Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình phát sinh khi các thành viên không thống nhất về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Pháp luật đất đai và pháp luật dân sự quy định cơ chế xác định quyền sở hữu, nguyên tắc phân chia, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, , đặt ra yêu cầu áp dụng thống nhất các quy định pháp luật hiện hành trong thực tiễn giải quyết. Luật Long Phan PMT phân tích căn cứ pháp lý, các dạng tranh chấp phổ biến, hướng xử lý và chứng cứ cần thiết trong bài viết dưới đây.

Căn cứ xác định chủ thể có quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình
Nhà ở chung của hộ gia đình được xác định là sở hữu chung hợp nhất, trong đó phần quyền của từng thành viên không được xác định trước, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Chính đặc điểm này làm cho tranh chấp sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình có tính phức tạp, đòi hỏi việc áp dụng đồng thời Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành trong từng giai đoạn pháp lý cụ thể.
Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình trước hết xoay quanh việc xác định ai là chủ thể có quyền sở hữu hợp pháp. Pháp luật không mặc nhiên công nhận mọi cá nhân có tên trong sổ hộ khẩu cũ hoặc thông tin đăng ký cư trú là đồng chủ sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình. Việc xác định quyền sở hữu phải dựa trên các căn cứ pháp lý cụ thể theo Bộ luật Dân sự và luật đất đai.
Theo khoản 25 Điều 3 Luật Đất Đai 2024, một cá nhân được xác định là thành viên hộ gia đình có quyền sở hữu nhà ở chung khi đồng thời đáp ứng các điều kiện:
- Có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng hợp pháp;
- Cùng sinh sống tại thời điểm hình thành quyền sử dụng đất hoặc nhà ở;
- Có đóng góp công sức, tài sản, hoặc được xác lập quyền theo quy định pháp luật.
Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp cho thấy sổ hộ khẩu hoặc tài liệu đăng ký cư trú chỉ là chứng cứ tham khảo, không phải căn cứ duy nhất xác lập quyền sở hữu. Tòa án xem xét tổng hợp các yếu tố: thời điểm hình thành nhà ở, nguồn gốc tạo lập, công sức đóng góp của từng thành viên, quá trình quản lý và sử dụng thực tế. Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình thường phức tạp do thiếu văn bản thỏa thuận rõ ràng giữa các thành viên.
Căn cứ theo Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung bao gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập và các tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định pháp luật. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình phải dựa trên thỏa thuận, đặc biệt đối với bất động sản thì cần sự đồng ý của tất cả thành viên gia đình là người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Các dạng tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình thường gặp
Tranh chấp sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình phát sinh dưới nhiều hình thức khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong quan hệ gia đình và nguồn gốc tài sản. Việc phân loại tranh chấp giúp xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và phương thức giải quyết phù hợp. Thực tiễn tố tụng ghi nhận các nhóm tranh chấp điển hình liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng nhà ở chung.
Tranh chấp xác định ai là đồng chủ sở hữu
Dạng tranh chấp này phát sinh khi một thành viên cho rằng mình có quyền sở hữu nhà ở chung nhưng không được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Tranh chấp thường xảy ra giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, hoặc giữa các thành viên cùng huyết thống khi có sự thay đổi về nhân khẩu hộ gia đình. Nguyên nhân chủ yếu do quá trình cấp Giấy chứng nhận không ghi nhận đầy đủ các đồng chủ sở hữu theo quy định pháp luật đất đai. Việc giải quyết đòi hỏi xem xét thời điểm hình thành tài sản, nguồn gốc tạo lập và đóng góp thực tế của từng người.
CSPL: Điều 101, Điều 102 Bộ luật Dân sự 2015,
Tranh chấp về phạm vi quyền định đoạt
Trong nhiều trường hợp, một thành viên hộ gia đình tự ý bán, tặng cho hoặc thế chấp nhà ở chung mà không có sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu. Theo Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định liên quan của luật đất đai, giao dịch định đoạt bất động sản chung của hộ gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nếu thiếu sự thỏa thuận hợp lệ có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần.
CSPL: Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015.
Tranh chấp chia nhà ở chung của hộ gia đình
Tranh chấp chia tài sản chung thường phát sinh khi tách hộ, ly hôn, thừa kế hoặc chấm dứt việc cùng quản lý, sử dụng nhà ở. Tranh chấp này liên quan trực tiếp đến việc xác định phần quyền của từng thành viên trong khối tài sản chung hợp nhất. Sở hữu chung của hộ gia đình là sở hữu chung hợp nhất, không xác định sẵn phần quyền của từng thành viên, trừ khi có thỏa thuận khác. Do đó, tòa án sẽ xem xét công sức đóng góp, hoàn cảnh của các bên và quá trình sử dụng thực tế để đưa ra phương án giải quyết.
