Xác định lỗi hợp đồng đặt cọc không thực hiện được

Xác định lỗi hợp đồng đặt cọc là bước bắt buộc trước khi xác định bên nào phải chịu phạt cọc, bên nào có quyền nhận lại tài sản đặt cọc khi việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng chính không thành. Luật Long Phan PMT nhận thấy đây là vướng mắc thường gặp nhất trong các vụ việc tranh chấp dân sự liên quan đến đặt cọc mua bán nhà đất, bởi pháp luật chỉ quy định hậu quả pháp lý theo từng trường hợp lỗi mà không đưa ra công thức xác định lỗi cụ thể cho mọi tình huống. Bài viết dưới đây phân tích các căn cứ xác định lỗi, hậu quả pháp lý tương ứng và hướng xử lý khi phát sinh tranh chấp.

Xác định lỗi hợp đồng đặt cọc để làm rõ trách nhiệm và hậu quả pháp lý.
Việc xác định nguyên nhân và lỗi của từng bên là cơ sở xử lý tài sản đặt cọc khi giao dịch không thành.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Việc xác định lỗi hợp đồng đặt cọc phải căn cứ vào hành vi từ chối giao kết hoặc từ chối thực hiện hợp đồng của từng bên, không suy đoán theo ý chí chủ quan của bên còn lại.
  • Bên có lỗi làm hợp đồng không thực hiện được phải chịu phạt cọc theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp cả hai bên cùng có lỗi hoặc việc không thực hiện được hợp đồng xuất phát từ sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì không bên nào bị phạt cọc.
  • Hợp đồng đặt cọc được xác định là hợp đồng độc lập với hợp đồng chính; tình trạng pháp lý của tài sản tại thời điểm đặt cọc không đương nhiên làm hợp đồng đặt cọc vô hiệu, theo tinh thần Án lệ số 79/2025/AL.

Nội Dung Bài Viết

Hợp đồng đặt cọc không thực hiện được và vì sao phải xác định lỗi

Xác định lỗi là căn cứ duy nhất để phân định hậu quả pháp lý khi hợp đồng đặt cọc không dẫn đến việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng chính, bởi Bộ luật Dân sự 2015 không quy định hậu quả cố định mà gắn liền hậu quả với lỗi của từng bên.

Một tình huống thường gặp: bên mua đặt cọc 500 triệu đồng để bảo đảm giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hẹn 30 ngày sau ký hợp đồng công chứng. Đến hạn, bên bán không xuất trình được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đang thế chấp ngân hàng chưa giải chấp xong; bên mua cho rằng bên bán vi phạm và yêu cầu phạt cọc, trong khi bên bán cho rằng việc chậm giải chấp là nguyên nhân khách quan. Tình huống này cho thấy việc quy kết lỗi không đơn thuần dựa vào việc hợp đồng chính có được ký hay không, mà đòi hỏi xem xét nguyên nhân thực sự khiến việc giao kết, thực hiện hợp đồng không thành.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Do biện pháp bảo đảm này gắn với nghĩa vụ giao kết, thực hiện hợp đồng chính của cả hai bên, việc xác định bên nào không tuân thủ nghĩa vụ đó, vì lý do gì, chính là nội dung cốt lõi khi giải quyết tranh chấp đặt cọc tại Tòa án.

Các căn cứ xác định lỗi của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc

Pháp luật xác định lỗi dựa trên hành vi từ chối giao kết hoặc từ chối thực hiện hợp đồng của từng bên, chia thành bốn trường hợp: lỗi thuộc bên đặt cọc, lỗi thuộc bên nhận đặt cọc, lỗi thuộc về cả hai bên, và trường hợp không bên nào có lỗi.

Khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 là căn cứ pháp lý trung tâm điều chỉnh hậu quả của việc đặt cọc, quy định rõ ba tình huống: hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại hoặc trừ vào nghĩa vụ; bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện thì mất tài sản đặt cọc; bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện thì phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc. Bên cạnh quy định gốc này, thực tiễn xét xử còn ghi nhận hai trường hợp ngoại lệ không phát sinh phạt cọc.

Lỗi thuộc về bên đặt cọc khi từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng

Theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Đây là trường hợp phạt cọc điển hình, áp dụng khi chính bên đặt cọc là người không muốn tiếp tục giao dịch.

