Yêu cầu bồi thường nhà nước là quyền mà Luật Long Phan PMT thường xuyên tư vấn cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Từ ngày 01/3/2027, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 có hiệu lực sẽ thay đổi đáng kể thủ tục hành chính liên quan đến việc nộp và giải quyết yêu cầu bồi thường theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại. Bài viết phân tích các điểm mới quan trọng nhất và hướng xử lý cụ thể cho từng trường hợp.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 đã được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/8/2026 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/3/2027, theo Lệnh công bố số 18/2026/L-CTN ngày 26/8/2026 của Chủ tịch nước.
- Mức tạm ứng kinh phí bồi thường tối thiểu tăng từ 50% lên không dưới 75% giá trị thiệt hại, theo Điều 44 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại khoản 13 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện không còn thẩm quyền giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, theo khoản 32 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 bãi bỏ khoản 3 Điều 33 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
- Hồ sơ đã thụ lý trước ngày 01/3/2027 mà chưa giải quyết xong vẫn được áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường và người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả, theo khoản 2 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 và mốc hiệu lực 1/3/2027
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 thay đổi cơ bản, toàn diện trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường theo hướng tăng quyền lợi cho người bị thiệt hại và tinh gọn bộ máy giải quyết bồi thường.
Luật được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất ngày 23/8/2026, với 470/471 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành (đạt 99,8%), và được Chủ tịch nước công bố bằng Lệnh số 18/2026/L-CTN ngày 26/8/2026. Luật có hiệu lực từ ngày 01/3/2027, gồm 03 Điều: Điều 1 sửa đổi 37/78 điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 (số 10/2017/QH14, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 81/2025/QH15); Điều 2 sửa đổi một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Quản lý thuế 2025 (số 108/2025/QH15) để bảo đảm đồng bộ; Điều 3 quy định điều khoản thi hành và chuyển tiếp. Việc sửa đổi nhằm khắc phục vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thi hành luật cũ và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang triển khai.
>>> Xem thêm: Yêu cầu cơ quan nhà nước làm sai phải bồi thường: Hướng dẫn
Điểm mới về nguyên tắc và phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Nguyên tắc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường được sửa đổi chặt chẽ hơn, đồng thời bổ sung thêm hai nhóm chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường. Ba nội dung dưới đây ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định ai được quyền yêu cầu bồi thường và trong trường hợp nào, mỗi nội dung đều gắn với một căn cứ pháp lý cụ thể trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026.
Nguyên tắc xác định phạm vi bồi thường chặt chẽ hơn, do Quốc hội quyết định
Chỉ Quốc hội mới có quyền mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường ra ngoài 03 lĩnh vực đã quy định, và việc mở rộng phải nằm ngoài các trường hợp đã liệt kê tại Chương II Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật (quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án), với điều kiện phạm vi đó phải là trường hợp chưa được quy định tại Chương II (các Điều 17, 18, 19, 20 và 21) của Luật. Quy định này bảo đảm nguyên tắc áp dụng pháp luật thống nhất, tránh việc mở rộng phạm vi bồi thường tùy tiện ở văn bản dưới luật.
Bổ sung quyền bồi thường cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân
Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ nay được ghi nhận là chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường khi bị thiệt hại do cơ quan có thẩm quyền không áp dụng, áp dụng không kịp thời hoặc không đúng biện pháp bảo vệ.
Theo điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, khoản 9 và khoản 10 được bổ sung vào sau khoản 8 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, xác định “người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” là cá nhân phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; “người thân” gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi. Quy định này đồng bộ với khoản 1 Điều 5 Luật Phòng, chống tham nhũng được sửa đổi tại Điều 2 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026. Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, người tố cáo tham nhũng thường thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng để đòi bồi thường khi bị trả thù hoặc gây khó khăn; việc luật hóa cụ thể hai khái niệm này giúp nhóm chủ thể trên có chỗ dựa pháp lý chắc chắn hơn.
