
Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Thời hạn tạm giam và cả thời hạn gia hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo chưa thành niên không quá một phần hai mức tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự, ngày lẻ làm tròn xuống, theo khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể bị tạm giam về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, theo khoản 1, khoản 2 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.
- Tạm giam sau khi tuyên án là ngoại lệ không bị chia đôi, thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo điểm a khoản 8 Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.
- Người chưa thành niên bị buộc tội bắt buộc phải có người bào chữa, theo khoản 1 Điều 14 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.
Thời hạn tạm giam người chưa đủ 18 tuổi từ 2026 được tính theo nguyên tắc nào?
Cách tính là lấy thời hạn tạm giam tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 rồi chia đôi, áp dụng cho thời hạn ban đầu và từng lần gia hạn. Mỗi giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử được tính độc lập. Tạm giam chỉ được dùng khi biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Theo Điều 2 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), luật này được áp dụng cùng Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 khi xử lý người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi, và Bộ luật chỉ được áp dụng ở phần không trái với luật chuyên ngành.Tỷ lệ 1/2 thay cho tỷ lệ 2/3 trước đây
Trước ngày 01/01/2026, khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn tạm giam người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba người thành niên. Khoản 5 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 rút xuống không quá một phần hai. Khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP làm rõ tỷ lệ này áp dụng cho cả thời hạn gia hạn; số lẻ nửa ngày được làm tròn xuống, ví dụ 33 ngày quy đổi thành 16 ngày.Thời hạn tạm giam được tính độc lập theo từng giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn tạm giam riêng tại Điều 173 (điều tra), Điều 241 (truy tố), Điều 278 (sơ thẩm) và Điều 347 (phúc thẩm). Mỗi mốc này đều được chia đôi riêng khi áp dụng khoản 5 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024. Khoản 1 Điều 129 Luật này cũng rút thời hạn điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử xuống một nửa, nên thời hạn tạm giam thực tế thường ngắn hơn mức trần.Tạm giam chỉ là biện pháp cuối cùng khi biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả
Khoản 2 Điều 15 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 chỉ cho phép tạm giam khi biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả, và buộc cơ quan tố tụng thường xuyên rà soát để kịp thời hủy bỏ, thay thế. Trên thực tế, đơn đề nghị có lập luận của người bào chữa là cách hiệu quả nhất để thúc đẩy việc rà soát.Người chưa đủ 18 tuổi bị tạm giam trong những trường hợp nào?
Người chưa thành niên chỉ có thể bị tạm giam khi vừa thuộc nhóm tội luật cho phép, vừa có một căn cứ cụ thể. Ranh giới khác nhau giữa nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Không đủ điều kiện thì không đặt ra câu hỏi về thời hạn. Loại tội xác định theo mức cao nhất của khung hình phạt tại Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017): đến 03 năm tù là ít nghiêm trọng, đến 07 năm là nghiêm trọng, đến 15 năm là rất nghiêm trọng, trên 15 năm là đặc biệt nghiêm trọng.| Độ tuổi | Loại tội | Căn cứ để tạm giam | Cơ sở pháp lý |
| Đủ 14 đến dưới 16 | Đặc biệt nghiêm trọng | Vi phạm biện pháp ngăn chặn khác; không có nơi cư trú rõ ràng; bỏ trốn bị truy nã; tiếp tục phạm tội hoặc chuẩn bị điều kiện để phạm tội tiếp; tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng, bị hại | Khoản 1 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 |
| Đủ 14 đến dưới 16 | Rất nghiêm trọng | Như trên, nhưng chỉ khi đã “tiếp tục phạm tội” | Khoản 2 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 |