Trên thực tế, lỗi của bên đặt cọc thường thể hiện qua các hành vi như không đến ký hợp đồng công chứng đúng hẹn mà không có lý do chính đáng, đơn phương thông báo không mua nữa vì tìm được giá tốt hơn, hoặc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo tiến độ đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc. Trong các tình huống này, bên nhận đặt cọc có quyền giữ lại toàn bộ tài sản đặt cọc mà không cần chứng minh thêm thiệt hại thực tế.

Lỗi thuộc về bên nhận đặt cọc khi từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng

Theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về mức phạt.

Lỗi của bên nhận đặt cọc thường phát sinh khi bên này bán tài sản cho người khác với giá cao hơn, không hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết để đủ điều kiện chuyển nhượng trong thời hạn đã cam kết, hoặc cố tình trì hoãn việc ký hợp đồng chính. Mức phạt cọc bằng đúng giá trị tài sản đặt cọc là mức luật định; các bên chỉ được áp dụng mức khác nếu đã thỏa thuận rõ trong hợp đồng đặt cọc, và mức thỏa thuận đó không được trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.

Trường hợp cả hai bên cùng có lỗi

Theo hướng dẫn tại điểm d Mục 1 Phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nếu cả hai bên cùng có lỗi thì không phạt cọc; bên nhận đặt cọc chỉ có nghĩa vụ trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc.

Tình huống thực tế điển hình là cả hai bên đều biết rõ tài sản chuyển nhượng chưa đủ điều kiện giao dịch nhưng vẫn cố tình ký hợp đồng đặt cọc, hoặc cả hai bên cùng có hành vi vi phạm nghĩa vụ thông tin, phối hợp không đúng thời hạn thỏa thuận dẫn đến hợp đồng chính không thể ký kết.

Lưu ý, việc xác định “cả hai bên cùng có lỗi” đòi hỏi chứng cứ cụ thể cho hành vi vi phạm của từng bên, không phải là kết luận mặc định khi các bên đổ lỗi qua lại cho nhau mà không bên nào chứng minh được lỗi của đối phương; trường hợp không đủ căn cứ quy kết lỗi cho một bên cụ thể, khách hàng nên chủ động thu thập tài liệu, tin nhắn trao đổi để tránh rơi vào tình huống bất lợi khi khởi kiện.

Trường hợp không bên nào có lỗi do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan

Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép; trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động khiến bên có quyền, nghĩa vụ không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình. Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Án lệ số 25/2018/AL, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018, xác lập nguyên tắc bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc khi không thể hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản đúng thời hạn cam kết do nguyên nhân từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chứ không xuất phát từ lỗi chủ quan của bên nhận đặt cọc. Nội dung này thống nhất với hướng dẫn tại điểm d Mục 1 Phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP.

Lưu ý, để được miễn phạt cọc theo trường hợp này, bên viện dẫn lý do khách quan phải chứng minh mình đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng để thực hiện đúng cam kết nhưng vẫn không thể khắc phục được; việc bị động chờ đợi cơ quan nhà nước xử lý hồ sơ mà không có bất kỳ động thái thúc đẩy nào thường không đủ để được công nhận là trở ngại khách quan.

Căn cứ xác định lỗi của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc khi giao dịch không thành.
Lỗi được xem xét dựa trên hành vi của từng bên và nguyên nhân khiến hợp đồng không thể tiếp tục.

Những trường hợp pháp lý tương ứng với trường hợp lỗi

Mỗi trường hợp lỗi trong hợp đồng đặt cọc dẫn đến một hậu quả pháp lý riêng biệt về việc xử lý tài sản đặt cọc, được tổng hợp theo bảng dưới đây để người đọc đối chiếu nhanh với tình huống của mình.

Trường hợp lỗi Bên chịu trách nhiệm Hậu quả pháp lý Căn cứ pháp lý
Bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng Bên đặt cọc Mất tài sản đặt cọc; tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc Khoản 2 Điều 328 BLDS 2015
Bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng Bên nhận đặt cọc Trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc Khoản 2 Điều 328 BLDS 2015
Cả hai bên cùng có lỗi Không bên nào bị phạt Bên nhận đặt cọc chỉ trả lại tài sản đặt cọc, không phát sinh phạt cọc Điểm d Mục 1 Phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP
Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Không bên nào có lỗi Không phạt cọc; bên nhận đặt cọc trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc Khoản 1 Điều 156, khoản 2 Điều 351 BLDS 2015; điểm d Mục 1 Phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP; Án lệ số 25/2018/AL

Thời điểm và cách xác định lỗi theo thực tiễn xét xử mới nhất

Thực tiễn xét xử gần đây, đặc biệt qua Án lệ số 79/2025/AL, làm rõ hai điểm quan trọng: hợp đồng đặt cọc không đương nhiên vô hiệu chỉ vì tài sản bảo đảm đang bị hạn chế quyền định đoạt, và lỗi của bên nhận đặt cọc chỉ được xác định tại đúng thời điểm các bên đã thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ, không phải tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc.

