Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 25/2026/KDTM-PT ngày 13/5/2026 của Tòa án Nhân dân TP. Đà Nẵng về Tranh chấp đòi lại tài sản

Bản án số 25/2026/KDTM – PT tuyên ngày 13/5/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giải quyết vụ án “Tranh chấp đòi tài sản” giữa nguyên đơn Công ty X và bị đơn Công ty T có nội dung tóm tắt như sau:

1. Thông tin chung về các đương sự

  • Nguyên đơn (Người kháng cáo): Công ty X (trụ sở tại Thành phố Hà Nội), người đại diện hợp pháp theo ủy quyền tham gia phiên tòa gồm các ông Phạm Tiến H, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Thành T và Hoàng Văn H.
  • Bị đơn: Công ty T (trụ sở tại thành phố Đà Nẵng), người đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị H (Giám đốc).
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Dịch vụ giám định A.

2. Nội dung vụ án và tranh chấp phát sinh

  • Bối cảnh: Tháng 4 năm 2010, Công ty X nhập khẩu lô hàng 4.000,930 tấn dầu HSFO 3,5S từ Tàu O về Cảng Đ. Khi tàu cập cảng, đại diện các bên cùng Công ty Giám định A đã kiểm tra và xác định khối lượng dầu thực tế trên tàu là 4.030.941 kg.
  • Quá trình giao nhận thực tế: Do tàu tải trọng lớn nên các bên thống nhất dỡ chuyển tải sang mạn xà lan là 1.604.554 kg. Số dầu còn lại trên Tàu O là 2.426.387 kg được dỡ tại cảng để bơm trực tiếp vào kho của Công ty T.
  • Mâu thuẫn phát sinh: Công ty T đã trả lại cho Công ty X số lượng dầu chuyển tải (Công ty X xác định là 1.847.814 kg, còn Công ty T ghi nhận thực tế nhận là 1.847.914 kg). Tuy nhiên, đối với số lượng dầu dỡ trực tiếp tại cảng còn lại, đại diện Công ty T (bà Lê Thị H) cho rằng số liệu đo tính ban đầu không chính xác nên yêu cầu điều chỉnh, không chịu ký biên bản khô sạch hầm hàng cho tàu rời cảng và không ký biên bản xác nhận giao nhận số lượng dầu dỡ tại cảng này. Công ty T phủ nhận việc tiếp nhận số lượng dầu dỡ trực tiếp tại cảng và bác bỏ yêu cầu hoàn trả.
  • Yêu cầu khởi kiện: Công ty X khởi kiện yêu cầu Công ty T phải hoàn trả số lượng dầu dỡ trực tiếp bị chiếm giữ. Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty X yêu cầu hoàn trả khối lượng dầu sau khi trừ tỷ lệ hao hụt bơm trực tiếp là 0,35% (tương đương giảm 7.640 kg), cụ thể đòi trả 2.175.487 kg dầu HSFO 3,5S quy đổi theo đơn giá nhập khẩu năm 2010 (13.293 đồng/1kg), tương đương tổng số tiền 28.918.748.691 đồng.

3. Lịch sử giải quyết vụ án

Vụ án kéo dài từ năm 2019 qua nhiều cấp xét xử và từng bị hủy bởi quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử sơ thẩm lại. Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm mới nhất (Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng) đã tuyên:

  • Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đòi Công ty T giao trả 978.563,56 kg dầu gửi tại kho (do nguyên đơn rút đơn).
  • Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố đòi Công ty X thanh toán tiền thuê kho 24.162.146.973 đồng của Công ty T (do bị đơn rút đơn).
  • Không chấp nhận yêu cầu của Công ty X buộc Công ty T trả lại 2.183.127 kg dầu HSFO 3,5S.
  • Công ty X sau đó đã nộp đơn kháng cáo đối với phần không được chấp nhận này.

