Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều bị can và thân nhân còn lúng túng khi tìm hiểu về việc luật sư tham gia hỏi cung bị can, đặc biệt là thời điểm nào luật sư được tham gia, cần chuẩn bị hồ sơ gì và luật sư có những quyền cụ thể nào trong buổi hỏi cung. Đây là một trong những hoạt động quan trọng nhất của thủ tục tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra, ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ quyền lợi của bị can trước những lời khai bất lợi hoặc hành vi vi phạm tố tụng. Bài viết dưới đây phân tích vai trò của luật sư trong buổi hỏi cung bị can, căn cứ theo quy định hiện hành.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Luật sư được tham gia hỏi cung bị can kể từ khi có tư cách người bào chữa, tức là từ khi hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
- Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc trụ sở Cơ quan điều tra bắt buộc phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
- Bị can có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
- Nếu phát hiện vi phạm trong quá trình hỏi cung, luật sư và bị can có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng theo thời hạn luật định.
Hỏi cung bị can là gì và khi nào luật sư được tham gia?
Trước khi phân tích vai trò cụ thể của luật sư, cần hiểu rõ bản chất pháp lý của hoạt động hỏi cung và thời điểm luật sư chính thức có quyền tham gia vào quá trình này. Đây là hai vấn đề nền tảng quyết định luật sư có thể can thiệp bảo vệ bị can từ giai đoạn nào của vụ án. Việc nắm rõ hai nội dung này giúp bị can và thân nhân chủ động hơn trong việc mời luật sư kịp thời, tránh bỏ lỡ những buổi hỏi cung quan trọng đầu tiên.
Hỏi cung bị can là một hoạt động điều tra trong vụ án hình sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, có thể được thực hiện tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của bị can. Trước khi hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và việc này phải được ghi vào biên bản. Trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên có thể trực tiếp hỏi cung bị can theo khoản 4 Điều 183 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Thời điểm luật sư được tham gia vào hoạt động hỏi cung bị can
Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; trường hợp bắt, tạm giữ người thì tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở Cơ quan điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Để chính thức có quyền tham gia hỏi cung, luật sư cần hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa bằng cách nộp hồ sơ cho cơ quan đang thụ lý vụ án, thông thường là Cơ quan điều tra ở giai đoạn hỏi cung.
Theo khoản 2 Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, hồ sơ đăng ký bào chữa của luật sư gồm:
- Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực;
- Chứng chỉ hành nghề luật sư kèm theo bản sao có chứng thực;
- Giấy yêu cầu luật sư bào chữa của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội.
Theo Điều 6 Thông tư 46/2019/TT-BCA, trực ban hình sự của Cơ quan điều tra hoặc trực ban hình sự của từng đơn vị điều tra (trường hợp không tổ chức trực ban hình sự chung) có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký bào chữa; Điều tra viên có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và nếu hồ sơ đã bảo đảm theo khoản 2 Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì trình Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (khi được phân công hoặc ủy quyền) ký Thông báo về việc đăng ký bào chữa và vào sổ đăng ký bào chữa; nếu hồ sơ chưa bảo đảm, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra thông báo cho người đăng ký bào chữa biết để bổ sung.
Về thời hạn giải quyết: Theo khoản 4 Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ nêu trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra và vào sổ đăng ký bào chữa nếu không thuộc trường hợp từ chối, đồng thời gửi văn bản thông báo người bào chữa cho luật sư và cơ sở giam giữ. Kể từ thời điểm nhận được thông báo này, luật sư mới chính thức có quyền tham gia hỏi cung cùng với Điều tra viên.
Quyền của luật sư khi tham gia buổi hỏi cung bị can
Sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa, luật sư được pháp luật trao nhiều quyền cụ thể trong buổi hỏi cung nhằm bảo đảm việc hỏi cung diễn ra đúng trình tự, không xâm phạm quyền lợi hợp pháp của bị can. Những quyền này được quy định tập trung tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, áp dụng xuyên suốt quá trình điều tra chứ không chỉ riêng buổi hỏi cung.