Thời điểm xác định lỗi của bên nhận đặt cọc khi tài sản bị hạn chế quyền định đoạt (đang thế chấp)

Án lệ số 79/2025/AL về chủ thể giao kết hợp đồng đặt cọc và hiệu lực của hợp đồng đặt cọc, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 24/12/2025 và công bố theo Quyết định số 339a/QĐ-CA ngày 25/12/2025, giải quyết chính xác tình huống nêu trên: các bên xác lập hợp đồng đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong khi bên đặt cọc đã biết rõ tài sản đang thế chấp tại ngân hàng nhưng vẫn đồng ý ký kết.

Theo nhận định của Hội đồng Thẩm phán tại án lệ này, việc tài sản đang thế chấp tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc không tự động cấu thành lỗi của bên nhận đặt cọc. Lỗi của bên nhận đặt cọc chỉ được xác định khi đến đúng ngày các bên đã thỏa thuận ký kết, công chứng hợp đồng chuyển nhượng mà tài sản thế chấp vẫn chưa được giải chấp, khiến việc giao kết hợp đồng chính không thể thực hiện được. Nếu bên đặt cọc chủ động từ chối ký kết vì lý do khác (ví dụ cho rằng giá chuyển nhượng quá cao) trước khi đến thời hạn thỏa thuận, lỗi thuộc về bên đặt cọc theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, không phải bên nhận đặt cọc.

Lưu ý, đây là điểm dễ nhầm lẫn trong thực tiễn: nhiều đương sự cho rằng chỉ cần tài sản đang thế chấp tại thời điểm đặt cọc là đủ căn cứ quy lỗi cho bên nhận đặt cọc hoặc tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu do lỗi của cả hai bên. Án lệ số 79/2025/AL bác bỏ cách hiểu này và yêu cầu xem xét đến đúng mốc thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đặt cọc để xác định lỗi chính xác.

Hợp đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập, không đương nhiên vô hiệu theo tình trạng pháp lý của tài sản

Án lệ số 79/2025/AL, dẫn chiếu khoản 2 Điều 3, Điều 117 và Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, xác định hợp đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà nó bảo đảm. Việc tài sản đang thế chấp tại ngân hàng trong thời gian thực hiện thỏa thuận đặt cọc không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng đặt cọc, miễn hợp đồng đặt cọc đáp ứng đầy đủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.

Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định lỗi hợp đồng đặt cọc: khi hợp đồng đặt cọc vẫn có hiệu lực, việc xử lý hậu quả buộc phải đi theo cơ chế xác định lỗi tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 (phạt cọc hoặc trả cọc), thay vì áp dụng cơ chế hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015.

Phân biệt hợp đồng đặt cọc vô hiệu và hợp đồng đặt cọc không thực hiện được vì có lỗi

Hai tình huống này dẫn đến hai cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau, nên cần được phân biệt rạch ròi trước khi xác định phương án khởi kiện phù hợp.

Tiêu chí Hợp đồng đặt cọc vô hiệu Hợp đồng đặt cọc không thực hiện được vì có lỗi
Nguyên nhân Không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự khi giao kết Hợp đồng đặt cọc hợp pháp, có hiệu lực nhưng một hoặc cả hai bên không thực hiện đúng nghĩa vụ
Căn cứ pháp lý Điều 117, Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 Khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015
Hậu quả pháp lý Các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng ban đầu; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường Bên có lỗi chịu phạt cọc (mất cọc hoặc trả cọc và khoản tiền tương đương), trừ trường hợp được miễn theo Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP
Có đương nhiên phát sinh phạt cọc không Không; chỉ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại thực tế Có; mức phạt cọc là mức luật định trừ khi các bên thỏa thuận khác

Lưu ý, thực tiễn xét xử trước đây từng có quan điểm tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu chỉ vì tài sản bảo đảm chưa đủ điều kiện chuyển nhượng tại thời điểm đặt cọc, dẫn đến việc bên có lỗi thực chất không phải chịu phạt cọc mà chỉ phải hoàn trả tiền cọc. Theo hướng dẫn tại Án lệ số 79/2025/AL, hợp đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập nên không đương nhiên vô hiệu theo tình trạng pháp lý của tài sản chuyển nhượng; do đó, khách hàng cần rà soát kỹ căn cứ Tòa án viện dẫn khi tuyên vô hiệu để bảo vệ đúng quyền lợi phạt cọc của mình.