Bổ sung trách nhiệm bồi thường của cơ quan quản lý thuế
Người nộp thuế nay được ghi nhận rõ quyền yêu cầu bồi thường nếu cơ quan quản lý thuế gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Theo khoản 2 Điều 2 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, điểm n khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế 2025 (số 108/2025/QH15) được sửa đổi, bổ sung quyền của người nộp thuế “được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”; đồng thời điểm g khoản 1 Điều 38 Luật Quản lý thuế 2025 được sửa đổi, bổ sung trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế của cơ quan quản lý thuế. Quy định này khép lại khoảng trống pháp lý khi quyền được bồi thường của người nộp thuế trước đây chưa được dẫn chiếu tường minh trong Luật Quản lý thuế.
Điểm mới về cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước
Việc tổ chức lại chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu bảo đảm quyền lựa chọn của người bị thiệt hại kéo theo hai thay đổi quan trọng về cơ quan có thẩm quyền giải quyết bồi thường mà doanh nghiệp, cá nhân cần xác định đúng trước khi nộp hồ sơ.
Bãi bỏ thẩm quyền giải quyết bồi thường của Ủy ban nhân dân cấp huyện
Ủy ban nhân dân cấp huyện không còn là cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, do mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã bỏ cấp huyện.
Theo khoản 32 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, khoản 3 Điều 33 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 về thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện đã bị bãi bỏ; cùng khoản này, Điều 63 và Điều 75 của Luật cũng bị bãi bỏ để phù hợp với việc tổ chức lại bộ máy hành chính. Trường hợp hồ sơ liên quan đến hành vi của cán bộ, công chức trước đây thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, nên chủ động rà soát cơ quan kế thừa chức năng theo quy định về sắp xếp chính quyền địa phương hai cấp trước khi nộp hồ sơ, tránh nộp nhầm khiến hồ sơ bị chuyển hoặc trả lại.
Quyền lựa chọn cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự
Người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự nay được quyền lựa chọn đề nghị cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết, hoặc đề nghị Tòa án giải quyết, thay vì bị giới hạn thẩm quyền như trước.
Nội dung sửa đổi tại Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 quy định nguyên tắc lựa chọn cơ quan giải quyết bồi thường trong tố tụng hình sự theo hướng người bị thiệt hại có thể đề nghị cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết hoặc đề nghị Tòa án giải quyết, tương tự cơ chế đã áp dụng trong quản lý hành chính và thi hành án, nhằm bảo đảm tối đa quyền của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.
>>> Xem thêm: Thủ tục yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự
Điểm mới về hồ sơ, trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường
Trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường được sửa đổi cơ bản, toàn diện theo hướng cắt giảm giấy tờ người dân phải tự chuẩn bị, tăng hình thức nộp hồ sơ và buộc cơ quan giải quyết bồi thường chủ động hơn. Ba thay đổi dưới đây ảnh hưởng trực tiếp đến cách một hồ sơ được chuẩn bị và xử lý trên thực tế.
Hồ sơ yêu cầu bồi thường được rút gọn còn 2 loại văn bản
Hồ sơ nay chỉ gồm văn bản yêu cầu bồi thường của người yêu cầu và văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, do chính cơ quan giải quyết bồi thường tự thu thập hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp.
Theo Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 13 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, thành phần hồ sơ gồm văn bản yêu cầu bồi thường do người yêu cầu lập, và văn bản làm căn cứ do cơ quan giải quyết bồi thường tự cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp. Trước đây, người yêu cầu bồi thường thường phải tự thu thập nhiều loại giấy tờ, bản án, quyết định làm căn cứ, dẫn đến kéo dài thời gian chuẩn bị hoặc bị trả hồ sơ vì thiếu tài liệu mà bản thân họ không có quyền tiếp cận trực tiếp.
Ba hình thức nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường
Người yêu cầu bồi thường được lựa chọn một trong ba hình thức nộp hồ sơ, thay vì chỉ nộp trực tiếp như trước đây.