| Đủ 14 đến dưới 16 | Ít nghiêm trọng, nghiêm trọng | Không bị tạm giam | Khoản 1, 2 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 |
| Đủ 16 đến dưới 18 | Nghiêm trọng do cố ý, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng | Thêm căn cứ “sẽ bỏ trốn” và hành vi mua chuộc, cưỡng ép người khác khai gian dối | Khoản 3 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 |
| Đủ 16 đến dưới 18 | Nghiêm trọng do vô ý, ít nghiêm trọng | Chỉ khi tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn bị truy nã | Khoản 4 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 |
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: chỉ với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng
Nhóm tuổi này không bị tạm giam về tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Một chi tiết thường bị bỏ sót: khoản 1 và khoản 2 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 không có căn cứ “có căn cứ xác định sẽ bỏ trốn”. Với người dưới 16 tuổi, chỉ việc đã bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã mới là căn cứ tạm giam.Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: tội nghiêm trọng do cố ý, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng
Khoản 3 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 liệt kê năm căn cứ tại điểm a đến điểm đ. Đủ loại tội chưa phải là đủ điều kiện: lệnh tạm giam phải nêu rõ căn cứ thuộc điểm nào.Ngoại lệ: tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng do vô ý chỉ bị tạm giam khi tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn bị truy nã
Theo khoản 4 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc tội ít nghiêm trọng chỉ có thể bị tạm giam trong hai tình huống trên. Ngoài ra, cơ quan tố tụng không có căn cứ tạm giam. Nếu con bị khởi tố về tội ít nghiêm trọng hoặc tội vô ý mà vẫn bị tạm giam, hãy kiểm tra lệnh tạm giam có ghi căn cứ “tiếp tục phạm tội” hay “bỏ trốn bị truy nã” không. Nếu không có, đây là cơ sở mạnh để đề nghị hủy bỏ biện pháp tạm giam ngay.Bảng thời hạn tạm giam để điều tra đối với người chưa đủ 18 tuổi
Thời hạn tạm giam người chưa đủ 18 tuổi để điều tra ban đầu là 01 tháng (ít nghiêm trọng), 01 tháng 15 ngày (nghiêm trọng) và 02 tháng (rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng). Mỗi lần gia hạn cũng chỉ bằng một nửa. Đây là giai đoạn kéo dài nhất. Bảng quy đổi theo khoản 1, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP:| Loại tội | Người thành niên: ban đầu / gia hạn / tổng | Người chưa đủ 18 tuổi: ban đầu / gia hạn / tổng |
| Ít nghiêm trọng | 02 tháng / 01 lần, ≤ 01 tháng / 03 tháng | 01 tháng / 01 lần, ≤ 15 ngày / 01 tháng 15 ngày |
| Nghiêm trọng | 03 tháng / 01 lần, ≤ 02 tháng / 05 tháng | 01 tháng 15 ngày / 01 lần, ≤ 01 tháng / 02 tháng 15 ngày |
| Rất nghiêm trọng | 04 tháng / 01 lần, ≤ 03 tháng / 07 tháng | 02 tháng / 01 lần, ≤ 01 tháng 15 ngày / 03 tháng 15 ngày |
| Đặc biệt nghiêm trọng | 04 tháng / 02 lần, mỗi lần ≤ 04 tháng / 12 tháng | 02 tháng / 02 lần, mỗi lần ≤ 02 tháng / 06 tháng |
Thời hạn tạm giam ban đầu theo loại tội phạm
Thời hạn tính từ ngày bị can bị bắt hoặc bị tạm giam, không tính từ ngày khởi tố vụ án. Thời gian đã bị tạm giữ trước đó được trừ vào thời hạn tạm giam theo khoản 7 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.Thời hạn gia hạn tạm giam và số lần gia hạn
Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cho phép gia hạn một lần với ba loại tội đầu và hai lần với tội đặc biệt nghiêm trọng. Số lần giữ nguyên, nhưng mỗi lần chỉ bằng một nửa, kể cả gia hạn đặc biệt thuộc thẩm quyền Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.Tổng thời hạn tạm giam tối đa trong giai đoạn điều tra
Tổng mức trần là 01 tháng 15 ngày, 02 tháng 15 ngày, 03 tháng 15 ngày và 06 tháng tương ứng bốn loại tội, chưa kể gia hạn đặc biệt. Đây là mức trần chứ không phải mức đương nhiên: khi thời hạn điều tra còn lại ngắn hơn, thời hạn tạm giam bị giới hạn theo thời hạn còn lại đó, như ví dụ tại khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP. Nếu chưa chắc con thuộc mốc nào, hãy gửi lệnh tạm giam và quyết định khởi tố bị can qua Zalo để luật sư tính ngày hết hạn chính xác.
Thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố và xét xử
Sau điều tra, thời hạn tạm giam người chưa đủ 18 tuổi tiếp tục bị giới hạn ở mức một nửa trong giai đoạn truy tố, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Riêng tạm giam sau khi tuyên án sơ thẩm giữ mức không quá 45 ngày. Mỗi giai đoạn phải có lệnh tạm giam riêng. Ở cả ba giai đoạn, thời hạn tạm giam không vượt thời hạn quyết định truy tố hoặc chuẩn bị xét xử, vốn đã bị rút một nửa theo khoản 1 Điều 129 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.Tạm giam để quyết định việc truy tố
Khoản 1 Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 giới hạn thời hạn tạm giam để truy tố trong thời hạn quyết định truy tố tại Điều 240. Quy đổi cho người chưa thành niên:- Tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng: không quá 10 ngày; gia hạn không quá 05 ngày.
- Tội rất nghiêm trọng: không quá 15 ngày; gia hạn không quá 07 ngày.
- Tội đặc biệt nghiêm trọng: không quá 15 ngày; gia hạn không quá 15 ngày.
Tạm giam để chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
Khoản 2 Điều 278 và khoản 2 Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 giới hạn thời hạn tạm giam trong thời hạn chuẩn bị xét xử tại Điều 277 và Điều 346. Sau khi chia đôi:- Sơ thẩm: không quá 15 ngày (ít nghiêm trọng), 22 ngày (nghiêm trọng, đúng ví dụ tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch 12/2025), 01 tháng (rất nghiêm trọng), 01 tháng 15 ngày (đặc biệt nghiêm trọng).
- Phúc thẩm: không quá 30 ngày hoặc 45 ngày, tùy cấp Tòa phúc thẩm có thời hạn chuẩn bị xét xử 60 ngày hay 90 ngày theo Điều 346 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tạm giam sau khi tuyên án sơ thẩm
Bị cáo chưa thành niên bị xử phạt tù có thể bị tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành án không quá 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo điểm a khoản 8 Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024. Nếu thời gian đã bị giam bằng hoặc vượt mức án, nên đề nghị trả tự do ngay tại phiên tòa.Trường hợp ngoại lệ không áp dụng tỷ lệ 1/2
Chỉ hai nhóm không áp dụng nguyên tắc chia đôi về thời hạn tạm giam người chưa đủ 18 tuổi: tạm giam sau khi tuyên án theo khoản 8 Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 và vụ án thụ lý trước ngày 01/01/2026. Vụ án đặc biệt phức tạp không thuộc ngoại lệ. Đây là phần phát sinh nhiều tranh luận nhất, vì cơ quan tố tụng và gia đình thường hiểu khác nhau về mốc áp dụng. Phân biệt đúng giúp gia đình biết mình có cơ sở khiếu nại hay không.Vụ án thuộc khoản 8 Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024
Khoản 5 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 chỉ loại trừ đích danh khoản 8 Điều 151, tức tạm giam sau khi tuyên án. Cần phân biệt với vụ án “có tính chất đặc biệt phức tạp”: điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP cho phép thời hạn tố tụng áp dụng đủ theo Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng khoản 2 Điều 7 Thông tư này vẫn giữ giới hạn một phần hai đối với thời hạn tạm giam. Khi quyết định gia hạn tạm giam viện dẫn lý do “vụ án đặc biệt phức tạp” với thời hạn bằng người thành niên, hãy yêu cầu người bào chữa kiểm tra ngay. Lý do phức tạp chỉ kéo dài thời hạn tố tụng, không phải căn cứ để vượt mức tạm giam một phần hai.Người đang bị tạm giam trước ngày 01/01/2026 được xử lý chuyển tiếp thế nào
Theo điểm a khoản 1 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 và Công văn 92/TANDTC-PC ngày 12/02/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thụ lý trước ngày 01/01/2026 tiếp tục áp dụng thời hạn tạm giam theo Bộ luật Tố tụng hình sự; Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 khẳng định thêm điểm này. Tuy nhiên, nếu theo Điều 138 Luật này người đó không thuộc diện bị tạm giam, Tòa án phải hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam. Vụ án thụ lý sau ngày 01/01/2026 mà thời hạn tạm giam đã hết thì việc tạm giam tiếp theo phải tính theo Điều 138. Với vụ án kéo dài từ năm 2025, hãy xác định chính xác ngày Tòa án thụ lý. Nếu con không thuộc nhóm tội và căn cứ tạm giam tại Điều 138, gia đình vẫn có cơ sở đề nghị hủy bỏ tạm giam dù vụ án thụ lý theo luật cũ.Khi nào người chưa đủ 18 tuổi phải được hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam?
