Tags: nghĩa vụ do người chết để lại, tranh chấp hợp đồng hợp tác
Dưới đây là tóm tắt Bản án phúc thẩm số 709/2026/DS-PT ngày 06/08/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
1. Thông tin chung về vụ án
- Số bản án: 709/2026/DS-PT ngày 06/08/2026.
- Tòa án xét xử phúc thẩm: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phận).
- Quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.
- Các bên đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Hiếu T (sinh năm 1968) và bà Trần Thị S (sinh năm 1969). Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Lê Hương G.
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng D (sinh năm 1965, đã chết) và bà Nguyễn Thị P (sinh năm 1969).
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Hoàng D: Bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị B (mẹ ông D), anh Lê Xuân M, anh Lê Vũ Trường G1, chị Lê Thị Cẩm T1 (các con của ông D).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP S1 – Phòng G2.
2. Nội dung tranh chấp
- Yêu cầu của nguyên đơn:
- Ngày 11/06/2019, ông T và bà S cho ông D, bà P vay 65.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận ông T, bà S cùng canh tác trên diện tích 4.000 m² vườn nhãn thuê của bà Lê Thị Hồng N để thu hoạch chia đôi lợi nhuận thay cho tiền trả lãi.
- Đến ngày 18/06/2021 (09/05/2021 âm lịch), bà P lấy lại vườn nhãn nhưng không trả lại 65.000.000 đồng.
- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà P và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông D liên đới trả 65.000.000 đồng tiền gốc và 31.237.050 đồng tiền lãi (tổng cộng 96.237.050 đồng tính đến ngày 14/04/2026).
- Ý kiến của bị đơn và những người thừa kế:
- Bà P không thừa nhận vay tiền mà cho rằng đây là tiền hùn vốn hợp tác làm ăn. Lợi nhuận bán nhãn hai năm 2020–2021 đã được chia nên xem như tiền hùn vốn không còn. Đồng thời, bà P yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện vì đã hết thời hạn tranh chấp hợp đồng hợp tác.
- Các con và mẹ ông D không đồng ý trả nợ và xác định ông D chết không để lại di sản riêng.
3. Diễn biến từ Cấp sơ thẩm đến Phúc thẩm
- Bản án sơ thẩm (Số 84/2026/DSST ngày 14/04/2026 của TAND Khu vực 8 – Vĩnh Long): Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà P về thời hiệu khởi kiện; đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà S về việc đòi 65.000.000 đồng.
- Kháng cáo & Kháng nghị:
- Nguyên đơn: Đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
- Viện kiểm sát: Viện trưởng VKSND Khu vực 8 – Vĩnh Long kháng nghị đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
4. Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND Khu vực 8 – Vĩnh Long và nhận định:
- Về mặt pháp lý: Cấp sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng hợp tác đã hết là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với số tiền 65.000.000 đồng nguyên đơn giao cho bị đơn, cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết mà không thu thập chứng cứ để làm rõ đây là tiền vay hay tiền hợp tác (và việc lời/lỗ ra sao) là không đúng quy định pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu tài sản theo Điều 165, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Quyết định tuyên bố:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2026/DSST ngày 14/04/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long.
- Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long để giải quyết lại theo thủ tục chung.
- Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông Lâm Hiếu T và bà Trần Thị S.
Văn Bản Tiếng Việt:
Văn Bản Tiếng Anh:

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.