Hướng dẫn xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết

Xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết là vấn đề phát sinh phổ biến trong giao dịch mua bán nhà đất, chuyển nhượng tài sản khi một trong hai bên thay đổi ý định hoặc phát sinh trở ngại ngoài dự liệu ban đầu. Luật Long Phan PMT nhận thấy phần lớn tranh chấp xảy ra vì các bên không phân biệt rõ ba kịch bản pháp lý áp dụng cho hợp đồng dân sự đặt cọc, dẫn đến xác định sai hậu quả về tiền cọc và bỏ lỡ quyền lợi hợp pháp của mình. Bài viết dưới đây phân tích căn cứ pháp lý cụ thể cho từng trường hợp, quy trình xử lý tranh chấp và những rủi ro cần lưu ý.

Xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết theo lỗi của các bên.
Tiền đặt cọc được xử lý theo lỗi của bên đặt cọc, bên nhận đặt cọc hoặc lý do khách quan.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Việc xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết phụ thuộc trước tiên vào việc xác định bên nào có lỗi dẫn đến việc không giao kết hợp đồng, theo nguyên tắc tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015.
  • Trường hợp việc không giao kết được hợp đồng xuất phát từ lý do khách quan nằm ngoài ý chí của các bên, theo Án lệ số 25/2018/AL, bên vi phạm cam kết chỉ phải trả lại tiền cọc mà không phải chịu phạt cọc.
  • Hợp đồng đặt cọc có thể bị tuyên vô hiệu nếu vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự hoặc có đối tượng không thể thực hiện được ngay từ khi giao kết, khi đó hậu quả xử lý tiền cọc sẽ khác với quy định thông thường tại Điều 328.
  • Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc là 03 năm kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm, nên các bên cần chủ động thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn này để tránh mất quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ.

Nội Dung Bài Viết

Hậu quả pháp lý đối với tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết

Khi hợp đồng chính không được giao kết, tiền đặt cọc được xử lý theo một trong ba kịch bản dựa trên việc xác định lỗi: bên đặt cọc từ chối giao kết sẽ mất cọc, bên nhận đặt cọc từ chối giao kết phải trả cọc và chịu phạt cọc, còn nếu không bên nào có lỗi thì không phát sinh phạt cọc.

Bên đặt cọc từ chối giao kết hợp đồng chính — mất tiền đặt cọc

Theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Đây là hậu quả pháp lý mặc định áp dụng khi bên giao tiền cọc là bên chủ động không muốn tiếp tục giao dịch, không có lý do khách quan hợp lý được chứng minh.

Trên thực tế, tình huống này thường phát sinh khi bên mua tìm được tài sản khác phù hợp hơn, thay đổi kế hoạch tài chính hoặc đơn giản không còn nhu cầu mua. Pháp luật không yêu cầu bên nhận đặt cọc phải chứng minh thiệt hại thực tế mới được giữ lại tiền cọc; hậu quả này phát sinh đương nhiên từ việc bên đặt cọc từ chối giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về mức phạt cọc trong văn bản đặt cọc.

Bên nhận đặt cọc từ chối giao kết hợp đồng chính — phải trả cọc và chịu phạt cọc

Theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Về bản chất, đây là mức phạt cọc do pháp luật ấn định khi các bên không có thỏa thuận riêng.

Trường hợp thường gặp là bên bán nhận cọc rồi tiếp tục nhận cọc của người khác với giá cao hơn, hoặc thay đổi ý định không muốn bán tài sản nữa. Lưu ý mức phạt cọc theo luật định chỉ bằng một lần giá trị tài sản đặt cọc; nếu các bên muốn áp dụng mức phạt cao hơn hoặc thấp hơn, cần thỏa thuận rõ bằng văn bản ngay từ khi giao kết hợp đồng đặt cọc, vì Tòa án chỉ chấp nhận mức phạt khác luật định khi có căn cứ thỏa thuận rõ ràng, không suy đoán theo ý chí giả định của các bên.