Tạm giam phải được hủy bỏ hoặc thay thế khi hết hạn mà không có quyết định gia hạn hợp lệ, khi không còn căn cứ, hoặc khi có thông báo xử lý chuyển hướng mà việc giam không còn cần thiết, theo khoản 5 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024. Gia đình có thể dùng danh sách dưới đây để tự rà soát hồ sơ trước khi làm việc với luật sư. Dấu hiệu tạm giam có thể trái luật cần kiểm tra ngay:- Người dưới 16 tuổi bị tạm giam về tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng.
- Người từ đủ 16 tuổi bị tạm giam về tội ít nghiêm trọng, tội vô ý mà lệnh không nêu căn cứ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn bị truy nã.
- Thời hạn ghi trong lệnh tạm giam hoặc quyết định gia hạn bằng mức của người thành niên.
- Đã hết hạn ghi trong lệnh nhưng chưa có quyết định gia hạn hoặc lệnh tạm giam của giai đoạn mới.
- Đã có thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng nhưng không có văn bản xem xét lại biện pháp tạm giam.
Hết thời hạn tạm giam mà không có quyết định gia hạn hợp lệ
Quá thời hạn ghi trong lệnh mà không có quyết định gia hạn của Viện kiểm sát hoặc lệnh tạm giam mới cho giai đoạn tiếp theo thì việc giam giữ không còn cơ sở pháp lý, gia đình có quyền khiếu nại ngay.Không còn căn cứ tạm giam hoặc có thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng
Khoản 6 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 buộc cơ quan tố tụng xem xét lại tạm giam khi có thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng. Cơ quan điều tra phải ra thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục này trong 15 ngày kể từ khi nhận báo cáo điều tra xã hội, theo khoản 1 Điều 55 Luật này. Thời điểm có thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng là lúc thuận lợi để đề nghị cho con về nhà. Gia đình nên chuẩn bị sẵn cam kết giám sát, xác nhận nơi cư trú và tình hình học tập để nộp kèm đơn.Các biện pháp thay thế: giám sát bởi người đại diện, bảo lĩnh, giám sát điện tử
Các biện pháp thay thế khả thi hiện nay là giám sát bởi người đại diện (Điều 140 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024) và bảo lĩnh (Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Giám sát điện tử tại Điều 139 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 chỉ có hiệu lực từ ngày 01/01/2028.Gia đình cần làm gì khi con dưới 18 tuổi bị tạm giam?
Gia đình cần xác định ngay ngày bắt đầu tạm giam và loại tội bị khởi tố để tự tính thời hạn tối đa, đồng thời mời luật sư từ giai đoạn điều tra. Ba việc tiếp theo là đề nghị thay thế biện pháp tạm giam, đề nghị xử lý chuyển hướng và khiếu nại kịp thời. Trình tự theo mức độ khẩn cấp:- Xác định ngày bắt, ngày ghi trong lệnh tạm giam và điều khoản bị khởi tố, đối chiếu bảng ở trên để tính ngày hết hạn.
- Mời luật sư hoặc đề nghị trợ giúp viên pháp lý tham gia ngay, vì người chưa thành niên bắt buộc có người bào chữa và được trợ giúp pháp lý miễn phí theo khoản 1, khoản 3 Điều 14 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.