Quyền có mặt và được hỏi bị can trong buổi hỏi cung
Theo điểm b khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can; sau mỗi lần hỏi cung kết thúc, luật sư có thể hỏi bị can theo quy định tại điểm này. Quyền này giúp luật sư trực tiếp theo dõi diễn biến hỏi cung, kịp thời phát hiện các câu hỏi mang tính dẫn dắt, mớm cung hoặc gây bất lợi không cần thiết cho bị can.
Quyền được báo trước thời gian, địa điểm hỏi cung
Theo điểm d khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, luật sư được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung để chủ động sắp xếp có mặt. Quy định này thống nhất với khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, theo đó trước mỗi lần hỏi cung, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành.
Thủ tục để luật sư được tham gia buổi hỏi cung
Sau khi đã có tư cách người bào chữa, luật sư cần thực hiện đúng trình tự sau để có mặt hợp lệ trong từng buổi hỏi cung bị can:
- Chuẩn bị giấy đăng ký bào chữa đã được cơ quan tiến hành tố tụng thông báo chấp nhận cùng bản chính thẻ luật sư.
- Theo dõi lịch hỏi cung đã được Điều tra viên thông báo trước theo quy định tại khoản 1 Điều 183 và điểm d khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Có mặt đúng thời gian, địa điểm tại nơi tạm giam, tạm giữ để tham gia hỏi cung cùng Điều tra viên.
Đối với trường hợp luật sư đề nghị gặp bị can đang bị tạm giam (bao gồm cả việc tham gia hỏi cung, làm việc ngoài kế hoạch của Cơ quan điều tra), theo đoạn 2 khoản 1 Điều 12 Thông tư 46/2019/TT-BCA, cơ quan đang quản lý bị can đang bị tạm giam có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án để cơ quan này cử người phối hợp với cơ sở giam giữ giám sát cuộc gặp nếu xét thấy cần thiết; cơ quan Công an, cơ sở giam giữ không được hạn chế số lần và thời gian của mỗi lần gặp giữa người bào chữa với bị can đang bị tạm giam.
Cần lưu ý thêm, theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, đối với vụ án cần giữ bí mật điều tra thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng — bao gồm việc tham gia hỏi cung — từ khi kết thúc điều tra. Ngoài trường hợp đặc thù này, luật sư chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đăng ký bào chữa và liên hệ trực tiếp cán bộ tại cơ sở giam giữ để thực hiện thủ tục trích xuất, thăm gặp và hỏi cung theo trình tự tại Điều 12 Thông tư 46/2019/TT-BCA.
Quy định riêng khi hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi
Đối với bị can là người dưới 18 tuổi, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đặt ra một số yêu cầu nghiêm ngặt hơn nhằm bảo đảm quyền lợi cho nhóm chủ thể đặc biệt này, xuất phát từ đặc điểm về tâm lý, nhận thức chưa hoàn thiện của người chưa thành niên. Các quy định này tập trung vào nghĩa vụ thông báo và sự bắt buộc có mặt của người bào chữa khi tiến hành hỏi cung.
Nghĩa vụ thông báo và bắt buộc có mặt người bào chữa
Theo khoản 1 Điều 421 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khi hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện của bị can biết. Theo khoản 2 Điều 421 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, việc hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ; đây là quy định bắt buộc, khác với trường hợp bị can đã thành niên chỉ cần được báo trước.
Bảo đảm quyền bào chữa của bị can dưới 18 tuổi
Theo Điều 422 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện của họ không mời người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Ngoài ra, theo Điều 5 Thông tư 46/2019/TT-BCA, đối với người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, hoặc người đại diện, người thân thích của họ có đơn yêu cầu người bào chữa, Cơ quan điều tra, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thực hiện các thủ tục giải thích, thông báo quyền nhờ người bào chữa theo Điều 3 và Điều 4 Thông tư 46/2019/TT-BCA.
