm tạm hoãn bồi thường chỉ vì lý do chưa xác định được người gây thiệt hại; thời hạn bồi thường vẫn được tính theo thỏa thuận hợp đồng hoặc theo thời hạn luật định, và việc chậm trả sẽ phát sinh nghĩa vụ trả lãi.

Thời hạn bồi thường tối đa theo hợp đồng và theo luật

Theo khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng; nếu hợp đồng không thỏa thuận thời hạn thì phải bồi thường trong 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu bồi thường. Riêng đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, Điều 12 khoản 3 Nghị định 67/2023/NĐ-CP còn buộc doanh nghiệp bảo hiểm tạm ứng bồi thường trong vòng 3 ngày làm việc đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, kể cả trong trường hợp chưa xác định được vụ tai nạn có thuộc phạm vi bồi thường hay không.

Việc chậm bồi thường vì chờ điều tra có được coi là hợp lý không?

Theo khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), nếu doanh nghiệp bảo hiểm chậm bồi thường so với thời hạn nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, lãi suất được xác định theo thỏa thuận của các bên theo quy định của Bộ luật Dân sự. Quy định này cho thấy pháp luật không coi việc chờ xác định người gây thiệt hại là căn cứ miễn trừ nghĩa vụ thanh toán đúng hạn, mà chỉ tạo thêm nghĩa vụ trả lãi nếu doanh nghiệp bảo hiểm cố tình kéo dài thời gian giải quyết mà không có căn cứ chính đáng.

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, Luật Long Phan PMT thường gặp trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm viện lý do “đang chờ kết quả điều tra” để trì hoãn bồi thường nhiều tháng, dù hồ sơ đã đủ tài liệu chứng minh thiệt hại. Trong tình huống này, khách hàng có quyền yêu cầu tạm ứng bồi thường theo Điều 12 Nghị định 67/2023/NĐ-CP thay vì chờ đợi không thời hạn.

Tạm hoãn bồi thường bảo hiểm để chờ xác định người gây thiệt hại và thời hạn chi trả theo luật.
Việc chờ kết quả điều tra không làm mất nghĩa vụ giải quyết bồi thường đúng thời hạn và có thể phát sinh trách nhiệm trả lãi.

Hồ sơ yêu cầu bồi thường cần chuẩn bị gì khi chưa xác định được người gây thiệt hại?

Hồ sơ bồi thường vẫn cần đầy đủ các tài liệu chứng minh sự kiện bảo hiểm và thiệt hại thực tế theo quy định chung, cộng thêm các tài liệu của cơ quan công an xác nhận việc chưa xác định được người gây tai nạn để làm căn cứ áp dụng đúng cơ chế bồi thường hoặc hỗ trợ tương ứng.

Nhóm tài liệu chứng minh sự kiện bảo hiểm và mức độ thiệt hại thực tế

Theo Điều 46 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), bên mua bảo hiểm phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm khi biết sự kiện bảo hiểm xảy ra theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng; nếu chậm thông báo, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền giảm trừ số tiền bồi thường tương ứng với thiệt hại phát sinh từ việc chậm thông báo, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Việc xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất được thực hiện thông qua giám định tổn thất theo Điều 53 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025).

Nhóm tài liệu liên quan đến việc chưa xác định được người gây thiệt hại

Đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, Điều 13 khoản 5 Nghị định 67/2023/NĐ-CP quy định hồ sơ bồi thường phải có bản sao tài liệu liên quan của cơ quan Công an trong các vụ tai nạn gây tử vong đối với người thứ ba, hành khách hoặc trường hợp cần xác minh vụ tai nạn có nguyên nhân do lỗi hoàn toàn của người thứ ba, bao gồm thông báo kết quả điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn hoặc thông báo kết luận điều tra giải quyết vụ tai nạn. Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 67/2023/NĐ-CP, tài liệu này thuộc trách nhiệm thu thập của doanh nghiệp bảo hiểm, không phải của khách hàng, nên khách hàng không có nghĩa vụ tự đi xin xác nhận này để nộp cho doanh nghiệp bảo hiểm.

Nếu doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu khách hàng tự cung cấp kết luận điều tra trước khi xem xét bồi thường, đây là dấu hiệu đẩy nghĩa vụ thu thập tài liệu trái phân công trách nhiệm tại Điều 13 Nghị định 67/2023/NĐ-CP, khách hàng nên yêu cầu làm rõ bằng văn bản.

Trường hợp xe gây tai nạn bỏ trốn không xác định được thì bảo hiểm xử lý thế nào?

Đây là tình huống chưa tìm ra người gây thiệt hại phổ biến nhất trên thực tế, và pháp luật đã thiết kế riêng một cơ chế hỗ trợ nhân đạo để bảo vệ nạn nhân ngay cả khi không xác định được xe hoặc người gây tai nạn.