Không bên nào có lỗi hoặc việc không giao kết được do lý do khách quan — không phát sinh phạt cọc

Bộ luật Dân sự 2015 không trực tiếp quy định trường hợp việc không giao kết hợp đồng chính xuất phát từ nguyên nhân khách quan nằm ngoài ý chí của các bên. Khoảng trống này được giải quyết bằng Án lệ số 25/2018/AL ngày 17/10/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nguồn án lệ từ Quyết định giám đốc thẩm số 79/2012/DS-GĐT ngày 23/02/2012 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Nội dung án lệ xác định: nếu bên nhận đặt cọc không thể hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trong thời hạn đã cam kết do lỗi thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đây là nguyên nhân khách quan và bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc, chỉ phải trả lại tiền cọc cho bên đặt cọc. Nguyên tắc này áp dụng tương tự cho các trường hợp việc không giao kết hợp đồng chính xuất phát từ nguyên nhân khách quan khác nằm ngoài khả năng kiểm soát của bên vi phạm cam kết.

Lưu ý việc chứng minh “lý do khách quan” trên thực tế đòi hỏi bên vi phạm phải có tài liệu, chứng cứ cụ thể thể hiện nguyên nhân đến từ bên thứ ba hoặc cơ quan nhà nước, không phải do sự chậm trễ, thiếu chuẩn bị của chính bên đó. Các văn bản như công văn trả lời của cơ quan đăng ký đất đai, thông báo tạm dừng giao dịch, quyết định của cơ quan thi hành án hoặc văn bản xác nhận tài sản đang trong quy hoạch cần được thu thập và lưu giữ ngay từ khi phát sinh sự kiện, vì đây là chứng cứ quyết định để Tòa án áp dụng nguyên tắc miễn phạt cọc theo Án lệ số 25/2018/AL thay vì áp dụng chế tài phạt cọc thông thường tại khoản 2 Điều 328.

Bảng tổng hợp ba kịch bản xử lý tiền đặt cọc:

Trường hợp Hậu quả với tiền đặt cọc Căn cứ pháp lý
Bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng chính Mất toàn bộ tiền đặt cọc, tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc Khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015
Bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng chính Phải trả lại tiền đặt cọc và một khoản tiền phạt cọc tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015
Không bên nào có lỗi, việc không giao kết do lý do khách quan Bên vi phạm cam kết chỉ trả lại tiền đặt cọc, không phải chịu phạt cọc Án lệ số 25/2018/AL
Hậu quả pháp lý đối với tiền đặt cọc khi các bên từ chối giao kết hợp đồng chính.
Hậu quả tiền cọc phụ thuộc vào bên từ chối giao kết và nguyên nhân khiến hợp đồng chính không được ký.

Các trường hợp đặc biệt ảnh hưởng đến việc xử lý tiền đặt cọc

Ngoài ba kịch bản chuẩn tại Điều 328, tiền đặt cọc còn có thể bị xử lý theo hướng khác khi chính hợp đồng đặt cọc bị tuyên vô hiệu hoặc đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được ngay từ đầu. Việc xác định đúng tình huống đặc biệt này quyết định căn cứ pháp lý áp dụng khi giải quyết tranh chấp.

Hợp đồng đặt cọc vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chủ thể có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự phù hợp, chủ thể tham gia hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Khi hợp đồng đặt cọc vi phạm một trong các điều kiện này, hợp đồng bị vô hiệu theo các căn cứ cụ thể quy định từ Điều 123 đến Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015, ví dụ đặt cọc do bị lừa dối, đe dọa, hoặc đặt cọc bằng tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp.

Theo Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015, quy định về giao dịch dân sự vô hiệu được áp dụng cho hợp đồng vô hiệu. Hậu quả pháp lý khi hợp đồng đặt cọc vô hiệu được xác định theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015: các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, tức bên nhận đặt cọc phải trả lại tiền cọc cho bên đặt cọc mà không áp dụng chế tài phạt cọc theo khoản 2 Điều 328. Lưu ý đây là điểm khác biệt quan trọng nhất so với ba kịch bản chuẩn: khi hợp đồng đặt cọc vô hiệu, kể cả bên nhận đặt cọc có lỗi khiến hợp đồng chính không được giao kết, tiền phạt cọc theo Điều 328 cũng không được áp dụng vì bản thân biện pháp bảo đảm đã không có hiệu lực pháp luật ngay từ đầu.

Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được ngay từ khi giao kết

Theo khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu. Đây là trường hợp đặc thù, ví dụ đặt cọc để mua một thửa đất đã bị thu hồi hoặc sáp nhập vào dự án của Nhà nước trước thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc mà các bên không biết.