Quy định về ghi âm, ghi hình khi hỏi cung và vai trò giám sát của luật sư
Một trong những điểm mới quan trọng của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 so với trước đây là yêu cầu bắt buộc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong hoạt động hỏi cung bị can, nhằm hạn chế tình trạng bức cung, mớm cung, nhục hình. Việc này đồng thời tạo thêm căn cứ để luật sư giám sát tính hợp pháp của toàn bộ quá trình hỏi cung.
Trường hợp bắt buộc ghi âm, ghi hình có âm thanh
Theo khoản 6 Điều 183 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; việc hỏi cung tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Vai trò của luật sư trong giám sát tính hợp pháp của biên bản hỏi cung
Theo khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP, trong giai đoạn điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cán bộ điều tra cùng Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên sử dụng kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh để phục vụ công tác điều tra khi bị can thay đổi lời khai, đồng thời để kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, cán bộ điều tra trong quá trình hỏi cung. Trên cơ sở đó, luật sư có thể đối chiếu nội dung biên bản hỏi cung với dữ liệu ghi âm, ghi hình để phát hiện các trường hợp Điều tra viên, cán bộ điều tra tự ý thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can — hành vi bị nghiêm cấm theo Điều 183 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Bên cạnh đó. theo khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP, văn bản này còn nghiêm cấm việc tự ý chỉnh sửa, cắt, ghép, giả mạo, hủy trái phép, làm sai lệch dữ liệu ghi âm, ghi hình hoặc sao chép, phát tán, khai thác, sử dụng kết quả ghi âm, ghi hình ngoài mục đích luật định. Luật sư cũng nên chủ động yêu cầu được đọc biên bản hoặc để bị can tự đọc, ký xác nhận trước khi kết thúc buổi hỏi cung, nhằm bảo đảm biên bản phản ánh đúng lời khai thực tế.

Những quyền lợi của bị can, bị cáo khi luật sư cùng tham gia buổi hỏi cung
Sự có mặt của luật sư trong buổi hỏi cung không chỉ mang ý nghĩa hình thức mà còn gắn liền với việc bảo đảm thực chất các quyền cơ bản của bị can trong tố tụng hình sự. Ba nhóm quyền dưới đây là những quyền mà luật sư có trách nhiệm giám sát chặt chẽ nhất trong quá trình hỏi cung.
Được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, không bị bức cung, dùng nhục hình
Theo Điều 10 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể; pháp luật nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người trong quá trình tố tụng. Sự có mặt của luật sư là một trong những cơ chế thực tế giúp phát hiện và ngăn chặn sớm các hành vi vi phạm nguyên tắc này.
Được thực hiện đầy đủ quyền suy đoán vô tội và quyền không tự buộc tội
Theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, theo điểm d khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, bị can có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến nhưng không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Luật sư có trách nhiệm nhắc nhở, bảo đảm bị can hiểu và thực hiện đúng quyền này trong suốt buổi hỏi cung.
Được bảo đảm quyền bào chữa xuyên suốt quá trình hỏi cung
Theo Điều 16 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa của mình. Đây là nguyên tắc xuyên suốt, làm cơ sở cho toàn bộ các quyền cụ thể của luật sư và bị can đã phân tích ở các phần trên.
Hướng xử lý khi phát hiện vi phạm trong buổi hỏi cung
Trường hợp luật sư hoặc bị can nhận thấy quyết định, hành vi tố tụng trong buổi hỏi cung có dấu hiệu trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, pháp luật cho phép thực hiện quyền khiếu nại để yêu cầu xem xét lại. Việc nắm rõ trình tự khiếu nại giúp luật sư phản ứng kịp thời, tránh bỏ lỡ thời hiệu.
Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
Theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại được liệt kê tại Điều 470 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trong đó bao gồm hành vi tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra trong quá trình hỏi cung.
Như vậy,theo điểm a khoản 1 Điều 472 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người khiếu nại có quyền tự mình khiếu nại hoặc thông qua người bào chữa để thực hiện việc khiếu nại.