- Nộp đơn đề nghị thay thế biện pháp tạm giam hoặc đề nghị xử lý chuyển hướng theo điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, nếu thuộc Điều 37 và đủ điều kiện tại Điều 39 Luật này.
- Thực hiện thăm gặp, gửi đồ dùng cho con theo Điều 22 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025 và nội quy cơ sở giam giữ.
- Khiếu nại lệnh tạm giam, quyết định gia hạn không đúng quy định trong thời hiệu 15 ngày theo Điều 471 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; khiếu nại về tạm giam do Viện kiểm sát giải quyết ngay sau khi nhận theo khoản 1 Điều 474 Bộ luật này.

Kinh nghiệm thực tế của luật sư khi xử lý vụ án tạm giam người chưa thành niên
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận từ năm 2026, phần lớn vướng mắc về thời hạn tạm giam người chưa đủ 18 tuổi không nằm ở luật mà ở việc vẫn tính theo quy định cũ. Ba tình huống dưới đây lặp lại nhiều nhất và đều xử lý được nếu phát hiện sớm. Các tình huống được mô tả khái quát để bảo mật thông tin khách hàng, phản ánh những điểm chỉ thấy rõ khi trực tiếp tham gia bào chữa. >>> Xem thêm: Hướng dẫn thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niênSai lầm thường gặp: gia đình vẫn tính thời hạn theo tỷ lệ 2/3 cũ hoặc theo thời hạn của người thành niên
Một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là đọc bài viết cũ dẫn khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 với tỷ lệ 2/3, rồi yên tâm chờ đến mốc đó trong khi mốc một nửa đã trôi qua. Cũng có hồ sơ lệnh tạm giam ghi thời hạn bằng mức người thành niên, chỉ được điều chỉnh khi người bào chữa viện dẫn Thông tư liên tịch 12/2025.Xác định sai độ tuổi hoặc sai loại tội dẫn đến tạm giam không đủ điều kiện
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, tuổi bị can đôi khi được ghi theo dữ liệu cư trú, trong khi giấy khai sinh cho thấy chưa đủ 16 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi. Điều 25 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định cách xác định tuổi khi giấy tờ mâu thuẫn, và chỉ chênh lệch vài tháng cũng có thể quyết định việc có được tạm giam hay không. Tương tự, khởi tố theo khoản nặng rồi điều chỉnh về khoản nhẹ có thể làm mất căn cứ tạm giam ban đầu.Thời điểm hiệu quả nhất để đề nghị thay thế biện pháp tạm giam
Ba thời điểm có khả năng được chấp nhận cao nhất: sau khi đã lấy xong lời khai nhân chứng chính hoặc có kết luận giám định; khi có thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng; khi hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Đơn kèm cam kết của cha mẹ, xác nhận của nhà trường và chứng cứ khắc phục hậu quả thường được xem xét nghiêm túc hơn đơn chỉ nêu hoàn cảnh.Câu hỏi thường gặp về thời hạn tạm giam người chưa đủ 18 tuổi
Phần này tổng hợp các câu hỏi gia đình thường đặt ra khi con em bị tạm giam. Mỗi câu trả lời dẫn căn cứ pháp lý cụ thể để đối chiếu. Với vụ việc có tình tiết đặc thù, kết luận có thể khác tùy hồ sơ.1. Người chưa đủ 18 tuổi bị tạm giam bao lâu?
Tối đa bằng một nửa thời hạn của người thành niên trong cùng giai đoạn, cùng loại tội, theo khoản 5 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024. Kết hợp khoản 1 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tạm giam để điều tra ban đầu từ 01 tháng đến 02 tháng. Tổng mức trần kể cả gia hạn từ 01 tháng 15 ngày đến 06 tháng.
2. Người 15 tuổi phạm tội có bị tạm giam không?
Có thể, nhưng chỉ với tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và có căn cứ cụ thể. Khoản 1, khoản 2 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 không cho phép tạm giam người dưới 16 tuổi về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng. Với tội rất nghiêm trọng, căn cứ tạm giam còn hẹp hơn.