CSPL: Điều 219 Bộ luật Dân sự 2015.
Tranh chấp quản lý, sử dụng nhà ở chung
Đây là dạng tranh chấp liên quan đến quyền ở, quyền cho thuê, quyền sửa chữa, cải tạo nhà ở chung, cũng như việc phân chia lợi ích và chi phí phát sinh từ tài sản chung. Tranh chấp thường phát sinh khi các thành viên tranh chấp tiền thuê nhà, chi phí bảo trì hoặc không thống nhất về cách thức khai thác giá trị sử dụng của nhà ở chung. Dạng tranh chấp này đòi hỏi các bên thỏa thuận về phương thức quản lý, phân chia lợi ích và nghĩa vụ tài chính.
CSPL: Điều 216, Điều 217 Bộ luật Dân sự 2015.
>> Xem thêm: Tranh chấp thừa kế tài sản nhà đất thuộc sở hữu chung
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình
Việc giải quyết tranh chấp sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình phải tuân thủ các nguyên tắc pháp lý thống nhất, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên. Các nguyên tắc này được hình thành từ Bộ luật Dân sự, Luật đất đai và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao.
Nguyên tắc xác định quyền sở hữu
Tòa án xem xét thời điểm hình thành nhà ở, nguồn gốc tạo lập, công sức đóng góp của từng thành viên và ý chí thỏa thuận (nếu có). Quá trình quản lý, sử dụng thực tế tài sản cũng là căn cứ quan trọng để xác định quyền sở hữu trong tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình.
Tòa án thu thập chứng cứ về nguồn gốc đất, quá trình xây dựng nhà, người trực tiếp quản lý sử dụng qua các thời kỳ. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ xác định thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp sổ.
Nguyên tắc định đoạt tài sản chung
Việc định đoạt nhà ở chung phải có sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015. Giao dịch vi phạm điều kiện này có thể bị tuyên vô hiệu theo quy định tại Điều 122, Điều 126, Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời phát sinh nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường theo pháp luật.
Nguyên tắc chia tài sản chung
Theo Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật ưu tiên sự thỏa thuận giữa các thành viên hộ gia đình. Trường hợp không đạt được thỏa thuận, Tòa án sẽ chia theo công sức đóng góp của từng thành viên, có thể chia bằng hiện vật hoặc bằng giá trị. Tòa án đảm bảo quyền lợi người yếu thế gồm người già, trẻ em, người đang sinh sống ổn định. Việc định giá tài sản tranh chấp thực hiện theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật về giá.
>>> Xem thêm: Tài sản đồng sở hữu từ nhận thừa kế được định đoạt như thế nào?
Thẩm quyền và thời hiệu giải quyết tranh chấp đồng sở hữu nhà ở của hộ gia đình
Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự. Việc xác định đúng thẩm quyền có ý nghĩa quyết định đối với tiến độ và hiệu quả giải quyết tranh chấp.
Thẩm quyền của Tòa án
Đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, được xác định là tranh chấp dân sự dù trong quá trình giải quyết có thể phát sinh yêu cầu liên quan đến quyết định hành chính cá biệt.
Trong trường hợp tranh chấp có kèm theo yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết trong cùng vụ án dân sự. Việc xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận được thực hiện như một nội dung của quan hệ tranh chấp dân sự, không làm thay đổi bản chất vụ việc sang vụ án hành chính. Cơ quan đăng ký đất đai hoặc cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận có thể được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để phục vụ việc thu thập, đánh giá chứng cứ.
Sau ngày 01/7/2025, vụ án dân sự có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khu vực theo thủ tục tố tụng dân sự, không chuyển sang thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục hành chính. Việc xác định đúng thẩm quyền ngay từ đầu có ý nghĩa quyết định đối với tính hợp lệ của việc thụ lý và tiến độ giải quyết vụ án.
Về thẩm quyền theo lãnh thổ, Tòa án nơi có nhà ở, đất ở tranh chấp là cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo nguyên tắc chung đối với tranh chấp về bất động sản.
Thời hiệu khởi kiện
Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, tranh chấp về quyền sử dụng đất mà cụ thể ở đây là tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Chủ thể có quyền sở hữu hợp pháp có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình vào bất kỳ thời điểm nào khi quyền đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp phát sinh. Quy định này bảo đảm nguyên tắc bảo hộ tuyệt đối quyền sở hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Tuy nhiên, trong trường hợp tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình phát sinh từ hợp đồng hoặc gắn liền với hợp đồng, ví dụ như hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, thuê nhà ở chung… thì thời hiệu khởi kiện được áp dụng theo từng loại tranh chấp hợp đồng cụ thể.