Thời hạn và trình tự giải quyết khiếu nại
Theo khoản 1 Điều 471 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật. Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (trừ khiếu nại về việc giữ người, bắt, tạm giữ, tạm giam), theo khoản 1 Điều 475 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có trách nhiệm xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu, người khiếu nại có quyền khiếu nại tiếp lên Viện kiểm sát cùng cấp để được xem xét theo trình tự tiếp theo quy định tại Điều 475 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Rủi ro cho bị can nếu không có luật sư tham gia hỏi cung
Việc hỏi cung bị can là hoạt động tố tụng quan trọng, bởi nội dung lời khai có thể được sử dụng để kiểm tra, đánh giá chứng cứ và làm rõ trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, bị can thường không có kiến thức pháp luật chuyên sâu và có thể chịu áp lực tâm lý trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra. Nếu không có luật sư tham gia hỏi cung để hỗ trợ pháp lý, theo dõi thủ tục và bảo vệ quyền lợi, bị can có thể đối mặt với nhiều rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình bào chữa về sau.
Rủi ro đưa ra lời khai bất lợi thiếu cơ sở pháp lý bảo vệ
Theo thực tiễn tham gia bào chữa, khi không có luật sư, bị can dễ đưa ra những lời khai bất lợi do tâm lý hoang mang, chưa hiểu rõ hệ quả pháp lý của từng câu trả lời, hoặc chưa nắm được quyền không buộc phải khai báo chống lại chính mình theo điểm d khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Những lời khai này có thể trở thành chứng cứ bất lợi khó cải chính ở các giai đoạn tố tụng sau.
Rủi ro vi phạm tố tụng không được phát hiện, khiếu nại kịp thời
Nếu không có luật sư theo dõi trực tiếp, các sai sót về trình tự hỏi cung, việc không thông báo trước thời gian địa điểm, hoặc dấu hiệu mớm cung, ép cung có thể không được phát hiện ngay tại thời điểm xảy ra. Doanh nghiệp, gia đình bị can nên lưu ý rằng thời hiệu khiếu nại chỉ 15 ngày theo Điều 471 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, nên việc chậm phát hiện vi phạm có thể khiến bị can mất quyền khiếu nại đúng hạn.
Dịch vụ luật sư bào chữa tham gia hỏi cung của Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ bị can và gia đình trong các vụ việc cần luật sư tham gia hỏi cung bị can với các công việc sau:
- Tư vấn quyền và nghĩa vụ của bị can khi bị hỏi cung theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Chuẩn bị và nộp hồ sơ đăng ký bào chữa tại Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án.
- Có mặt cùng Điều tra viên trong các buổi hỏi cung để giám sát tính hợp pháp của quá trình hỏi cung.
- Đối chiếu biên bản hỏi cung với dữ liệu ghi âm, ghi hình nhằm phát hiện sai lệch về nội dung lời khai.
- Soạn thảo đơn khiếu nại và đại diện bị can làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng khi phát hiện vi phạm.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về vai trò của luật sư tham gia hỏi cung bị can
Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp liên quan đến việc luật sư tham gia hỏi cung bị can. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
1. Luật sư có bắt buộc phải có mặt trong mọi buổi hỏi cung bị can không?
Đối với bị can đã thành niên, pháp luật không bắt buộc luật sư phải có mặt trong mọi buổi hỏi cung, mà chỉ quy định luật sư có quyền có mặt theo điểm b khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Tuy nhiên, đối với bị can là người dưới 18 tuổi, theo khoản 2 Điều 421 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, việc hỏi cung bắt buộc phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện. Do đó, mức độ bắt buộc phụ thuộc vào độ tuổi và tình trạng cụ thể của bị can.
2. Bị can bị tạm giam có được tự chọn luật sư tham gia hỏi cung không?
Bị can hoặc người đại diện, người thân thích của bị can có quyền mời luật sư bào chữa thông qua giấy yêu cầu luật sư theo khoản 2 Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Sau khi luật sư hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa theo Điều 6 Thông tư 46/2019/TT-BCA và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận, luật sư mới chính thức có quyền tham gia hỏi cung theo quy định.