Cũng theo Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại khoản 13 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, hồ sơ được gửi qua một trong các hình thức sau:
- Môi trường số;
- Trực tiếp tại cơ quan giải quyết bồi thường hoặc tại Bộ phận Một cửa theo quy định của pháp luật;
- Dịch vụ bưu chính.
Việc bổ sung phương thức nộp qua môi trường số phù hợp với chủ trương chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính, giúp người yêu cầu tiết kiệm thời gian đi lại, nhất là với người cư trú xa cơ quan có thẩm quyền.
Cơ quan giải quyết bồi thường phải ra quyết định trong mọi trường hợp
Cơ quan giải quyết bồi thường buộc phải ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong mọi trường hợp, kể cả khi thương lượng thành hoặc không thành.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 bổ sung căn cứ ban hành quyết định giải quyết bồi thường tại Điều 45, Điều 46 và Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, bao gồm cả trường hợp ra quyết định mà không tiến hành thương lượng theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường, hoặc khi người yêu cầu không đến thương lượng dù đã được mời. Thương lượng được xác định là quyền, không phải nghĩa vụ bắt buộc. Ngoài ra, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm tự chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền khác mà không bắt người dân nộp lại từ đầu.

Điểm mới về tạm ứng và chi trả kinh phí bồi thường
Quy định về tạm ứng và chi trả kinh phí được sửa đổi theo hướng tăng mức tạm ứng tối thiểu và rút ngắn thời gian chi trả thực tế, giảm bớt thủ tục nội bộ giữa các cơ quan. Bảng dưới đây so sánh quy định cũ và quy định mới về mức tạm ứng.
| Tiêu chí | Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 | Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 (từ 01/3/2027) |
| Mức tạm ứng tối thiểu | Không thấp hơn 50% giá trị thiệt hại (khoản 4 Điều 44) | Không dưới 75% giá trị thiệt hại (khoản 2 Điều 44 sửa đổi) |
| Người quyết định mức tạm ứng | Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường | Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại |
| Thủ tục cấp kinh phí | Sử dụng dự toán quản lý hành chính hoặc đề nghị cơ quan tài chính cấp kinh phí tạm ứng | Sử dụng kinh phí đã cấp từ đầu năm để chi trả ngay, không cần thủ tục đề nghị cấp kinh phí riêng |
Mức tạm ứng tối thiểu tăng từ 50% lên 75% giá trị thiệt hại
Người yêu cầu bồi thường được tạm ứng kinh phí không dưới 75% giá trị thiệt hại đối với thiệt hại tinh thần và thiệt hại khác có thể tính được ngay mà không cần xác minh.
Theo Điều 44 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại khoản 13 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại tạm ứng kinh phí đối với thiệt hại tinh thần quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, và thiệt hại khác có thể tính được ngay. Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định mức tạm ứng nhưng không được thấp hơn 75% giá trị thiệt hại nêu trên, so với mức tối thiểu 50% theo khoản 4 Điều 44 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 trước sửa đổi.
Rút ngắn thủ tục chi trả tiền bồi thường
Thủ tục chi trả được rút ngắn còn tối đa 04 ngày làm việc kể từ khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực.
Theo Điều 62 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại khoản 26 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, trong 02 ngày làm việc kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực hoặc từ ngày nhận được bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thông báo cho người yêu cầu bồi thường về việc chi trả; trong 02 ngày làm việc tiếp theo kể từ khi nhận thông báo, tiền bồi thường phải được chi trả. Cơ quan này sử dụng ngay kinh phí đã cấp từ đầu năm để chi trả, không phải làm thủ tục đề nghị cấp kinh phí như quy định cũ.

Điểm mới về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại
Một số căn cứ giảm hoặc miễn trách nhiệm hoàn trả mới được bổ sung cho người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý, nhằm khuyến khích cán bộ, công chức dám nghĩ, dám làm mà không quá lo ngại trách nhiệm tài chính cá nhân.