> Xem thêm: Tư vấn giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở đúng luật.

Chứng cứ quan trọng trong giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình
Giải quyết tranh chấp sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình đòi hỏi hệ thống chứng cứ đầy đủ, hợp pháp và có giá trị chứng minh cao. Việc thu thập, đánh giá chứng cứ quyết định đến kết quả giải quyết vụ án.
Các chứng cứ thường được Tòa án xem xét bao gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở;
- Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận;
- Chứng từ mua bán, xây dựng, sửa chữa;
- Lời khai nhân chứng;
- Sổ hộ khẩu, giấy tờ nhân thân chứng minh đăng ký cư trú, quản lý, sử dụng tài sản tranh chấp
- Tài liệu thể hiện nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng thực tế;
- Hiện trạng thực tế nhà đất và các tài liệu khác cc liên quan tùy từng tình huống cụ thể.
Cơ sở pháp lý: 93,94,95 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015
Hướng xử lý và khuyến nghị thực tiễn khi giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình
Việc giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình cần bắt đầu bằng việc rà soát nguồn gốc pháp lý của nhà ở và quyền sử dụng đất, xác định thời điểm hình thành tài sản, căn cứ Nhà nước giao đất, công nhận quyền hoặc chuyển quyền theo luật đất đai từng thời kỳ. Đây là cơ sở để áp dụng đúng quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu.
Tiếp theo, cần xác định chính xác danh sách đồng chủ sở hữu hợp pháp, không chỉ dựa vào sổ hộ khẩu hoặc thông tin cư trú, mà phải căn cứ vào quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, thời điểm cùng sinh sống và công sức đóng góp của từng người. Việc nhầm lẫn giữa tư cách thành viên hộ gia đình và đồng chủ sở hữu là nguyên nhân phổ biến dẫn đến tranh chấp.
Đối với vụ việc phức tạp, Quý khách hàng nên thu thập đầy đủ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, đồng thời thực hiện định giá nhà ở và quyền sử dụng đất để làm căn cứ chia tài sản chung. Trên cơ sở đó, cần xây dựng chiến lược tố tụng phù hợp, xác định đúng yêu cầu khởi kiện và phương án bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Dịch vụ luật sư tư vấn, nhận ủy quyền giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình
Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên sâu về giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình nhằm giúp khách hàng tìm ra hướng giải quyết phù hợp nhất, Đội ngũ chuyên gia pháp lý của công ty sẽ hỗ trợ khách hàng các công việc sau:
- Tư vấn xác định chủ thể có quyền sở hữu nhà ở chung
- Rà soát hồ sơ pháp lý nhà ở, quyền sử dụng đất của hộ gia đình
- Thu thập, đánh giá và hệ thống hóa chứng cứ
- Đại diện làm việc với Tòa án nhân dân và cơ quan có thẩm quyền
- Soạn thảo đơn khởi kiện, bản tự khai, văn bản tố tụng
- Tham gia tranh tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng
>> Xem thêm: Giải quyết tranh chấp đất đai giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức
Các câu hỏi thường gặp liên quan đến giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình
Dưới đây là tổng hợp các câu hỏi thường gặp trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình, nhằm làm rõ cách áp dụng pháp luật dân sự và luật đất đai trong thực tiễn.
Thành viên có tên trong Sổ hộ khẩu nhưng không có tên trong Sổ hồng hộ gia đình có quyền tranh chấp không?
Việc có tên trong Sổ hộ khẩu chỉ xác nhận nơi cư trú hợp pháp, không mặc nhiên xác lập quyền sở hữu tài sản. Quyền sở hữu đối với đất cấp cho “Hộ gia đình” được xác định dựa trên các thành viên có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất (thời điểm cấp Sổ) theo quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai 2024. Do đó, nếu chỉ có tên trong hộ khẩu mà không thỏa mãn các điều kiện trên tại thời điểm cấp, người đó không có quyền tranh chấp.
Người con sinh ra sau thời điểm cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình có được chia quyền sở hữu không?
Không. Quyền sử dụng đất của hộ gia đình được xác lập cho các thành viên đáp ứng đủ điều kiện tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận. Những thành viên sinh ra sau thời điểm này không có quyền sở hữu chung đối với tài sản đó, trừ khi được các thành viên cũ tặng cho, thừa kế hoặc có thỏa thuận xác lập quyền sở hữu chung bằng văn bản sau này.
Cơ sở pháp lý: khoản 25 Điều 3, Điều 259 Luật Đất đai 2024.
Chủ hộ có được tự ý thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình để vay vốn ngân hàng không?