Theo điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 67/2023/NĐ-CP, Quỹ bảo hiểm xe cơ giới thực hiện chi hỗ trợ nhân đạo trong các trường hợp không xác định được xe gây tai nạn, xe không tham gia bảo hiểm hoặc trường hợp thuộc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, với mức hỗ trợ bằng 30% giới hạn trách nhiệm bảo hiểm cho một người trong một vụ tai nạn đối với trường hợp tử vong hoặc thương tật từ 81% trở lên, và 10% giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với trường hợp thương tật từ 31% đến dưới 81%.

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, Luật Long Phan PMT nhận thấy rất ít nạn nhân biết đến cơ chế chi hỗ trợ nhân đạo này, dẫn đến bỏ lỡ quyền lợi khi không truy tìm được xe gây tai nạn. Đây là cơ chế đặc thù chỉ áp dụng cho bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe cơ giới theo Nghị định 67/2023/NĐ-CP, không áp dụng cho các loại bảo hiểm trách nhiệm khác. Khách hàng nên chủ động liên hệ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, cơ quan quản lý Quỹ bảo hiểm xe cơ giới, để được hướng dẫn thủ tục thay vì chỉ chờ doanh nghiệp bảo hiểm thông báo.

>>> Xem thêm: Hướng dẫn yêu cầu bảo hiểm bồi thường khi bị tai nạn giao thông

Xe gây tai nạn bỏ trốn không xác định được và cơ chế hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm xe cơ giới.
Khi không xác định được xe gây tai nạn, nạn nhân có thể thuộc trường hợp được chi hỗ trợ nhân đạo từ Quỹ bảo hiểm xe cơ giới

Bảo hiểm từ chối bồi thường với lý do chưa tìm ra người gây thiệt hại thì phải làm gì?

Khi bị từ chối bồi thường với lý do này, khách hàng nên yêu cầu văn bản giải thích cụ thể căn cứ từ chối, đối chiếu với hợp đồng và quy định pháp luật, sau đó lựa chọn khiếu nại hoặc khởi kiện nếu việc từ chối không có căn cứ.

Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích bằng văn bản lý do từ chối

Theo điểm e khoản 2 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích bằng văn bản lý do từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm. Văn bản này là căn cứ quan trọng để khách hàng đối chiếu xem lý do từ chối có thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm đã thoả thuận rõ trong hợp đồng theo Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025) hay không, hay chỉ là cách diễn giải chủ quan của doanh nghiệp bảo hiểm.

Khiếu nại hoặc khởi kiện khi doanh nghiệp bảo hiểm từ chối bồi thường trái quy định

Theo Điều 32 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm trước hết được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên; trường hợp không thương lượng được thì giải quyết thông qua hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật. Nếu lựa chọn khởi kiện tại Tòa án, khách hàng thực hiện quyền khởi kiện theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Trước khi khởi kiện, nên cân nhắc việc gửi văn bản khiếu nại kèm theo yêu cầu bồi thường cụ thể đến doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời sao lưu toàn bộ hồ sơ, biên bản giám định và văn bản trao đổi để làm chứng cứ nếu vụ việc phải giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài sau này.

Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp bảo hiểm tại Luật Long Phan PMT

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc bị doanh nghiệp bảo hiểm từ chối hoặc trì hoãn bồi thường với các công việc sau:

  • Rà soát hợp đồng bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm và các điều khoản loại trừ trách nhiệm.
  • Xác định sự kiện bảo hiểm có thuộc phạm vi được bồi thường hay không.
  • Đánh giá quyền lợi bảo hiểm, số tiền bồi thường và giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm.
  • Kiểm tra tính hợp pháp của lý do từ chối hoặc trì hoãn bồi thường.
  • Rà soát hồ sơ tai nạn, hồ sơ tổn thất, biên bản giám định và tài liệu chứng minh thiệt hại.
  • Tư vấn thủ tục yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo từng loại hợp đồng.
  • Tư vấn thời hạn giải quyết bồi thường và trách nhiệm trả lãi khi doanh nghiệp bảo hiểm chậm chi trả.
  • Hỗ trợ yêu cầu tạm ứng bồi thường trong các trường hợp pháp luật quy định.
  • Tư vấn quyền lợi đối với bảo hiểm vật chất xe, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
  • Hỗ trợ thủ tục yêu cầu chi hỗ trợ nhân đạo từ Quỹ bảo hiểm xe cơ giới khi thuộc trường hợp được áp dụng.
  • Rà soát quyền thế quyền và nghĩa vụ bồi hoàn sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả.
  • Soạn văn bản yêu cầu bồi thường, yêu cầu giải thích lý do từ chối hoặc chậm chi trả.
  • Soạn đơn khiếu nại gửi doanh nghiệp bảo hiểm khi việc từ chối bồi thường không có căn cứ.
  • Đại diện khách hàng thương lượng, làm việc với doanh nghiệp bảo hiểm.
  • Tư vấn phương án hòa giải, Trọng tài hoặc khởi kiện tại Tòa án khi tranh chấp không thể giải quyết bằng thương lượng.
  • Soạn đơn khởi kiện, chuẩn bị chứng cứ và hồ sơ phục vụ giải quyết tranh chấp bảo hiểm.
  • Đại diện hoặc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về chưa tìm ra người gây thiệt hại, bảo hiểm có bồi thường không?