Theo Điều 65 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 27 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý được xem xét giảm hoặc miễn hoàn trả trong các trường hợp: đã thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo đúng chủ trương, không vụ lợi; chủ động khắc phục hậu quả; mắc bệnh hiểm nghèo; hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn. Luật cũng bổ sung cách xử lý khi Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả không xác định được đầy đủ nội dung cần thiết để kết luận.
Đây là các trường hợp ngoại lệ so với nguyên tắc hoàn trả chung, nên người thi hành công vụ thuộc diện xem xét cần chủ động thu thập, lưu giữ đầy đủ tài liệu chứng minh mình rơi vào một trong các trường hợp trên ngay từ đầu, thay vì chờ Hội đồng yêu cầu mới cung cấp. Hồ sơ giải trình chuẩn bị sớm, có căn cứ cụ thể (quyết định khen thưởng, đề án đổi mới đã phê duyệt, hồ sơ bệnh án, xác nhận thiệt hại do thiên tai) thường quyết định trực tiếp việc Hội đồng có chấp nhận giảm hoặc miễn hoàn trả hay không.
Áp dụng quy định chuyển tiếp khi yêu cầu bồi thường nộp trước và sau ngày 1/3/2027
Việc xác định văn bản pháp luật áp dụng cho một hồ sơ phụ thuộc vào thời điểm thụ lý so với mốc 01/3/2027, và trong một số trường hợp còn phụ thuộc việc bên liên quan có đề nghị áp dụng quy định có lợi hơn hay không.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày 01/3/2027 mà chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, đối với công việc, thủ tục chưa có kết quả giải quyết, cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường và người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, trừ trường hợp người liên quan đề nghị không áp dụng.
Đây là điểm nhiều khách hàng có hồ sơ đang xử lý dở dang cần đặc biệt lưu tâm: quy định có lợi hơn chỉ áp dụng cho phần công việc, thủ tục chưa có kết quả tại thời điểm 01/3/2027, không áp dụng tự động cho toàn bộ hồ sơ, và người liên quan có quyền đề nghị không áp dụng nếu việc đó bất lợi cho mình. Doanh nghiệp, cá nhân nên chủ động đối chiếu từng nội dung hồ sơ (mức tạm ứng, thời hạn chi trả, thành phần hồ sơ còn thiếu) với cả hai văn bản để xác định phương án có lợi hơn trước khi quyết định.
Kinh nghiệm xử lý hồ sơ yêu cầu bồi thường nhà nước trên thực tế
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, một sai lầm phổ biến là khách hàng tự đi thu thập lại bản án, quyết định làm căn cứ dù đây vốn là trách nhiệm mà cơ quan giải quyết bồi thường phải tự thực hiện, khiến hồ sơ kéo dài không cần thiết. Một tình huống khác thường gặp là xác định sai cơ quan có thẩm quyền do quá trình sáp nhập, tổ chức lại bộ máy hành chính hai cấp diễn ra gần như đồng thời với nhiều thay đổi pháp luật khác. Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, nhiều khách hàng cũng nhầm lẫn giữa việc thương lượng và việc khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án, dẫn đến bỏ lỡ thời hạn khởi kiện vì cho rằng thương lượng chưa xong thì chưa cần khởi kiện. Một sai lầm phổ biến khác là bỏ lỡ thời điểm hồ sơ đang xử lý chuyển tiếp qua mốc 01/3/2027, khiến khách hàng không kịp đề nghị áp dụng quy định có lợi hơn cho phần thủ tục chưa có kết quả của mình.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Nếu Quý khách còn vướng mắc về xác định đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết sau khi sắp xếp lại bộ máy hành chính hai cấp, cách chuẩn bị hồ sơ theo quy định mới hay quyền lợi áp dụng cho hồ sơ đang xử lý chuyển tiếp qua mốc 01/3/2027, Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ rà soát căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, soạn thảo hồ sơ và đại diện thương lượng hoặc khởi kiện tại Tòa án.
Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư hành chính
📞 Hotline: 1900 636 387
✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn
💬 Zalo: 0939 846 973
📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.
Câu hỏi thường gặp về yêu cầu bồi thường nhà nước: Điểm mới áp dụng từ 1/3/2027
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi chuẩn bị hồ sơ theo quy định mới. Các câu trả lời dựa trên Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026.
1. Hồ sơ yêu cầu bồi thường từ 1/3/2027 gồm những gì?
Hồ sơ chỉ còn gồm văn bản yêu cầu bồi thường do người yêu cầu lập và văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, theo Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại khoản 13 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026. Văn bản làm căn cứ do chính cơ quan giải quyết bồi thường tự thu thập hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp, người yêu cầu không phải tự chuẩn bị.
2. Mức tạm ứng kinh phí bồi thường tối thiểu hiện nay là bao nhiêu?
Theo Điều 44 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại khoản 13 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, mức tạm ứng không được thấp hơn 75% giá trị thiệt hại tinh thần và thiệt hại khác có thể tính được ngay. Mức này tăng so với quy định cũ là không thấp hơn 50% giá trị thiệt hại.
3. Ủy ban nhân dân cấp huyện còn thẩm quyền giải quyết bồi thường không?
Không còn. Theo khoản 32 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, khoản 3 Điều 33 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 về thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện đã bị bãi bỏ, do mô hình chính quyền địa phương hai cấp không còn cấp huyện. Người yêu cầu cần xác định lại cơ quan kế thừa chức năng trước khi nộp hồ sơ.
4. Hồ sơ nộp trước ngày 1/3/2027 mà chưa giải quyết xong thì áp dụng luật nào?
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, hồ sơ đã thụ lý trước ngày 01/3/2027 mà chưa giải quyết hoặc đang giải quyết tiếp tục áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017. Riêng với công việc, thủ tục chưa có kết quả tại thời điểm này, khoản 2 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 cho phép áp dụng quy định có lợi hơn của Luật mới, trừ khi người liên quan đề nghị không áp dụng.
5. Người yêu cầu bồi thường có bắt buộc phải thương lượng với cơ quan giải quyết bồi thường không?
Không bắt buộc. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026 bổ sung căn cứ ban hành quyết định giải quyết bồi thường tại Điều 45, 46 và 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, xác định thương lượng là quyền chứ không phải nghĩa vụ bắt buộc trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải quyết bồi thường.
6. Người thi hành công vụ gây thiệt hại có được giảm hoặc miễn trách nhiệm hoàn trả không?
Có, trong một số trường hợp cụ thể. Theo Điều 65 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 được sửa đổi tại khoản 27 Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, người gây thiệt hại do lỗi vô ý có đề xuất đổi mới sáng tạo đúng chủ trương, không vụ lợi, chủ động khắc phục hậu quả, mắc bệnh hiểm nghèo hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn được xem xét giảm hoặc miễn hoàn trả.
Kết luận
Yêu cầu bồi thường nhà nước từ ngày 01/3/2027 sẽ được giải quyết theo thủ tục đơn giản hơn, mức tạm ứng cao hơn và cơ quan có thẩm quyền được xác định lại phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhưng người yêu cầu cần nắm chắc quy định chuyển tiếp để không bỏ lỡ quyền lợi. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, xác định đúng cơ quan giải quyết và chuẩn bị hồ sơ đúng quy định mới. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017
- Luật Phòng, chống tham nhũng 2018
- Luật Quản lý thuế 2025
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ, bồi thường trong quản lý hành chính, bồi thường trong thi hành án, bồi thường trong tố tụng hình sự, chi trả tiền bồi thường, chính quyền địa phương hai cấp, cơ quan giải quyết bồi thường, giảm trách nhiệm hoàn trả, hồ sơ yêu cầu bồi thường, miễn trách nhiệm hoàn trả, mức tạm ứng 75%, quyền yêu cầu bồi thường, tạm ứng kinh phí bồi thường, thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước, trách nhiệm hoàn trả

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.