Không. Việc định đoạt tài sản chung (bao gồm chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp) của hộ gia đình phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thành viên có tên trong Giấy chứng nhận hoặc thành viên được xác định là đồng sở hữu. Văn bản đồng ý này phải được công chứng hoặc chứng thực. Chủ hộ chỉ được thực hiện giao dịch nếu có văn bản ủy quyền hợp pháp từ tất cả các thành viên còn lại.
CSPL: Điều 27 Luật Đất đai 2024.
Quy trình xử lý khi một thành viên hộ gia đình đang ở nước ngoài và không thể về ký tên chuyển nhượng?
Trong trường hợp một thành viên vắng mặt (ở nước ngoài), để thực hiện giao dịch chuyển nhượng, thành viên đó cần lập Hợp đồng ủy quyền cho người ở Việt Nam thay mặt mình thực hiện các quyền định đoạt. Hợp đồng ủy quyền này phải được chứng thực tại Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại nước sở tại, sau đó hợp pháp hóa lãnh sự và dịch thuật công chứng tại Việt Nam để có giá trị pháp lý.
CSPL: Điều 138 Bộ Luật Dân sự 2015, Điều 8 Luật Cơ quan Đại diện nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Luật Công chứng 2024, Điều 9 Nghị định 111/2011/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP
Con dâu hoặc con rể sống chung lâu năm với nhà chồng/vợ có quyền đối với đất cấp cho hộ gia đình không?
Quyền lợi của con dâu/con rể phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản và thời điểm nhập hộ. Nếu đất đã được cấp cho hộ gia đình trước khi con dâu/con rể về làm dâu/rể, thì tài sản đó là tài sản chung của hộ gia đình gốc, con dâu/con rể không có quyền sở hữu. Tuy nhiên, nếu trong quá trình sinh sống, họ có công sức đóng góp (xây nhà, cải tạo đất, mở rộng diện tích) thì khi có tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét công sức đóng góp đó để giải quyết quyền lợi tương ứng với giá trị làm tăng thêm của tài sản.
CSPL: Khoản 25 Điều 4 Luật Đất đai 2024, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Thành viên chưa thành niên (dưới 18 tuổi) trong hộ gia đình thực hiện quyền định đoạt như thế nào?
Đối với thành viên chưa thành niên, quyền định đoạt tài sản sẽ do người giám hộ (thông thường là cha mẹ) đại diện thực hiện vì lợi ích của người chưa thành niên đó. Việc bán, chuyển nhượng phần quyền sở hữu của người chưa thành niên cần có sự giám sát chặt chẽ: cha mẹ phải chứng minh giao dịch đó nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu hoặc lợi ích của con.
CSPL: Điều 59; Khoản 1 Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015.
Nếu một thành viên trong hộ gia đình mất năng lực hành vi dân sự thì giải quyết tranh chấp ra sao?
Khi một thành viên bị mất năng lực hành vi dân sự (ví dụ: bị bệnh tâm thần, không làm chủ được nhận thức), cần phải có Tuyên bố của Tòa án về việc mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định người giám hộ. Người giám hộ sẽ thay mặt thành viên đó tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp, hòa giải hoặc tố tụng tại Tòa án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người được giám hộ.
CSPL: Điều 22, Điều 46, Điều 47, Điều 53, Điều 54 Bộ Luật Dân sự 2015.
Kết luận
Như vậy ,để giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà ở chung của hộ gia đình đòi hỏi cách tiếp cận pháp lý chính xác, dựa trên luật đất đai và pháp luật dân sự, cùng kinh nghiệm thực tiễn tố tụng. Trước hết, Quý khách hàng nên ưu tiên biện pháp thương lượng – hòa giải giữa các thành viên trong hộ gia đình với nhau. Nếu không có tiếng nói chung, việc khởi kiện đến Tòa án là biện pháp bắt buộc, khi đó Quý khách cần xác định đúng yêu cầu khởi kiện, Tòa án có thẩm quyền và chuẩn bị cho mình một bộ hồ sơ khởi kiện đầy đủ. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và hạn chế rủi ro pháp lý, Quý khách hàng nên chủ động tham vấn luật sư chuyên sâu. Luật sư nhà đẩt sẵn sàng hỗ trợ qua hotline 1900636387, với dịch vụ tư vấn, đại diện tố tụng và bảo vệ quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo đúng quy định pháp luật, bảo đảm giải pháp phù hợp với từng vụ việc cụ thể.
Tags: Giải quyết tranh chấp nhà đất tại Tòa án, Luật sư nhà đất, nhà đồng sở hữu, Quyền định đoạt tài sản chung, Quyền Sở Hữu Nhà Ở, Sở hữu chung của hộ gia đình, Tranh chấp đất đai hộ gia đình, tranh chấp nhà đồng sở hữu, Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.