Khoản 2 Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thêm: bên biết hoặc phải biết đối tượng hợp đồng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc đối tượng hợp đồng không thể thực hiện được. Lưu ý điểm mấu chốt khi vận dụng ngoại lệ này là phải chứng minh đối tượng hợp đồng không tồn tại hoặc không thể thực hiện được ngay tại thời điểm giao kết đặt cọc, chứ không phải phát sinh sau đó; nếu đối tượng chỉ trở nên khó thực hiện sau khi ký kết, tình huống này thuộc phạm vi điều chỉnh khác của Bộ luật Dân sự 2015, không áp dụng Điều 408.

>>> Xem thêm: Cách thức để phòng ngừa rủi ro hợp đồng đặt cọc đất an toàn

Quy trình xử lý tranh chấp tiền đặt cọc khi không ký được hợp đồng chính

Khi phát sinh bất đồng về xử lý tiền đặt cọc, các bên nên ưu tiên thương lượng trước khi khởi kiện, đồng thời cần lưu ý thời hiệu khởi kiện để không mất quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi. Trình tự xử lý thường theo các bước sau đây.

  1. Rà soát văn bản đặt cọc, xác định căn cứ và mức độ lỗi của mỗi bên trong việc không giao kết hợp đồng chính.
  2. Gửi văn bản thông báo hoặc đề nghị thương lượng, nêu rõ yêu cầu về việc trả lại tiền cọc, phạt cọc hoặc không phạt cọc kèm căn cứ pháp lý áp dụng.
  3. Nếu thương lượng không thành, chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gửi Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  4. Tham gia quá trình giải quyết tại Tòa án, cung cấp chứng cứ chứng minh lỗi hoặc lý do khách quan theo yêu cầu của Thẩm phán.

Thương lượng, thỏa thuận trực tiếp về việc trả lại hoặc phạt cọc

Thương lượng là bước cần thực hiện trước tiên vì giúp các bên tiết kiệm thời gian, chi phí so với việc khởi kiện tại Tòa án. Theo thực tiễn giải quyết, các bên nên lập biên bản thỏa thuận hoặc văn bản xác nhận kết quả thương lượng, ghi rõ số tiền hoàn trả, thời hạn thanh toán và phương thức thực hiện để làm căn cứ nếu một bên không tuân thủ sau này.

Trường hợp một bên né tránh trao đổi hoặc đưa ra yêu cầu không có căn cứ pháp lý, bên còn lại nên gửi văn bản yêu cầu chính thức qua bưu điện có xác nhận hoặc lập vi bằng, làm bằng chứng đã thực hiện quyền yêu cầu trước khi khởi kiện.

Khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Kể từ ngày 01/7/2025, theo Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo ba cấp gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực; Tòa án nhân dân khu vực thay thế Tòa án nhân dân cấp huyện, xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền theo lãnh thổ, đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú, làm việc theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của từng Tòa án nhân dân khu vực đối với vụ việc dân sự được xác định cụ thể theo khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đối với tranh chấp hợp đồng đặt cọc, mốc thời gian này thường được tính từ ngày một bên từ chối giao kết hợp đồng chính hoặc từ chối trả lại, thanh toán tiền cọc.

Theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên, với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Luật sư lưu ý quy định này đồng nghĩa nếu bị đơn không chủ động yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án vẫn có thể thụ lý và giải quyết vụ việc dù đã hết thời hiệu khởi kiện theo Điều 429. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi được xem xét đầy đủ và không phụ thuộc vào việc bên còn lại có nêu vấn đề thời hiệu hay không, bên có quyền vẫn nên khởi kiện trong thời hạn 03 năm kể từ khi quyền lợi bị xâm phạm.

>>> Xem thêm: Hướng dẫn đòi tiền đặt cọc mua đất qua trung gian cá nhân

Hồ sơ, chứng cứ chuẩn bị xử lý tranh chấp tiền đặt cọc

Kết quả giải quyết tranh chấp tiền đặt cọc phụ thuộc phần lớn vào khả năng chứng minh việc giao nhận tiền và nguyên nhân dẫn đến việc không giao kết được hợp đồng chính. Thiếu một trong hai nhóm tài liệu này sẽ khiến yêu cầu khởi kiện khó được chấp nhận toàn bộ.