4. Nhận định của Tòa án cấp Phúc thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định yêu cầu kháng cáo đòi tài sản của Công ty X là hoàn toàn có cơ sở pháp lý vì những lý do sau:

  • Đầy đủ chứng cứ dỡ hết hàng: Nhật ký hải trình, nhật ký vận chuyển của Công ty Giám định A và Giấy tờ rời bến của Tàu O đều thể hiện toàn bộ lượng dầu còn lại trên tàu đã được dỡ hết, khô sạch hầm hàng. Thư phản đối của thuyền trưởng tàu O và báo cáo của Biên phòng cảng cũng khẳng định đã bơm dỡ hết dầu cho Công ty T tiếp nhận.
  • Không có khả năng thất thoát ra ngoài: Cảng H xác nhận trong suốt thời gian tàu O dỡ hàng (từ ngày 04/4/2010 đến ngày 07/4/2010), tại cảng không có tàu chở hàng nào khác ra vào dỡ hàng, cảng đã bàn giao tàu O cho đại lý V và Công ty T. Phía Công an thành phố Đà Nẵng rà soát và kết luận vụ việc chỉ là tranh chấp dân sự, không có dấu hiệu tội phạm. Do đó, không có chứng cứ cho thấy lượng dầu được bơm đi nơi nào khác ngoài kho của Công ty T.
  • Công ty T đã thanh toán phí qua cảng: Thực tế Công ty T đã thanh toán đầy đủ lệ phí qua cảng cho khối lượng dầu 2.426.387 kg dỡ từ tàu O (với số tiền là 41.491.219 đồng) từ ngày 31/5/2010 mà không có ý kiến phản đối nào.
  • Phương thức tính khối lượng giao nhận phù hợp: Trong các lần giao nhận trước và sau tàu O, hai bên đều áp dụng Hợp đồng tiếp nhận, bảo quản và bơm rót nhiên liệu số 01 ngày 13/10/2008, lấy khối lượng giám định tại tàu ngoại trừ hao hụt để giao nhận, không căn cứ vào bồn bể của Công ty T. Do đó, việc Công ty T từ chối chứng thư giám định tại tàu ngoại là không có căn cứ.
  • Sự thống nhất về đơn giá: Các bên đã tự nguyện thống nhất áp dụng đơn giá nhập khẩu năm 2010 là 13.293 đồng/kg. Đồng thời việc nguyên đơn chủ động trừ hao hụt 0,35% cho bị đơn là hoàn toàn có cơ sở.

5. Quyết định cuối cùng của Tòa án cấp Phúc thẩm

Tòa án quyết định chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty X và sửa một phần Bản án sơ thẩm:

  • Giữ nguyên phần đình chỉ: Đình chỉ giải quyết phần yêu cầu đòi 978.563,56 kg dầu của Công ty X và yêu cầu phản tố đòi tiền thuê kho 24.162.146.973 đồng của Công ty T (đã có hiệu lực pháp luật do không có kháng cáo, kháng nghị).
  • Chấp nhận yêu cầu đòi tài sản: Buộc Công ty T phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty X giá trị khối lượng 2.175.487 kg dầu HSFO 3,5S (đã trừ hao hụt 0,35%) theo đơn giá năm 2010 là 13.293đ/1kg, tương đương số tiền 28.918.748.691 đồng (Hai mươi tám tỷ, chín trăm mười tám triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn, sáu trăm chín mươi mốt đồng).
  • Hoàn trả chi phí tố tụng: Buộc Công ty T phải trả lại cho Công ty X số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí giám định là 21.200.000 đồng.
  • Về án phí:
    • Công ty T phải chịu 136.918.749 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 63.564.751 đồng, còn phải nộp tiếp 73.353.998 đồng).
    • Công ty X không phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm; được hoàn trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm 69.872.274 đồng2.000.000 đồng (tạm ứng sơ thẩm), cùng 2.000.000 đồng (tạm ứng phúc thẩm).
Skip to PDF content

Công Ty Luật Long Phan PMT

Công Ty Long Phan PMT hướng đến trở thành một CÔNG TY LUẬT uy tín hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực TƯ VẤN PHÁP LUẬT, cung cấp DỊCH VỤ LUẬT SƯ pháp lý. Luật Long Phan PMT hoạt động với phương châm ☞ "lấy chữ tín lên hàng đầu", "xem khách hàng như người thân", làm việc nhanh chóng, hiệu quả. Điều hành bởi Thạc sĩ – Luật sư Phan Mạnh Thăng nỗ lực không ngừng để trở thành một địa chỉ đáng tin cậy của mọi cá nhân, tổ chức.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87