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi chưa tìm ra người gây thiệt hại nhưng cần được bảo hiểm bồi thường, các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025) và Nghị định 67/2023/NĐ-CP.

1. Chưa có kết luận điều tra của công an thì bảo hiểm có được từ chối bồi thường không?

Không. Theo điểm d khoản 1 Điều 20 và Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được từ chối khi sự kiện không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc thuộc trường hợp loại trừ đã thoả thuận rõ trong hợp đồng. Việc chưa có kết luận điều tra không phải là căn cứ từ chối theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025).

2. Bảo hiểm vật chất xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc khác nhau thế nào khi chưa xác định người gây tai nạn?

Bảo hiểm vật chất xe bồi thường dựa trên thiệt hại thực tế của chính tài sản được bảo hiểm theo Điều 43, khoản 1 Điều 51 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), không phụ thuộc việc xác định người gây thiệt hại. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc gắn với trách nhiệm của chủ xe đối với người thứ ba theo Điều 57, Điều 58 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), nên khi không xác định được xe gây tai nạn có thể áp dụng cơ chế chi hỗ trợ nhân đạo theo Điều 17 Nghị định 67/2023/NĐ-CP.

3. Thời hạn bảo hiểm phải giải quyết bồi thường là bao lâu?

Theo khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), thời hạn bồi thường theo thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ nếu hợp đồng không thỏa thuận. Riêng thiệt hại về sức khỏe, tính mạng trong bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe cơ giới, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng bồi thường trong 3 ngày làm việc theo khoản 3 Điều 12 Nghị định 67/2023/NĐ-CP.

4. Nếu sau này tìm ra người gây thiệt hại thì bảo hiểm có đòi lại tiền đã bồi thường không?

Có thể. Theo khoản 1 Điều 54 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), sau khi bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm được kế thừa quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi hoàn số tiền đã trả. Đây là quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người gây thiệt hại, không ảnh hưởng đến số tiền khách hàng đã nhận được.

5. Xe gây tai nạn bỏ trốn, không tìm ra thì nạn nhân có được hỗ trợ gì không?

Có. Theo điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 67/2023/NĐ-CP, trường hợp không xác định được xe gây tai nạn, nạn nhân có thể được chi hỗ trợ nhân đạo từ Quỹ bảo hiểm xe cơ giới với mức 30% giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với trường hợp tử vong hoặc thương tật từ 81% trở lên, và 10% đối với thương tật từ 31% đến dưới 81%.

6. Bảo hiểm từ chối bồi thường mà không có văn bản giải thích thì xử lý thế nào?

Khách hàng có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp văn bản giải thích lý do từ chối theo điểm e khoản 2 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025). Nếu doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện hoặc lý do từ chối không có căn cứ, khách hàng có thể khiếu nại hoặc khởi kiện theo Điều 32 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025) và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

7. Hồ sơ yêu cầu bồi thường khi chưa xác định được người gây thiệt hại gồm những gì?

Ngoài các tài liệu chứng minh sự kiện bảo hiểm và thiệt hại theo Điều 46, Điều 53 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025), đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe cơ giới cần có thêm tài liệu của cơ quan Công an về việc chưa xác định được người gây tai nạn theo khoản 5 Điều 13 Nghị định 67/2023/NĐ-CP; tài liệu này thuộc trách nhiệm thu thập của doanh nghiệp bảo hiểm.

Kết luận

Chưa tìm ra người gây thiệt hại không đồng nghĩa với việc bảo hiểm được quyền từ chối hoặc trì hoãn bồi thường vô thời hạn; pháp luật đã quy định rõ nghĩa vụ bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm cùng các cơ chế hỗ trợ riêng như tạm ứng bồi thường và Quỹ bảo hiểm xe cơ giới để bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong tình huống này. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đánh giá căn cứ từ chối của doanh nghiệp bảo hiểm và đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Nghị định 67/2023/NĐ-CP
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , ,

Nguyễn Trần Phương

Luật sư Nguyễn Trần Phương, thành viên Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang là luật sư thành viên tại công ty Luật Long Phan PMT. Với nhiều năm kinh nghiệm tư vấn giải quyết hầu như tất cả các vấn đề liên quan đến Dân sự, hôn nhân gia đình, thừa kế, lao động. Đồng thời trực tiếp tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi khách hàng trong các tranh chấp dân sự . Luôn lấy sự uy tín, tinh thần trách nhiệm lên hàng đầu.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87