3. Thời hạn tạm giam người chưa thành niên có được gia hạn không?
Có, nhưng mỗi lần gia hạn chỉ bằng một nửa mức của người thành niên, theo khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP. Số lần gia hạn giữ theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: một lần với ba loại tội đầu, hai lần với tội đặc biệt nghiêm trọng.
4. Tạm giam quá hạn thì gia đình khiếu nại ở đâu?
Gửi đến Viện kiểm sát đang kiểm sát vụ án. Theo khoản 1 Điều 474 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết khiếu nại về tạm giam ngay sau khi nhận được; cơ quan khác nhận đơn phải chuyển ngay cho Viện kiểm sát. Đơn nên nêu rõ ngày hết hạn, cách tính và yêu cầu trả tự do.
5. Đang bị tạm giam trước năm 2026 có được tính lại thời hạn theo luật mới không?
Vụ án thụ lý trước ngày 01/01/2026 vẫn tính thời hạn theo Bộ luật Tố tụng hình sự, theo điểm a khoản 1 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 và Công văn 92/TANDTC-PC. Tuy nhiên, người không thuộc diện bị tạm giam theo Điều 138 Luật này phải được hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam. Tạm giam mới sau ngày 01/01/2026 tính theo Điều 138.
6. Người chưa thành niên bị tạm giam có bắt buộc phải có luật sư không?
Có. Khoản 1 Điều 14 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định người chưa thành niên bị buộc tội phải có người bào chữa. Nếu gia đình không mời, cơ quan tố tụng phải bảo đảm quyền này và trợ giúp pháp lý miễn phí theo khoản 3 Điều 14 Luật này. Luật sư tham gia càng sớm, cơ hội rà soát căn cứ tạm giam càng lớn.
Kết luận
Thời hạn tạm giam người chưa đủ 18 tuổi từ năm 2026 tối đa bằng một nửa người thành niên, áp dụng cho từng giai đoạn và từng lần gia hạn, trừ tạm giam sau khi tuyên án. Gửi lệnh tạm giam cho Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 hoặc tham khảo ngay: Dịch vụ Luật sư hỗ trợ về thủ tục tố tụng hình sự để được rà soát thời hạn, căn cứ trong 24 giờ.📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024
- Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP
- Công văn 92/TANDTC-PC
- Công văn 250/TANDTC-PC
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
- Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: căn cứ tạm giam người chưa thành niên, gia hạn tạm giam người chưa thành niên, hủy bỏ biện pháp tạm giam, khiếu nại tạm giam, luật sư bào chữa người chưa thành niên, người 15 tuổi bị tạm giam, người chưa thành niên bị buộc tội, tạm giam dưới 18 tuổi, tạm giam người chưa thành niên, thay thế biện pháp tạm giam, thời hạn tạm giam 2026, tố tụng hình sự người chưa thành niên, xử lý chuyển hướng

Thưa luật sư cháu năm nay chưa đủ 18 tuổi vừa rồi cháu có chút mâu thuẫn với chị lớn hơn một tuổi ở ngoài tỉnh thành do cháu đi làm ăn xa lại gần chỗ chị khi biết chị xúc phạm danh phẩm và danh dự của cháu với gia đình cháu cháu đã có hành vi đi vào nhà và cầm kéo cắt chỉ gây thương tích cho chị phần trăm sk là 2% cho cháu hỏi là vụ án của cháu có bị khởi tố không ạ
Kính chào Hồng,
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến luatlongphan.vn. Về thắc mắc mà bạn vừa trình bày, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo Quy định về tội Cố ý gây thương tích Tại Điều 134 blhs, đối với trường hợp gây tổn thương sức khỏe dưới 11% nhưng sử dụng hung khí nguy hiểm thì vẫn có thể bị khởi tố theo khoản 1 điều này.
Trên đây là nội dung tư vấn mang tính tham khảo của chúng tôi dựa trên những thông tin mà bạn cung cấp. Trường hợp bạn muốn được tư vấn trực tiếp hoặc có khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục trên, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua hotline bên dưới.