Tài liệu chứng minh việc giao nhận tiền đặt cọc và nội dung thỏa thuận

Nhóm tài liệu này cần thu thập đầy đủ trước khi tiến hành thương lượng hoặc khởi kiện, bao gồm:

  • Văn bản thỏa thuận đặt cọc, hợp đồng đặt cọc hoặc giấy biên nhận tiền cọc có chữ ký của các bên.
  • Chứng từ chuyển khoản ngân hàng hoặc biên lai, giấy biên nhận tiền mặt thể hiện số tiền và thời điểm giao nhận.
  • Tin nhắn, thư điện tử, ghi âm trao đổi giữa các bên về mục đích đặt cọc, thời hạn giao kết hợp đồng chính.
  • Giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản là đối tượng của hợp đồng dự kiến giao kết, ví dụ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở.

Chứng cứ xác định nguyên nhân và lỗi dẫn đến việc không giao kết được hợp đồng chính

Nhóm chứng cứ này quyết định việc áp dụng kịch bản phạt cọc, không phạt cọc hay hợp đồng vô hiệu, cần chuẩn bị các tài liệu sau:

  • Văn bản trao đổi, thông báo về việc từ chối giao kết hoặc trì hoãn ký kết hợp đồng chính.
  • Tài liệu chứng minh nguyên nhân khách quan nếu viện dẫn Án lệ số 25/2018/AL, như công văn của cơ quan nhà nước, quyết định của cơ quan thi hành án, thông báo tạm dừng giao dịch.
  • Biên bản làm việc, biên bản hòa giải giữa các bên nếu đã từng thương lượng.
  • Tài liệu chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản tại thời điểm giao kết đặt cọc nếu viện dẫn trường hợp hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được.
Hồ sơ chứng cứ tranh chấp tiền đặt cọc gồm thỏa thuận, chứng từ và tài liệu liên quan.
Hồ sơ cần tập trung vào chứng cứ giao nhận tiền, nội dung thỏa thuận và nguyên nhân không giao kết hợp đồng.

Rủi ro cần lưu ý khi xử lý khoản tiền đặt cọc trên thực tế

Nhiều tranh chấp tiền đặt cọc kéo dài và bất lợi cho một bên không phải vì thiếu căn cứ pháp lý mà vì các sai sót thực tế có thể phòng tránh từ đầu. Doanh nghiệp và cá nhân cần lưu ý ba nhóm rủi ro phổ biến dưới đây.

Rủi ro không quy định rõ mức phạt cọc, mục đích đặt cọc trong văn bản thỏa thuận

Nếu văn bản đặt cọc không ghi rõ mục đích bảo đảm giao kết hợp đồng, Tòa án có thể xác định đây là khoản tiền trả trước chứ không phải tiền đặt cọc theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, dẫn đến không áp dụng được chế tài phạt cọc dù bên nhận tiền từ chối giao kết. Bên đặt cọc nên yêu cầu ghi rõ cụm từ “đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng” và mức phạt cọc cụ thể ngay trong văn bản.

Rủi ro bỏ lỡ thời hiệu khởi kiện do kéo dài thương lượng

Việc thương lượng kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mà không có kết quả có thể khiến bên có quyền lợi bị xâm phạm bỏ lỡ thời hiệu 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015. Doanh nghiệp, cá nhân nên chủ động tính toán mốc thời gian phát sinh quyền khởi kiện và cân nhắc khởi kiện trước khi thời hiệu sắp hết, thay vì chờ đợi kết quả thương lượng không chắc chắn.

Rủi ro thiếu chứng cứ chứng minh lỗi hoặc lý do khách quan khi tranh chấp tại Tòa án

Nhiều trường hợp bên vi phạm cam kết không lưu giữ tài liệu chứng minh nguyên nhân khách quan ngay tại thời điểm phát sinh sự kiện, đến khi tranh chấp mới thu thập thì tài liệu đã không còn hoặc cơ quan liên quan không còn lưu trữ. Điều này khiến lập luận về lý do khách quan theo Án lệ số 25/2018/AL không có căn cứ vững chắc để Tòa án chấp nhận, dẫn đến vẫn phải chịu phạt cọc theo khoản 2 Điều 328.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ giải quyết tranh chấp liên quan đến tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết với các công việc sau:

  • Rà soát văn bản đặt cọc, xác định đúng bản chất khoản tiền đã giao và căn cứ áp dụng.
  • Đánh giá lỗi của các bên trong việc không giao kết hợp đồng chính và xác định kịch bản xử lý tiền cọc phù hợp.
  • Thu thập, hệ thống hóa chứng cứ chứng minh lý do khách quan hoặc lỗi của bên vi phạm.
  • Soạn thảo văn bản thương lượng, đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền.
  • Tư vấn phương án bảo vệ quyền lợi khi hợp đồng đặt cọc có dấu hiệu vô hiệu.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

>>> Xem thêm: Luật sư đàm phán và xử lý tranh chấp hợp đồng phức tạp

Câu hỏi thường gặp về xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi xử lý tiền đặt cọc trong trường hợp hợp đồng chính không được ký kết, liên quan đến mức phạt cọc, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết.

1. Đặt cọc mua nhà nhưng bên bán không bán nữa thì xử lý tiền cọc thế nào?

Theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên bán (bên nhận đặt cọc) từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại tiền đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc cho bên mua, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về mức phạt cọc. Bên mua có quyền yêu cầu bên bán thực hiện nghĩa vụ này ngay khi phát sinh việc từ chối giao kết.

2. Bên mua tự ý không mua nữa thì có được đòi lại tiền cọc không?

Theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Do đó, trong trường hợp này bên mua không được đòi lại tiền cọc, trừ khi chứng minh được việc từ chối xuất phát từ lý do khách quan theo nguyên tắc tại Án lệ số 25/2018/AL.

3. Không giao kết được hợp đồng vì lý do khách quan thì có bị phạt cọc không?

Theo Án lệ số 25/2018/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nếu việc không thể thực hiện đúng cam kết xuất phát từ nguyên nhân khách quan nằm ngoài ý chí của bên vi phạm, bên đó chỉ phải trả lại tiền cọc mà không phải chịu phạt cọc. Bên viện dẫn lý do khách quan cần cung cấp tài liệu, chứng cứ cụ thể chứng minh nguyên nhân này để Tòa án có căn cứ áp dụng.

4. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc là bao lâu?

Theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn khởi kiện được nộp tại Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc thuộc nơi khác tùy thuộc từng trường hợp cụ thể.

5. Khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc nộp đơn tại Tòa án nào?

Theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn khởi kiện được nộp tại Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc tại Tòa án có thẩm quyền theo các trường hợp khác mà pháp luật quy định.

6. Hợp đồng đặt cọc không công chứng có được coi là vô hiệu không?

Pháp luật hiện hành không bắt buộc hợp đồng đặt cọc phải công chứng, chứng thực; hình thức của đặt cọc do các bên tự thỏa thuận. Hợp đồng đặt cọc chỉ bị coi là vô hiệu khi vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 hoặc thuộc trường hợp có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015, không phải vì lý do chưa công chứng.

Kết luận

Xử lý tiền đặt cọc khi hợp đồng chính không được ký kết đòi hỏi xác định đúng bên có lỗi, phân biệt rõ trường hợp áp dụng chế tài phạt cọc theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 với trường hợp miễn phạt cọc theo Án lệ số 25/2018/AL hoặc hợp đồng đặt cọc vô hiệu. Việc chuẩn bị đầy đủ chứng cứ và hành động trong thời hiệu khởi kiện là yếu tố quyết định đến khả năng bảo vệ quyền lợi của các bên. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tư vấn phương án xử lý phù hợp; quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Án lệ số 25/2018/AL ngày 17/10/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , ,

Vũ Viết Năng

Luật sư Vũ Viết Năng nguyên là Chánh án, Thẩm phán TAND huyện Hải Hậu, Nam Định. Hiện là Luật sư Cộng sự của Công ty Luật Long Phan PMT. Luật sư có 35 năm kinh nghiệm trong công tác xét xử, chuyên môn trong các lĩnh vực Hành chính, dân sự, hợp đồng. Luật sư luôn sẵn sàng tư vấn pháp lí miễn phí cho các đối tượng khó khăn và là điểm tựa để thân chủ đặt niềm tin khi đang gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87