>>> Xem thêm: Hướng dẫn xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết

Phân biệt hợp đồng đặt cọc vô hiệu với hợp đồng không thực hiện được vì có lỗi.
Việc phân biệt đúng tình trạng hợp đồng giúp xác định cơ chế hoàn trả hoặc phạt cọc phù hợp.

Thủ tục và chứng cứ chứng minh lỗi khi xảy ra tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Việc chứng minh lỗi của bên đối phương đòi hỏi chuẩn bị đầy đủ tài liệu thể hiện quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng đặt cọc trước khi khởi kiện yêu cầu Tòa án phân định trách nhiệm phạt cọc.

Hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị để chứng minh lỗi của bên đối phương

Thành phần hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị để chứng minh lỗi của bên đối phương trong tranh chấp hợp đồng đặt cọc bao gồm:

  • Hợp đồng đặt cọc và các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung kèm theo (nếu có).
  • Chứng cứ về việc giao nhận tài sản đặt cọc như biên nhận, sao kê chuyển khoản ngân hàng.
  • Tài liệu, giấy tờ về tài sản là đối tượng của hợp đồng chính (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp nếu tài sản đang thế chấp).
  • Tin nhắn, thư điện tử, biên bản làm việc thể hiện việc một bên từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng hoặc yêu cầu gia hạn thời gian thực hiện.
  • Văn bản, thông báo mời ký hợp đồng công chứng và biên bản xác nhận việc một bên vắng mặt hoặc từ chối ký.
  • Tài liệu chứng minh nguyên nhân khách quan (nếu viện dẫn bất khả kháng, trở ngại khách quan) như văn bản của cơ quan nhà nước xác nhận tiến độ xử lý hồ sơ.

Trình tự khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định lỗi và giải quyết phạt cọc

Khi các bên không tự thỏa thuận được về việc xác định lỗi, bên có quyền lợi bị xâm phạm có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo trình tự tố tụng dân sự sau:

  1. Chuẩn bị đơn khởi kiện và hồ sơ, tài liệu chứng minh việc giao kết hợp đồng đặt cọc, hành vi vi phạm của bên bị kiện theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  2. Nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về quyền khởi kiện và chủ thể có quyền khởi kiện.
  3. Tòa án thụ lý vụ án, thông báo cho bị đơn và tiến hành các thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  4. Tòa án đưa vụ án ra xét xử, trên cơ sở chứng cứ các bên cung cấp để xác định bên nào có lỗi làm hợp đồng đặt cọc không thực hiện được và tuyên hậu quả pháp lý tương ứng.

Lưu ý, Điều 186, Điều 187 và Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hiện vẫn giữ nguyên hiệu lực, tuy nhiên thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo mô hình Tòa án nhân dân khu vực đã có nhiều thay đổi kể từ ngày 01/7/2025, nên khách hàng cần xác định đúng Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền trước khi nộp đơn để tránh bị trả lại đơn khởi kiện.

Rủi ro thường gặp khi các bên tự thỏa thuận xác định lỗi mà không có căn cứ pháp lý vững chắc

Việc tự ý thỏa thuận ai có lỗi mà không đối chiếu đúng quy định pháp luật và án lệ hiện hành tiềm ẩn nhiều rủi ro khiến bên bị thiệt hại mất quyền đòi phạt cọc hoặc phải trả oan khoản tiền không đáng có.

  • Nhầm lẫn giữa hợp đồng đặt cọc vô hiệu và hợp đồng đặt cọc không thực hiện được vì có lỗi, dẫn đến từ bỏ quyền yêu cầu phạt cọc dù có đủ căn cứ.
  • Chấp nhận yêu cầu bồi thường của bên đối phương chỉ vì tài sản đang thế chấp, trong khi theo Án lệ số 79/2025/AL, tình trạng thế chấp không đương nhiên là lỗi của bên nhận đặt cọc.
  • Không lưu giữ chứng cứ về thời điểm, lý do từ chối giao kết hợp đồng, khiến việc chứng minh lỗi trở nên khó khăn khi phát sinh tranh chấp.
  • Thỏa thuận mức phạt cọc vượt quá quy định hoặc không rõ ràng ngay từ khi ký hợp đồng đặt cọc, gây tranh cãi khi xác định hậu quả.
  • Bỏ lỡ thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc do chậm trễ trong quá trình thương lượng mà không có văn bản gia hạn hoặc tạm hoãn hợp lệ.

Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp trong các giao dịch đất đai

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc với các công việc sau:

  • Rà soát hợp đồng đặt cọc, hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, tặng cho và toàn bộ hồ sơ giao dịch.
  • Đánh giá khả năng áp dụng các trường hợp miễn phạt cọc.
  • Tư vấn phương án thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện phù hợp với tình huống cụ thể của khách hàng.
  • Soạn thảo đơn khởi kiện, thu thập và củng cố chứng cứ chứng minh lỗi của bên đối phương.
  • Đại diện khách hàng tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi liên quan đến tài sản đặt cọc.
  • Tư vấn thủ tục kháng cáo bản án sơ thẩm.
  • Hỗ trợ thủ tục thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về xác định lỗi trong hợp đồng đặt cọc

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi cần xác định lỗi hợp đồng đặt cọc không thực hiện được. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP và các án lệ hiện hành liên quan đến đặt cọc.

1. Bên đặt cọc có được đòi lại tiền cọc nếu tự ý không mua nữa không?

Không. Theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Bên đặt cọc chỉ được nhận lại tiền cọc nếu chứng minh được lỗi thuộc về bên nhận đặt cọc, cả hai bên cùng có lỗi, hoặc có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.

2. Tài sản đang thế chấp ngân hàng thì hợp đồng đặt cọc có bị vô hiệu không?

Không đương nhiên vô hiệu. Theo Án lệ số 79/2025/AL, hợp đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập với hợp đồng chuyển nhượng, việc tài sản đang thế chấp tại thời điểm đặt cọc không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng đặt cọc nếu hợp đồng này đáp ứng đủ điều kiện tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.

3. Cả hai bên cùng vi phạm hợp đồng đặt cọc thì xử lý như thế nào?

Theo điểm d Mục 1 Phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP, nếu cả hai bên cùng có lỗi thì không phạt cọc. Bên nhận đặt cọc chỉ có nghĩa vụ trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc mà không phải trả thêm khoản tiền phạt tương đương giá trị tài sản đặt cọc.

4. Trở ngại khách quan có được coi là căn cứ miễn phạt cọc không?

Có, nếu chứng minh được. Theo khoản 1 Điều 156, khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 và điểm d Mục 1 Phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP, trường hợp việc không thực hiện được hợp đồng xuất phát từ sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì không bên nào bị phạt cọc, với điều kiện bên viện dẫn đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng để khắc phục.

5. Thời điểm nào để xác định bên nhận đặt cọc có lỗi khi tài sản đang thế chấp?

Theo Án lệ số 79/2025/AL, lỗi của bên nhận đặt cọc chỉ được xác định tại đúng thời điểm các bên đã thỏa thuận giao kết, công chứng hợp đồng chính mà tài sản thế chấp vẫn chưa được giải chấp, không phải tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc.

6. Khởi kiện yêu cầu xác định lỗi hợp đồng đặt cọc tại Tòa án nào?

Theo Điều 186, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện nộp đơn đến Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo nơi cư trú, làm việc của bị đơn hoặc theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đặt cọc hoặc thuộc trường hợp khác theo luật định.

Kết Luận

Xác định lỗi hợp đồng đặt cọc là căn cứ quyết định trực tiếp đến việc bên nào phải chịu phạt cọc, bên nào được nhận lại tài sản đặt cọc, và không thể tách rời khỏi việc phân tích chính xác thời điểm, nguyên nhân khiến hợp đồng chính không được giao kết hoặc thực hiện. Các quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP cùng các án lệ liên quan như Án lệ số 25/2018/AL và Án lệ số 79/2025/AL đã tạo thành khung pháp lý tương đối đầy đủ để giải quyết phần lớn các tình huống tranh chấp trên thực tế. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đánh giá căn cứ xác định lỗi và tư vấn phương án xử lý phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP
  • Án lệ số 25/2018/AL
  • Án lệ số 79/2025/AL
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , ,

Võ Mộng Thu

Thạc sĩ Luật sư Võ Mộng Thu - Thạc sĩ Luật sư 15 năm kinh nghiệm tố tụng, tranh chấp lao động, doanh nghiệp. Hiện Luật sư Thu là luật sư cộng sự tại Công ty Luật Long Phan PMT

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87