3. Hồ sơ đăng ký bào chữa để luật sư tham gia hỏi cung gồm những gì?
Theo khoản 2 Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, luật sư cần xuất trình thẻ luật sư kèm bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của họ. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm kiểm tra và thông báo chấp nhận trong thời hạn 24 giờ theo khoản 4 Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trên cơ sở trình tự tiếp nhận hồ sơ tại Điều 6 Thông tư 46/2019/TT-BCA.
4. Không có luật sư, biên bản hỏi cung có còn giá trị pháp lý không?
Biên bản hỏi cung không có luật sư tham gia (đối với bị can đã thành niên và không thuộc trường hợp bắt buộc chỉ định người bào chữa) về nguyên tắc vẫn có giá trị nếu được lập đúng trình tự, thủ tục theo Điều 178 và Điều 183 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Tuy nhiên, việc thiếu luật sư giám sát làm giảm khả năng phát hiện và khiếu nại kịp thời nếu có vi phạm xảy ra trong quá trình hỏi cung.
5. Bị can dưới 18 tuổi không có người bào chữa thì cơ quan điều tra xử lý thế nào?
Theo Điều 422 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, nếu người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện của họ không mời người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Theo Điều 5 Thông tư 46/2019/TT-BCA, Cơ quan điều tra, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam có trách nhiệm thực hiện các thủ tục thông báo, giải thích quyền nhờ người bào chữa theo Điều 3, Điều 4 Thông tư 46/2019/TT-BCA để bảo đảm bị can dưới 18 tuổi luôn có người bào chữa khi bị hỏi cung.
6. Dữ liệu ghi âm, ghi hình khi hỏi cung được sử dụng vào mục đích gì và luật sư giám sát ra sao?
Theo khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP, trong giai đoạn điều tra, dữ liệu ghi âm, ghi hình được sử dụng để phục vụ công tác điều tra khi bị can thay đổi lời khai và để kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, cán bộ điều tra trong quá trình hỏi cung. Theo khoản 1 Điều 4 của Thông tư liên tịch này, mọi hành vi tự ý chỉnh sửa, cắt ghép hoặc sử dụng dữ liệu ngoài mục đích luật định đều bị nghiêm cấm, đây là căn cứ để luật sư đối chiếu, phát hiện sai lệch nếu có giữa biên bản và dữ liệu ghi âm, ghi hình.
7. Phát hiện dấu hiệu ép cung, mớm cung trong buổi hỏi cung thì khiếu nại như thế nào?
Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày biết được hành vi vi phạm, theo Điều 471 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Đối với hành vi của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có trách nhiệm giải quyết trong 07 ngày theo khoản 1 Điều 475 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; nếu không đồng ý, người khiếu nại có quyền khiếu nại tiếp lên Viện kiểm sát cùng cấp.
Kết luận
Luật sư tham gia hỏi cung bị can là một trong những biện pháp bảo đảm quan trọng nhất cho quyền bào chữa của bị can ngay từ giai đoạn điều tra, giúp giám sát tính hợp pháp của quá trình hỏi cung và hạn chế rủi ro bức cung, mớm cung. Việc chủ động mời luật sư ngay khi có quyết định khởi tố bị can, nắm rõ thủ tục đăng ký bào chữa theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Thông tư 46/2019/TT-BCA, cũng như thời hạn khiếu nại, là những yếu tố quyết định đến hiệu quả bảo vệ quyền lợi trong suốt quá trình tố tụng. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ bị can và gia đình chuẩn bị hồ sơ, tham gia hỏi cung và xử lý các vi phạm nếu phát sinh. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
- Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP
- Thông tư 46/2019/TT-BCA
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Đăng ký bào chữa, điều tra vụ án hình sự, ghi âm ghi hình khi hỏi cung, hỏi cung bị can, hỏi cung bị can dưới 18 tuổi, khiếu nại hành vi tố tụng, Luật sư bào chữa hình sự, người bào chữa trong vụ án hình sự, quyền của bị can bị cáo, quyền của luật sư trong tố tụng hình sự, thủ tục đăng ký bào chữa

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.